Showing posts with label ORDINARYS. Show all posts
Showing posts with label ORDINARYS. Show all posts

Sunday, October 28, 2007

Giải Mã (Chúa Nhật XXX TNC…)

I. Có hai người lên đền thờ cầu nguyện:
Xin được tặng cho mỗi người 10 điểm, vì việc làm đạo đức hai ông đang làm. Giữa một xã hội lúc nào cũng xô bồ và tấp nập đến chóng mặt, thế mà hai ông cũng biết sắp xếp thời gian để đến được với điểm hẹn là nhà thờ, đến được với Chúa để dâng lời cầu nguyện.
Hẳn hai ông đã ý thức được một cách sâu sắc rằng: chính việc đi lễ, đi đọc kinh cầu nguyện tại nhà thờ là điều hệ trọng, bởi điều ấy, sẽ làm tăng giá trị cao cả của con người. Bởi lẽ vũ trụ này, có con vật nào biết đi lễ, đọc kinh đâu cơ chứ.
Xin được tặng tiếp cho mỗi người 10 điểm nữa. Vì cái ý thức chững chạc khi đến nhà thờ của các ông. Đến nhà thờ là vào nhà thờ ngay, không có lang thang bên ngoài như nhiều người trẻ ngày nay đang làm. Hay có khi tệ hơn, đi lễ nhưng có ý đứng ở bên ngoài, hoặc kiếm một xó xỉnh nào đó, ngồi vật vờ cho hết giờ lễ. Rồi chờ đến lúc rước lễ là đã vội vã ra về.
Và lần thứ ba, xin được tiếp tục tặng điểm cho các ông, nhưng lần này, chỏ 5 điểm thôi, bởi cung cách cầu nguyện của các ông chưa đạt lắm. Tuy nhiên, cũng tạm chấp nhận được, vì cầu nguyện trong định nghĩa là một cuộc thưa chuyện với Chúa, như đứa con tâm sự với cha mình, kể cho cha nghe những lo sầu, những vui cười, những toan tính. Nói tắt là tâm sự với cha về cả cuộc sống của mình.
Nghe giọng các ông cầu nguyện, cũng nhận thấy con mắt đức tin của các ông đã gặp được Chúa rồi.25 điểm ấy là nhận xét và đánh gía của người phàm mắt thịt. Còn về ý nghĩa đích thực, phần cốt lõi của vấn đề, thì xin dành lại cho Chúa, vị chánh chủ khảo, đối tượng cuối cùng và duy nhất của mọi cuộc cầu nguyện.
II. Chúa bật mí:
Lời cầu nguyện riêng tư của mỗi người là một bí mật. Bởi thường ra, đó là những nỗi tâm sự của mỗi người. Tâm sự thì ai muốn nói to. Chỉ nói nhỏ để cho Chúa nghe thôi. Thường thì những chuyện ấy, có bao giờ Chúa kể ra đâu, thế nhưng hôm nay, một trường hợp ngoại lệ. Chúa kể ra cho mọi người nghe.
Ta hãy chú ý lắng nghe!
Chúa điểm mặt một người là người biệt phái, một người là người thu thuế. Em biệt phái, quần chùng áo dài, nghênh ngang tiến hẳn lên gần cung thánh. Em thu thuế thì lại lụi hụi ở cuối nhà thờ.
- cho em thu thuế 10 điểm. Em biệt phái không được điểm nào.
- Em biệt phái không được điểm nào.
Không được điểm nào cũng đúng thôi, bởi vì điều hệ trọng mà lại không nhớ: Ra trước mặt Thiên Chúa, người ta bao giờ cũng phải khiêm tốn, bởi Thiên Chúa là đấng quyền phép vô cùng, là đấng Tạo Hóa, còn con người chỉ là tạo vật, được Ngài dựng nên bằng bụi đất tầm thường.
Người thu thuế được điểm, bởi ông ta biết mình là ai và Chúa là ai?
Rồi đến nội dung của cuộc cầu nguyện.
Ta nghe Chúa kể tiếp:
Người biệt phái thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, tôi không như người thu thuế kia. Một tuần tôi ăn chay hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi.
Còn người thu thuế, vừa cúi mặt vừa đấm ngực thân thưa: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con, vì con là người tội lỗi.
Là một người khách, tôi đi tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật tại một cộng đoàn hải ngoại. Chẳng riêng gì tôi mà cả nhà thờ hôm đó khoảng 5,600 người tham dự. Mọi người được nghe vị Linh Mục chủ tế nói sau Thánh lễ rằng:
“Tôi ra đi để lại cho Cộng đoàn gần 600,000 (úc Kim), cũng như đồ lễ và nhiều thứ khác... Cha nào về không phải mua sắm gì cả.
Ngồi trong xe trên đường về nhà, tôi nói với người thân của tôi rằng: Gia đình ông Cha này chắc giầu có lắm hay sao mà ông quá tốt như vậy, ông để lại cho Cộng đoàn gần 600,000. Người thân tôi trả lời: Đó là tiền của giáo dân đóng góp, chứ ông có bỏ ra đồng nào đâu.
Cho điểm thế nào được đây?
Người biệt phái không cầu nguyện mà đang khoe công với Chúa đấy chứ. Ông ta tự hào về những việc lành mình đã làm. Qua những việc làm ấy, nhất định ông ta phải là người đạo đức, không cách khác được. Trong giọng điệu ấy có cái gì như nghênh ngang, toát ra cái gì đó như một niềm tự hào. Nhưng trong thái độ ấy, nó lòi ra một sự thật, mà ông ta không muốn lộ ra, đó là, ông ta làm mọi việc, không phải là làm vì Chúa, mà là làm vì mình. Ong ta làm để lấy tiếng khen với thiên hạ, chứ có phải vì lòng đạo đức đâu. Người ta khen ông ta rồi, cho điểm ông ta rồi, cho nên giờ này ông ta không được Chúa cho điểm nào hết. Cho 0 điểm.
Còn người thu thuế được 50 điểm, bởi vì anh ta đã nhìn thấy bộ mặt thật của mình cái thực tế bẽ bàng đời mình, nên anh ta hối hận, anh ta ăn năn, và tha thiết xin Chúa tha thứ.
III. Chúa giải mã.
Tổng cộng người biệt phái chỉ được có 25 điểm, còn người thu thuế được 85 điểm, nhưng đấy chưa là điểm quan trọng. Điều quan ttrọng nhất là lời kết luận của Chúa:
- Người thu thuế ra về, và được tha hết mọi tội. Tâm hồn thành trắng trong.
- Người biệt phái ra về, và tội ác vẫn cứ còn đấy. Cái tôi nặng qúa đã đành, còn phải gánh thêm sức nặng của tội lỗi nữa, nghĩ mà thương mà tội nghiệp, cho đời của một người quá tự kiêu và tự mãn.
Linh mục Đỗ-Văm-Thiêm _ Chánh xứ Kim-Long địa phận Long-Xuyên
(trích bài từ VietCatholic News)

Chúa Nhật 30 Thường Niên (Luca 18:9-14)

Bài Đọc I: Sirach 35:12-14,16-18 II: 2 Timothy 4:6-8,16-18
Phúc Âm Luca 18:9-14
9 Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế.11 Người Pharisêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con".13 Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".
Chi Tiết Hay
Đức Giêsu giảng bài này cho một nhóm Pharisêu. Pharisêu là một hội của những người muốn sống đạo hơn bình thường. Thí dụ như luật (Levi 16:29-31) chỉ đòi ăn chay một năm một lần, nhưng họ ăn chay mỗi thứ hai và thứ năm; sách Đệ Nhị Luật (14:22-29) chỉ đòi dâng một phần mười hoa lợi nông nghiệp, nhưng họ dâng một phần mười của mọi loại thu nhập (câu 12). Tuy nhiên trong lòng họ chạy theo tiền (16:14) tham lam của cải và độc ác (11:39).
Người Pharisêu bắt đầu lời nguyện rất hay, "xin tạ ơn Chúa," giống như kinh Magnificat của Đức Mẹ (1:46-56) hay kinh "An bình ra đi" của ông Simeon (2:29-31). Nhưng chỉ được bấy nhiêu, rồi ông ta chỉ kiêu ngạo ca tụng chính mình, chê bai và lánh xa người khác vì ông ta cho tất cả là hèn kém hơn ông. Tuy nhiên ông cũng không đứng xa lắm và nói lớn đủ để mọi người nghe ông tự đắc và lên án người khác.
Có ba cấp người thu thuế: có kẻ trả cho chính quyền một số tiền để mua lấy quyền thu thuế; dưới đó là các ông quản đốc thu thuế, như Zacchaeus; rồi tới các nhân viên thu thuế theo mức đã định (tuy nhiên một số nhân viên lộng quyền thu trên số này).
Cử chỉ khoanh tay và nhìn xuống của người thu thuế là theo thông lệ khi cầu nguyện. Còn đấm ngực là cử chỉ của phái yếu (23:27); chỉ khi nào khổ não lắm mấy ông mới đấm ngực (23:48).
Chuyện trớ trêu ở chỗ là ông Pharisêu cho mình là công chính còn người thu thuế thì bất chính, nhưng kết quả ra ngược lại.
Một Điểm Chính: Chúng ta được trở nên công chính nhờ trung thành trong giao ước với Chúa và nhờ vậy được Chúa cứu độ. Không có Chúa, ta không tự trở nên công chính được.
Suy Niệm
1. Tôi làm sao để "trung thành trong giao ước với Chúa"? Tôi có làm vậy không? Cái gì giúp tôi? (Thánh lễ và kinh nguyện "Lạy Chúa Giêsu xin thương con tội lỗi", kinh sáng tối, kinh trước bữa ăn v.v... có giúp gì không?)
2. Tôi có tự mãn, tự kiêu mà không cần Chúa không? Nền văn hóa này có khyến khích tôi làm vậy không?
3. Tôi khinh thường ai? Ai là "kẻ thu thuế" đối với tôi?
---------------------------------------------------------
30th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Sirach 35:12-14,16-18 II: 2 Timothy 4:6-8,16-18
Gospel Luke 18:9-14
9 He also told this parable to some who trusted in themselves that they were righteous and despised others:10 "Two men went up into the temple to pray, one a Pharisee and the other a tax collector.11 The Pharisee stood and prayed thus with himself, 'God, I thank thee that I am not like other men, extortioners, unjust, adulterers, or even like this tax collector.12 I fast twice a week, I give tithes of all that I get.'13 But the tax collector, standing far off, would not even lift up his eyes to heaven, but beat his breast, saying, 'God, be merciful to me a sinner!'14 I tell you, this man went down to his house justified rather than the other; for every one who exalts himself will be humbled, but he who humbles himself will be exalted."
Interesting Details
(v.9) "trusted in themselves that they were righteous" is incontrast to Paul's statement in (2 Cor 1:9) "being righteous". The state of being is important for it is who you are, not who you THINK you are. The charaterization tells us at once that the audience is made up of Pharisees, even without the identification in the bible (v.10)
(v.11) The Pharisee's prayer started out beautifully, thanking God, "God, I thank you...," much like Mary's Magnificat (Lk 1:46-56) and Simeon's Canticle (Lk 2:29-31). Beyond this facade, however, it was clear that his prayer was not between him and God but praying with peripheral vision knowing well that others surrounding him and even makes reference to "this tax collector."
There were three levels of tax collectors: those who purchased the right to collect tax, collection directors like Zacchaeus, and agents who collected specific taxes at a set rate (though some exceeded the rate for their own gain).
The tax collector's posture of crossed-over arms and down-casting eyes was customary for prayer. Beating one's breast was more commonly for women (23:27); men only did it in extreme anguish (23:48).
The irony of the story is that the Pharisee considered himself righteous and the tax collector unrighteous, but the results were just the opposite.
One Main Point: Righteousness comes from being faithful to the covenant relationship with God, through which God justifies us.
Reflections
1. What does "being faithful to the covenant relationship with God" mean for me? Am I faithful to that relationship? What helps? (Consider the liturgy of the Eucharist; the Jesus prayer, "Lord, Jesus Christ, Son of the living God, have mercy on me"; prayers before meals; prayers at bed time and at dawn)
2. To what extent am I proudly self-sufficient without God? Does my culture encourage this?
3. Whom do I think I am superior to? Who is the "tax collector" in my eyes?

Sunday, October 21, 2007

Truyền giáo: Trách nhiệm của ai?

Khi nói về hai chữ TRUYỀN GIÁO, không ít người cho rằng đó là công việc và trách nhiệm dành riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ mà thôi chứ giáo dân không có… phần và cũng không có trách nhiệm gì sất! Bạn có nghĩ như vậy không?
• Khi thấy ông Hai hăng say trong những công tác truyền giáo của giáo xứ, bà Hai liền nói: “Công việc truyền giáo, rao giảng Tin Mừng là nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng, của các Đức Giám Mục, của các Linh Mục và nam nữ tu sĩ. Tôi với ông cứ đọc kinh, xem lễ cho sốt sắng, sống ngay lành, giữ đạo cho tốt là xong bổn phận rồi. Chuyện giảng dạy, mở mang nước Chúa là của các đấng các bậc… mình không nên xen vào? Không khéo lại rách việc ra đấy ông ạ!”
• Còn ông Ba thì phàn nàn với bà: “Thời buổi khó khăn, củi châu gạo quế, xăng đắt, điện tăng… mà nhà thờ cứ nay thì xin tiền cho quỹ truyền giáo, mai thì cho Project Advance của giáo phận, mốt thì lại cho quỹ của Đức Giáo Hoàng, rồi tháng tới cho quỹ ơn gọi, rồi tháng kế tiếp lại cho quỹ hưu dưỡng của địa phận, rồi bão lụt... Toàn là tiền với tiền! Thiệt là chán mớ đời…”
• Anh Tư thì càm ràm với vợ: “Việc dạy giáo lý, giảng dạy, giáo dục đức tin là của các cha, các thầy và các sơ… em là giáo dân biết gì mà tham với lại gia? Ở nhà lo chăm sóc cho chồng con, lo dạy con mình ngoan ngoãn là được rồi, mắc chi cứ phải tốn thời giờ ở ngoài nhà thờ làm chi vậy?”
Bạn đã từng có những suy nghĩ tương tự giống như bà Hai, ông Ba, và anh Tư không?
Nếu bạn đã từng có những suy nghĩ, hay có những phản ứng tương tự như bà Hai, ông Ba, và anh Tư thì tôi xin mời bạn đọc và cùng với tôi suy nghĩ về ba lời giáo huấn của Giáo Hội trong Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội (Lumen Gentium) số 33:
• Mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc lãnh nhận phép Rửa và Thêm Sức… Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội được hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh, mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian…
• Giáo dân vừa là chứng nhân, vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh của Giáo Hội… Mọi Kitô Hữu được mời gọi góp phần trực tiếp hơn và bằng nhiều cách vào công việc tông đồ của hàng giáo phẩm, giống như những tín hữu nam nữ đã chịu vất vả vì Chúa Kitô để giúp đỡ Tông Đồ Phaolô rao giảng Phúc Âm…
• Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại.
Bạn thấy đấy, Giáo Hội minh định rất rõ ràng là mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ. Như vậy công việc đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (Mk 16:5) không phải chỉ là trách vụ riêng của các đấng các bậc (như bà Hai hay anh Tư tưởng) mà là công việc của tất cả mọi Kitô Hữu không phân biệt ai cả.
Đó là những Kitô hữu, họ là những sinh viên, học sinh, công nhân, thầy cô, y tá, bác sĩ, kỹ sư… chứ không phải là hàng giáo sĩ hay tu sĩ không mà thôi đâu! Trong thực tế, đa số anh chị em tân tòng đã nhận ra khuôn mặt nhân ái và dễ thương của Chúa Giêsu qua những hành động yêu thương, bác ái, chia sẻ, những gương lành, những cử chỉ tha thứ và khoan dung của những người Kitô Hữu tốt lành ấy. Rồi sau đó họ mới đến phiên các linh mục và tu sĩ giúp đỡ, hướng dẫn, học hỏi và đào sâu hơn về giáo lý, Kinh Thánh... Công lao đưa những người ngoại giáo trở về với Chúa phần lớn và chủ yếu là của anh chị em giáo dân chứ không phải là của anh em linh mục và tu sĩ chúng tôi đâu! Bạn đừng quên điều ấy!
Còn cái chuyện TIÊN HUYỀN TIỀN thì hơi… căng đấy! Tôi thấy ông Ba rất có lý khi nói rằng đi đến nhà thờ toàn thấy nói đến tiền bạc và đóng góp. Ông hoàn toàn có lý để than phiền về chuyện quyên góp tiền bạc quá thường xuyên ở tại giáo xứ của ông. Thế nhưng nếu ông Ba chịu khó đọc điều luật số 222 trong Bộ Giáo Luật hiện hành của Giáo Hội thì tôi bảo đảm ông Ba sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và đỡ đau lòng xót bao tử khi phải dứt núm ruột của mình ra (đồng tiền nó liền khúc ruột mà lị!) để dâng cúng cho nhà thờ hay biếu tặng cho các cơ quan, cho những tổ chức bác ái, từ thiện. Bạn biết điều luật số 222 nói gì không? Mời bạn đọc một chút cho biết nhé! Nếu học thuộc lòng được thì tuyệt vời!
• Các tín hữu có BỔN PHẬN chu cấp cho các nhu cầu của Giáo Hội, để Giáo Hội có sẵn những gì cần thiết hầu sử dụng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, các công tác tông đồ và bác ái và việc trợ cấp xứng đáng cho các thừa tác viên.
• Các tín hữu có BỔN PHẬN cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa...
Bạn thấy chưa? Mọi tín hữu có BỔN PHẬN và trách nhiệm giúp đỡ cho mọi công việc truyền giáo của Giáo Hội! Đó là LUẬT đấy chứ không phải chỉ là TỤC LỆ, vui thì làm, buồn thì… xù đâu! Bạn mở Kinh Thánh ra kiểm tra thử đi rồi sẽ thấy! “Mỗi năm [các ngươi] phải trích một phần mười tất cả hoa lợi lấy từ những gì các ngươi gieo, những gì mọc lên ngoài đồng nộp cho các thầy Lê-vi ở trong các thành của các ngươi." (Lv 14:22-27).
Bạn thân mến, nếu hôm nay bạn hiểu được rằng công việc đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo… tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất (Mk 16:15, Acts 1:8) là NHIỆM VỤ & TRÁCH NHIỆM của tất cả mọi Kitô Hữu chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của các đấng các bậc thì tôi xin mạo muội đề nghị với bạn ba việc sau:
• Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, chúng mình phải hết sức cẩn thận trong cách ăn, nếp ở, trong lời nói cũng như trong hành động: tránh chửi tục, nói phét, khoe khoang, gian dối, hận thù, ghen tương, kiêu ngạo…
• Sống quảng đại, rộng rãi trong việc bố thí, giúp đỡ cho những người nghèo, đặc biệt là cho đồng bào chúng ta đang bị cảnh nhà tan cửa nát vì thiên tai bão lụt.
• Hãy tự nguyện, vui vẻ và mỉm cười khi đóng góp cho quỹ điều hành của giáo xứ, cho quỹ điều hành của giáo phận và cho những cơ quan thiện nguyện. Khi bỏ tiền vào quỹ đóng góp cho Giáo Hội là lúc đó bạn đang trả lại cho Chúa một phần rất nhỏ của những gì Chúa ban cho bạn, chứ không phải là của bạn cho đi không đâu!
Khi chúng mình rộng tay làm phúc, vui vẻ, hòa nhã, tha thứ và bác ái với những người làm công, đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm, anh chị em… thì lúc ấy chúng mình đang làm công tác rao giảng Tin Mừng cho muôn dân đấy! Bạn tin không? Chúng mình hãy cầu nguyện cho nhau để với ơn của Chúa giúp, tôi và bạn sẽ có khả năng và đủ can đảm trở thành những chứng nhân cho Chúa Kitô Phục Sinh, đem Tin Mừng đến cho mọi người xung quanh qua đời sống gương mẫu, vui vẻ, lạc quan, tha thứ, yêu thương và bác ái. Chúc bạn trở nên một nhà truyền giáo tuyệt vời để qua bạn, sẽ có thêm nhiều người nhận ra dung mạo nhân từ và yêu thương của Thiên Chúa.
Lm Angars Phạm Tĩnh (Trích bài từ VietCatholic News)

Chúa Nhật 29 Thường Niên - Khánh Nhật Truyền Giáo (Luke 18:1-8)

Bài Đọc I: Exodus 17:8-13 II: 2 Timothy 3:14-4:2
Phúc Âm Luca 18:1-8
1 Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi".4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nữa chăng?"6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn?8 Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?
Chi Tiết Hay
Chữ "bà góa" trong ngôn ngữ Do Thái được dịch là "người thinh lặng" hay là "người không được nói". Điều đó không có nghĩa là họ câm, nhưng đàn bà ở trong văn hóa trọng người đàn ông của miền Điạ Trung Hải không được có tiếng nói. Trong dụ ngôn này, bà goá là hình ảnh của một người không quyền lực.
(c.5) dịch sát nghĩa là"cuối cùng thì bà ấy sẽ đánh bầm mắt tôi". Trong ngôn ngữ Hy Lạp, "đánh bầm mắt" một người nào đó có nghiã là làm nhục người đó một cách công khai. Sự việc một ông quan tòa không biết nhục, mà lại nhượng bộ dưới áp lực (làm nhục) của một người đàn bà đã nói lên sự kiên trì của bà này.
Trong thời đó, người đàn bà bị goá khi còn trẻ bị xem như không tốt. Vì vậy xã hội khuyến khích họ tái giá trước khi có những chuyện không hay xảy đến. Đây là một ưu tư khá thiết thực của Giáo Hội sơ khai. Xin đọc thư 1 Tim 5:3-15 để hiểu thêm về vấn đề này.
Kinh Thánh còn có những bài đọc khác về đàn bà góa bụa, chẳng hạn Isaia (Is. 1:23, 10:2) than phiền về cách về cách đối xử tệ hại với họ, và cũng có những bài đọc nói về sự quan phòng của Chúa với những người phụ nữ không may mắn này, như trong (Jer 49:11; Ps 68:5; Jas 1:27)
Một Điểm Chính: Chúa Giêsu dạy chúng ta nên bền vững khi cầu nguyện, đừng chán nản bỏ cuộc vì Ngài là Thiên Chúa thương yêu chúng ta sẽ nhậm lời cầu khẩn của những ai xin Người.
Suy Niệm
1. Sự cầu nguyện hằng ngày của tôi có đã trở thành một thói quen làm cho xong việc và mất đi sự chân thành chăng?
2. Kết qủa của lời tôi cầu nguyện có luôn luôn là điều gì tôi xin chăng? Có khi nào tôi xin theo ý tôi, nhưng trong thinh lặng Chúa cho tôi nhận ra ý của Ngài chăng?
--------------------------------------
29th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Exodus 17:8-13 II: 2 Timothy 3:14-4:2
Gospel Luke 18:1-8
1 And he told them a parable, to the effect that they ought always to pray and not lose heart.2 He said, "In a certain city there was a judge who neither feared God nor regarded man;3 and there was a widow in that city who kept coming to him and saying, 'Vindicate me against my adversary.'4 For a while he refused; but afterward he said to himself, 'Though I neither fear God nor regard man,5 yet because this widow bothers me, I will vindicate her, or she will wear me out by her continual coming.'"6 And the Lord said, "Hear what the unrighteous judge says.7 And will not God vindicate his elect, who cry to him day and night? Will he delay long over them?8 I tell you, he will vindicate them speedily. Nevertheless, when the Son of man comes, will he find faith on earth?"
Interesting Details
The word "widow" in Hebrew means "Silent One" or "One unable to speak." This word is not so much for a mute person but a woman in the patriarchal Mediterranean world does not speak for herself. In the context of this parable, the widow is an image of powerlessness.
(v.5) Literally translated, "she will end up giving me a black eye". The figurative Greek word "blacken one's face" means to publicly shame a person. And to have the shameless judge yield to the widow's pressure (of shaming him) has proven that her persistence has finally paid off.
At the time, younger widows were considered to be very socially unacceptable and were urged to remarry. One of the major concerns in the early Church was determining who truly was a widow. See the discussion in 1 Timothy 5:3-15.
Other interesting reading related to the widow could be found in Isaiah (1:23, 10:2) who criticized the harsh treatment, and special protection of God in (Jer 49:11; Ps 68:5; Jas 1:27)
One Main Point: Jesus teaches us to be consistent when we pray and not to be discouraged and give up for He is our loving God will answer to our prayer.
Reflections
1. Has my routine prayer become more of a habit and somehow has lost its sense of my personal sincerity?
2. Has the "answer" to my prayer always been in what I have asked for? Or have I ever recognized "God's will" in the silence after I have asked God to do it my way?

Sunday, September 30, 2007

Một câu chuyện mang hai sứ điệp

Ở đời biến cố câu chuyện nào cũng ẩn chứa mang sứ điệp nào đó nhắn gửi cho mọi người. Câu chuyện ngụ ngôn trong Phúc âm Thánh Luca 16,10-31 về người nghèo Ladarô và người giầu có mang ẩn chứa hai sứ điệp.
Sứ điệp niềm an ủi và sứ điệp nhắc nhở.
Trong đời sống ai cũng cần được an ủi. Và ai cũng có thể trao tặng an ủi cho người khác. An ủi và lòng trắc ẩn thương xót gắn liền với nhau.
An ủi có nhiều cách: bằng lời nói, bằng việc giúp đỡ, bằng dòng nước mắt cảm thông, bằng ánh mắt từ bi nhân hậu trong âm thầm cùng thông hiểu.
Sứ điệp niềm an ủi trong câu chuyện về người nghèo khổ Ladarô muốn nói lên: Điều công bằng trước sau rồi cũng được phơi bày ra. Điều bất công phải chịu khổ cực thiệt thòi sẽ có ngày chấm dứt. Và nó không bao giờ là tiếng nói quyết định sau cùng.
Thiên Chúa, đấng tạo dựng nên con người, không muốn con người bị chìm đắm trong thống khổ. Ngài tỏ lòng nhân từ thương xót với người đau khổ. Ngài là Thiên Chúa của sự công bình.
Thường có thắc mắc: Tại sao có những người suốt đời chịu đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần lúc còn sống cho tới khi chết. Lại có những người được hưởng phần thưởng sung sướng lúc còn sống và lúc chết cũng còn được hưởng chút sung sướng mồ êm mả đẹp nữa. Công bình ở đâu vậy?
Trước thắc mắc này, con người chúng ta không có câu trả lời bằng chữ nghĩa lời nào cho thỏa đáng. Chỉ lòng tin mới giúp ta được thôi. Và chính lòng tin là niềm cậy trông an ủi cho đời sống hiện tại cũng như mai sau.
Ông Ladarô nghèo khổ trong câu truyện của Phúc Âm là một thí dụ điển hình cho lòng tin, mà Chúa Giêsu muốn nêu ra cho ta học hỏi tìm ra câu trả lời.
Sứ điệp thứ hai ẩn chứa trong câu truyện ngụ ngôn là lời nhắc nhở: Những người có may mắn có của cải đừng nhắm mắt làm ngơ trước cảnh nghèo khó của những người khác.
Tình liên đới lòng bác ái là sự công bình trong đời sống. Người nghèo khó xấu số cũng có gía trị là một con người trước mặt Thiên Chúa. Chỉ tình yêu lòng bác ái là ranh giới phân biệt tốt xấu trước mặt Thiên Chúa.
Ở đời xưa nay luôn có hai dòng sống đi cạnh nhau trong xã hội: giầu và nghèo. Nhưng trong đời sống đức tin vào Thiên Chúa không như vậy: mọi người đều là con Thiên Chúa như nhau.
Sự công bình thưởng phạt của Ngài khác với sự suy đoán của con người.
Hình ảnh một cây cầu bắc ngang qua một dòng sông giữa hai bên bờ cho con người di chuyển qua lại nói lên phần nào ý nghĩa bài học con người hai bên bờ sông cần thông thương với nhau thế nào, cũng như người nghèo cần người giầu có và ngược lại người giầu có cần người nghèo thế nào trong đời sống.
Trong việc chính trị kinh tế cũng thế. Các người giầu có tư bản được khuyến khích bỏ vốn đầu tư tạo ra công ăn việc làm cho những người nghèo. Người nghèo cần những người giầu có bỏ vốn đầu tư mới có công ăn việc làm. Từ đó đời sống phát triển vươn lên. Hai bên đều cần nhờ nhau. Hai bên cùng giúp nhau.
Họ giúp nhau không chỉ về kinh tế giầu thêm lên, cho có cơm ăn áo mặc. Nhưng còn nâng đỡ giúp nhau phát triển đời sống tinh thần làm người nữa: đời sống tương thân tương trợ kiến tạo.
Một đời sống tương trợ nhau như thế là một xã hội có hòa bình như Thiên Chúa mong muốn.Lm. Nguyễn ngọc Long

SỐNG YÊU THƯƠNG (Chúa Nhật XXVI TNC)

Khi suy gẫm hình ảnh ông phú hộ và anh Ladarô nghèo khó trong trang Tin mừng, giờ đây chúng ta đang bị thôi thúc bởi tiếng Chúa mời gọi phải trở về với giới răn yêu thương, từ đó mọi người hãy tìm cho mình những cách sống phù hợp với giới răn cao quý ấy, nhờ đó mà chúng ta sẽ được cứu độ.
1/ GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG:
Giới răn yêu thương chính là lời trối của Đức Giêsu trước khi Ngài giã từ thế gian về với Chúa Cha : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12)
Khi dạy sống yêu thương thì chính Chúa cũng đã nêu gương trước cho chúng ta về lối sống tuyệt vời này. Vì cả cuộc đời của Chúa Giêsu là cả thời gian Ngài sống để yêu thương mọi người, nhất là người nghèo khó. Vì Chúa đã khẳng định : “ Thần khí Chúa ngự trên Tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong Tôi, để Tôi loan báo Tin mừng đến cho kẻ nghèo hèn” ( Lc 4,18)
Chúa Giêsu đến với người nghèo khó bằng cả con tim của Ngài. Con tim chạnh lòng thương với những người què quặt, những người đui mù, những người câm điếc, những người phong cùi, những người bất hạnh, những người bị bỏ rơi, những người tội lỗi, những người đói khát… Những người này luôn là những nỗi thao thức của Đức Giêsu, là những đối tượng để Đức Giêsu đem tình thương đến cho họ bằng những việc làm để cứu chữa và nâng đỡ họ.
Sau này tình yêu của Chúa Giêsu đã thể hiện đến cùng, đã đạt đến đỉnh cao khi Chúa tự hiến mình qua Bí Tính Thánh Thể. Từ giờ phút linh thiêng ấy thì tình yêu của Đức Giêsu đã trở nên trọn vẹn. Từ đây thời gian Chúa phục vụ yêu thương trong quá khứ đã được ứng nghiệm nơi Bí Tích Thánh Thể. Thời gian phục vụ yêu thương của ngày mai và tương lai phải được khơi nguồn và củng cố từ Bí Tích Thánh Thể. Vì Bí Tích Thánh Thể là Bí tích Tình Yêu. Gọi là Bí Tích Tình Yêu vì Chúa Giêsu đã lấy chính sự sống của Ngài để chia sẻ, để nâng đỡ, để nuôi dưỡng chúng ta không những trong cuộc sống hiện tại, mà còn hướng đến một cuộc sống tương lai vĩnh cửu như lời Chúa đã nói : “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì sẽ được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” ( Ga 6,54).
Khi trở về thời gian mà Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về cách sống giới răn yêu thương. Thì đây cũng là thời điểm mà Chúa gọi chúng ta phải sống giới răn yêu thương như Chúa.
2/ SỐNG GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG:
Sống giới răn yêu thương luôn đòi hỏi chúng ta phải có cách sống quảng đại. Dù chúng ta có tiền rừng bạc bể, nhưng lòng chúng ta không quảng đại thì đó là sự thiệt thòi mất mát rất lớn cho chúng ta.
Hình ảnh ông phú hộ giàu có, mặc toàn lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình. Đó là hình ảnh nói lên một cuộc sống sung túc tại trần gian. Nhưng ông không biết tận dụng những gì ông có để mua cái tốt hơn cho cuộc sống của ông. Cuối cùng thì ông đã mất tất cả. Ông mất tất cả vì ông đã hẹp hòi với sự sống của một con người cũng có nhân phẩm như ông là anh Ladarô nghèo khó. Ông mất tất cả vì ông làm ngơ trước những nhu cầu của một con người giống như ông, là cần có ăn, có uống, để nối dài sự sống như anh Ladarô nghèo khó. Ông mất tất cả vì cuộc sống của ông nói lên hình ảnh của một nếp sống giàu có, nhưng cách sống của ông thì không có quả tim yêu thương, quả tim quảng đại, nên ông phải đành chung số phận với những người không được Chúa chúc phúc, đó là phải chịu cực hình muôn thuở mà Chúa đã phạt cho những kẻ sống ích kỷ, hẹp hòi.
Đến đây chúng ta sẽ hiểu thế nào để được sống hạnh phúc, để được sống trọn lành. Con đường sống trọn lành và hạnh phúc ấy Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta là: “ Hãy đi bán tài sản và đem bố thí cho người nghèo thì chúng ta sẽ được một kho tàng trên trời” (x Mt 14,21)
Về điểm này Chúa muốn dạy chúng ta là phải có tinh thần nghèo khó. Tinh thần nghèo khó ở đây là đòi hỏi chúng ta phải biết yêu mến sự sống con người hơn là tiền của, yêu mến cách sống giới răn yêu thương hơn là vật chất, yêu mến hạnh phúc mai sau hơn là thứ hạnh phúc hiện tại nay còn mai mất tại trần gian.Vì thế Chúa luôn luôn gọi những người nghèo khó là những người có phúc: “ Phúc cho ai có tinh hần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” ( Mt 5,5)
Cũng vậy đến ngày phát xét, mọi người chúng ta bị phán xét khi Chúa dựa trên tiêu chuẩn chúng ta đã sống giới răn yêu thương như thế nào ? Vì thế chúng ta hãy cố gắng sống trọn vẹn giới răn yêu thương của Chúa để sau này chúng ta sẽ vui mừng khi Chúa phán với chúng ta: “ Nào hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước, Ta trần truồng các ngươi đã cho Ta mặc, Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm, Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” ( Mt 25,34-36).
Là Kitô hữu, chúng ta rất an tâm vì được giáo dục bởi Lời Chúa và lời dạy của Hội Thánh. Nếu chúng ta can đảm đi theo sự hướng dẫn của Lời Chúa và Hội Thánh, chắc chắn chúng ta sẽ không lạc đường, nhưng sẽ đạt đến con đường sống trong hạnh phúc. Và hôm nay, con đường hạnh phúc mà Chúa chỉ cho chúng ta đi tới, đó là phải sống giới răn của Chúa bằng việc sống bác ái yêu thương.
Để sống bác ái yêu thương cách trọn vẹn, gần đây chúng ta còn được hướng dẫn thêm bởi lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Bênêdictô 16, khi Ngài gặp gỡ các tổ chức thiện nguyện, trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Nước Áo từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 9 năm 2007. Đức Thánh Cha đã nói : “Công tác thiện nguyện là thuộc về một nền văn hoá không muốn tính toán… Tất cả đều có một điểm xuất phát chung là sự “ nhưng không, miễn phí”. Chúng ta đã lãnh nhận sự sống một cách nhưng không từ Đấng tạo hoá, được giải thoát nhưng không từ con đường mù quáng của tội lỗi và sự ác, được ban Thánh Linh cách nhưng không với các Hồng Ân đa dạng của Ngài… Chúng ta thông truyền một cách nhưng không những gì chúng ta nhận lãnh, qua sự dấn thân và công tác thiện nguyện của chúng ta.
Từ những cảm nghiệm bởi Lời Chúa hôm nay, cùng với những lời dạy của Đức Thánh Cha Bênêđictô 16, chúng ta xin Mẹ Maria giúp chúng ta có một cách sống quảng đại như Mẹ. Nhờ đó mỗi phút giây hiện tại của cuộc sống là mỗi phút giây chúng ta đem Tin mừng yêu thương phục vụ của Chúa cách nhưng không đến cho những người nghèo khổ bất hạnh. Nhờ vậy mà tình thương đối với tha nhân ngày càng gia tăng trong ta. Và tình thương của Thiên Chúa càng ngày càng dồi dào trong cuộc đời chúng ta hôm nay và mai sau.
Lạy Mẹ Maria! Xin Mẹ giúp chúng con. Amen
LM. Giuse Nguyễn Minh Chánh

Chúa Nhật 26 Thường Niên - 26th Sunday in Ordinary Time (Luke 16:19-31)

Bài Đọc I: Amos 6:1,4-7 II: 1 Timothy 6:11-16
Phúc Âm Luca 16:19-31
19 "Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.20 Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Ápraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.23 "Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Ápraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ.24 Bấy giờ ông ta kêu lên: "Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!"25 Ông Ápraham đáp: "Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn phải chịu khốn khổ.26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được".27 "Ông nhà giàu nói: "Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con,28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!"29 Ông Ápraham đáp: "Chúng đã có ông Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó".30 Ông nhà giàu nói: "Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối".31 Ông Ápraham đáp: "Ông Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin đâu".
Chi Tiết Hay
Trong Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn người quản gia bất lương và kết luận rằng không ai được làm tôi hai chủ. "Người Pharisêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy thì cười nhạo Đức Giêsu" (16:14). Họ nghĩ rằng của cải là dấu chỉ được Chúa đặc biệt hậu đãi. Vì thế, Đức Giêsu đã kể thêm một dụ ngôn khác về người giầu có và Lazarô để lên án thái độ tự mãn của họ.
(c.19) Người giầu có thì không được nêu danh tính trong khi người ăn xin thì được nêu rõ tên như có ý muốn đảo ngược lại quan niệm thông thường. Người giầu có ở đời này đổi ngược lại số phận với người ăn xin ở đời sau. Sự kiện này như nhắc lại những điều được chúc phúc và bị nguyền rủa ở trong bài giảng Các Mối Phúc Thật (6:20,24).
(c.24) Không phải cứ kêu lên: "cha Abraham", là đủ để làm cho người ta trở nên con cái của ông và được hưởng ơn cứu chuộc. Gioan Tẩy Giả đã nói "Đừng vội nghĩ bụng rằng 'Chúng ta đã có tổ phụ Abraham' thì đã đủ để được cứu chuộc" (Lk 3:8); nhưng phải "sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối".
"Xin thương xót tôi": Điều oái ăm là bây giờ người giầu có lại trở thành kẻ ăn xin.
(c.29) Lời của Thiên Chúa qua Môi sen và các ngôn sứ chính là thánh ý của Thiên Chúa cho những ai tìm kiếm. Đức Giêsu đã cho hiểu rằng Ngài không phá hủy Lề Luật (16:17), vì thế luật buộc phải bố thí cho người nghèo vẫn có giá trị. Người giầu có không phải là người được Thiên Chúa đặc biệt hậu đãi. Nhưng họ có bổn phận phải chia sẻ cho người nghèo theo luật buộc.
(c.31) Đối với những người đã có lòng chai đá thì dù cho có người về từ cõi chết cũng sẽ không thuyết phục được họ. Dụ ngôn Chúa kể cho những người Pharisêu, đã như là một sự khước từ. Họ cứng đầu tiếp tục con đường hư vong giống như người giầu có đã đi. Nếu họ đã coi thường Lề Luật, thì lời giáo huấn của Chúa chẳng thay đổi gì được họ.
Một Điểm Chính: Hãy dùng của cải một cách khôn ngoan, vì của cải chỉ là những gì Thiên Chúa cho chúng ta tạm giữ để giúp đỡ người nghèo khổ.
Suy Niệm
1. Bạn cảm thấy thế nào mỗi khi gặp người hành khất ngoài đường?
2. Những điều kể trong Phúc Âm có vẫn còn đang xảy ra ngày hôm nay chăng? Bạn thấy mình có những điều gì giống người giầu có?, và có những gì giống người nghèo khó trong đoạn Phúc Âm hôm nay?
---------------------------------------------
26th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Amos 6:1,4-7 II: 1 Timothy 6:11-16
Gospel Luke 16:19-31
19 "There was a rich man, who was clothed in purple and fine linen and who feasted sumptuously every day.20 And at his gate lay a poor man named Laz'arus, full of sores,21 who desired to be fed with what fell from the rich man's table; moreover the dogs came and licked his sores.22 The poor man died and was carried by the angels to Abraham's bosom. The rich man also died and was buried;23 and in Hades, being in torment, he lifted up his eyes, and saw Abraham far off and Laz'arus in his bosom.24 And he called out, 'Father Abraham, have mercy upon me, and send Laz'arus to dip the end of his finger in water and cool my tongue; for I am in anguish in this flame.'25 But Abraham said, 'Son, remember that you in your lifetime received your good things, and Laz'arus in like manner evil things; but now he is comforted here, and you are in anguish.26 And besides all this, between us and you a great chasm has been fixed, in order that those who would pass from here to you may not be able, and none may cross from there to us.'27 And he said, 'Then I beg you, father, to send him to my father's house,28 for I have five brothers, so that he may warn them, lest they also come into this place of torment.'29 But Abraham said, 'They have Moses and the prophets; let them hear them.'30 And he said, 'No, father Abraham; but if some one goes to them from the dead, they will repent.'31 He said to him, 'If they do not hear Moses and the prophets, neither will they be convinced if some one should rise from the dead.'"
Interesting Details
In last Sunday's Gospel, Jesus told the parable of the unjust manager and drew the conclusion from it that one cannot serve both God and money. "The Pharisees, who loved money, heard all these things and laughed at Him" (16:14). They seem to think that their possessions are a sure sign of God's favor. So, here Jesus tells another parable of the rich man and Lazarus to condemn the pride of these people and gives them the answer.
(v.19) The rich man is nameless while the poor man's name is given as if to reverse the world's opinion. The parable is rather a conventional reversal of fortune. Those who are well off in this life trade places with the poor in the next life. It echoes the blessings and woes in the Sermon on the Plain (6:20,24).
(v.24) "father Abraham": Mere words do not make one a child of Abraham and an assurance of salvation. John the Baptizer had already indicated that it was not enough to claim "we have Abraham as our father" (Lk 3:8); but one must "produce deeds appropriate to conversion".
"have mercy on me": The irony of the story is that the rich man now requests "mercy" who did not show mercy in almsgiving to the poor man.
(v.29) The word of God revealed through Moses and the Prophets makes God's will clear to anyone who seeks it. Jesus has not abolished the Law (16:17), thus the Law about almsgiving is still valid. The rich are not privileged in God's sight. They have the obligation to care for the needy.
(v.31) Even something as astounding as the resurrection from the dead will not convince those whose minds are closed to God's truth. Addressed to the Pharisees, Jesus' parable is a message of rejection. The obstinate Pharisees would continue on their merry way to perdition, as did the rich man in this story. If the teachings of the Law are shrugged off as unimportant, even the teachings of the risen Lord will have no impact.
One Main Point: Use our possessions wisely, they are on loan from God and have to be used to help the poor.
Reflections
1. How do you feel when you see a street person?
2. How is the Gospel situation true of the present time? In what ways do you identify with the rich person? In what ways do you identify with the poor person in the Gospel?

Saturday, August 18, 2007

Chúa Nhật 20 Thường Niên

Bài Đọc I: Jeremia 38:4-6,8-10 II: Do Thái 12:1-4
Phúc Âm Luca 12:49-53
49 "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!51 "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.52 Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.53 Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại me; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng".
Chi Tiết Hay
Từ Chúa Nhật 13 thường niên, chúng ta theo Đức Giêsu từ quê Ngài tại Galilê lên Giêrusalem (9:51-19:27) chịu thương khó. Ngay từ đầu cuộc hành trình, thiên hạ đã bỏ Ngài, khiến Giacôbê và Gioan đòi trừng phạt, "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?" (9:54). Về sau chính Đức Giêsu cũng nhắc tới "mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống" (17:29) trong ngày phán xét.
Một ý nghĩa khác của lửa là ơn Chúa Thánh Thần (CVTD 2:3).
"Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!" - lửa cũng mang ý nghĩa của sự cần kíp và nhiệt tâm.
Lửa có thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự vấn vương của thế gian. Trong nhiều đoạn phúc âm về sứ mạng tông đồ và ngày phán xét, Đức Giêsu khuyên bảo chớ tích trữ của cải thế gian, như trong bài đọc Chúa Nhật 18 thường niên vừa qua về người phú hộ lo tích trữ gạo thóc mà không biết rằng mình sắp chết tới nơi rồi.
Quyết định theo Chúa Giêsu hay không sẽ chia rẽ người thân.
Một Điểm Chính: Chúa Giêsu cấp bách kêu gọi chúng ta đi theo Ngài ngay bây giờ: đi hay không?
Suy Niệm
1. Tôi có lửa, có nhiệt tâm về việc gì không? Nếu có, thì là cái gì?
2. Đi theo nhiệt tâm đó, tôi phải trả những giá nào: bình an, tiền bạc, thời gian, mối liên hệ, v.v...?
3. Ngược lại, nếu KHÔNG có hay không theo nhiệt tâm đó, thì tôi mất gì không?
-------------------------------------
20 Sunday in Ordinary Time
Reading I: Jeremiah 38:4-6,8-10 II: Hebrew 12:1-4
Gospel Luke 12:49-53
49 "I have come to set the earth on fire, and how I wish it were already blazing! 50 There is a baptism with which I must be baptized, and how great is my anguish until it is accomplished! 51 Do you think that I have come to establish peace on the earth? No, I tell you, but rather division. 52 From now on a household of five will be divided, three against two and two against three; 53 a father will be divided against his son and a son against his father, a mother against her daughter and a daughter against her mother, a mother-in-law against her daughter-in-law and a daughter-in-law against her mother-in-law."
Interesting Details
Context: From the 13th Sunday in ordinary time, we follow Jesus' journey from his Galilean home toward passion in Jerusalem (9:51-19:27). Right from the start of this journey, he was rejected, prompting James and John to suggest an immediate fiery judgment, "Lord, do You want us to command fire to come down from heaven and consume them?" (9:54). Jesus himself later warned of "fire and brimstone from heaven" (17:29) on judgment day.
Another possible meaning of fire is the gift of the Holy Spirit (Acts 2:3).
"How I wish it were already blazing!" Fire also carries a sense of urgency and intense passion.
Fire can also purifies us from worldly attachments. In numerous passages about discipleship and judgment day, Jesus warns against stocking worldly wealth, as we read on the 18th Sunday about the rich fool building barns for a retirement that he did not have.
The decision to follow Jesus or not will separate people.
One Main Point: Jesus urgently called us to follow Him completely now: Yes or no?
Reflections
1. Is there an urgency and passion in my life? If so, what is it?
2.What are the costs to follow it: peace, money, time, relationships, etc.?
3. What would be the cost if I do NOT follow that passion now?

Sunday, August 05, 2007

Chúa Nhật 18 Thường Niên (Luke 12:13-21)

Bài Đọc I: Ecclesiastes 1:2,2:21-23 II: Col 3:1-5,9-11
Phúc Âm Luca 12:13-21
13 Có người trong đám đông nói với Đức Giêsu rằng: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi".14 Người đáp: "Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?"15 Và Người nói với họ: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu".16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: "Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi,17 mới nghĩ bụng rằng: "Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!"18 Rồi ông ta tự bảo: "Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó.19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giời ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!"20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: "Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ vê tay ai?"21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó".
Chi Tiết Hay
Đoạn Phúc Âm này quen gọi là dụ ngôn người giàu khờ dại và chỉ được ghi lại trong Phúc Âm thánh Lucạ Dụ ngôn khi hai anh em tranh chấp về vấn đề chia gia tài.
(c.13) Trong luật thừa tự ghi trong sách Dân Số 27:1-11 và Đệ Nhị Luật 21:15-17, gia tài của người cha được để lại cho các người thừa tự theo thứ tự như sau: con trai, con gái, anh em, chú bác và người bà con gần. Người con trưởng khi nào cũng được hưởng phần lớn nhất. Theo luật Roma, gia tài phải chia chỉ khi có sự đồng ý của tất cả mọi người liên hệ, trong khi luật Do Thái cho phép một người có quyền đòi chia gia tài (Luca 15:12 - dụ ngôn người con hoang đàng).
(c.14) Đức Giêsu được mời làm xử án và người giải hòa trong một tranh chấp mà thời nay thường được xếp vào trường hợp của luật dân sự. Vào thời đó, không có sự phân biệt rõ ràng giữa các loại luật lệ, thầy rabbi có thể trả lời trong mọi tranh chấp ngay cả tranh chấp trong gia đình. Đức Giêsu tránh không muốn dính vào sự tranh chấp bởi lòng tham lam mà dùng cơ hội đệ dạy về cạm bẩy do của cải.
(cc.17-19) Chữ "tự mình" được dùng đi dùng lại nhiều lần để nhấn mạnh về sự tự trung tự đại của người giàu có. Trong chương trình của ông, không gì đếm xỉa tới gia đ`inh, người láng giềng hoặc về Chúa.
(cc.20-21) Chúa kết án người giàu có là người khờ dại bởi vì ngay cả khi đã dự liệu thật kỹ càng ông cũng không biết giờ nào mình sẽ bị cất đi thì tại sao ông lại phải thu tích của cải nhiều như vậy.
Một Điểm Chính: Mục đích của cuộc đời không phải là làm giàu của cải vật chất, mà làm giàu những gì dưới mắt của Thiên Chúạ Đó là chia sẻ những gì mình có cho người khốn cùng.
Suy Niệm
1. Khi gặp phải những tranh chấp trong gia đình anh em, tôi phải dùng sức mạnh nào để giảng hòa sự khác biệt?
2. Cũng như người giàu có trong dụ ngôn, tôi có dùng quá nhiều thời giờ và sức lực để làm giàu và để dự tính một tương lai bảo đảm sung túc không? Tương lai đó có hoàn toàn thuộc về tôi chăng? Tôi quên gì trong dự tính đó?
3. Tôi dùng của cải thế nào? Nó có phải hoàn toàn là do công sức của tôi hay là món quà của Thiên Chúa? Làm thế nào để tôi quân bình giữa những gì cần có và những gì xa xỉ?
--------------------------------------------
18th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Ecclesiastes 1:2,2:21-23 II: Col 3:1-5,9-11
Gospel Luke 12:13-21
13 One of the multitude said to him, "Teacher, bid my brother divide the inheritance with me."14 But he said to him, "Man, who made me a judge or divider over you?"15 And he said to them, "Take heed, and beware of all covetousness; for a man's life does not consist in the abundance of his possessions."16 And he told them a parable, saying, "The land of a rich man brought forth plentifully;17 and he thought to himself, 'What shall I do, for I have nowhere to store my crops?'18 And he said, 'I will do this: I will pull down my barns, and build larger ones; and there I will store all my grain and my goods.19 And I will say to my soul, Soul, you have ample goods laid up for many years; take your ease, eat, drink, be merry.'20 But God said to him, 'Fool! This night your soul is required of you; and the things you have prepared, whose will they be?'21 So is he who lays up treasure for himself, and is not rich toward God."
Interesting Details
This passage is referred as the parable of the rich fool and only found in Luke. It was prompted by a dispute between brothers over inheritance.
(v.13) In the inheritance laws described in Num 27:1-11 and Deut 21:15-17, the father's heritage was passed on to the following chain of beneficiaries: son, daughter, brothers, uncles and nearest relative. The oldest son always got a larger portion of the heritage. According to Roman law, a division of inheritance was required only if both parties requested it. However, Judaic law allowed the division on the petition of a single son (Lk 15:12 - the parable of the lost son).
(v.14) Jesus was invited to be a judge and a mediator in what nowadays is called a civil case. At that time, there was no distinction between various facets of the law; a rabbi was expected to provide the answers in all cases even in family disputes. Jesus refused to be drawn into the conflict driven by greed but used the opportunity to teach about the trap of possessions.
(vv.17-19) The words "I" and "my" were repeatedly used to emphasize the egocentric view of the rich man. Family, neighbors and God were all absent from his plan.
(vv.20-21) God condemned the rich man as a fool because even with careful planning he would not know when the time came, then why he had to accumulate so much wealth.
One Main Point: The purpose of life is not to be rich in material possessions, but to be rich in the sight of God. That is to share the wealth to those in need.
Reflections
1. When I get involved in a family dispute, what is the driving force to settle the differences?
2. Similar to the rich man in the parable, do I spend so much time and energy to accumulate wealth and a great plan to secure a comfortable future? Do I totally control that future? What do I miss in my plan?
3. How do I treat my possessions? Do I rightfully earn them or consider them as gifts from God? How do I balance between the need and the excessive?

Sunday, July 29, 2007

Chúa Nhật 17 Thường Niên (Luke 11:1-13)

Bài Đọc I: Genesis 18:20-32 II: Col 2:12-14
Phúc Âm Luca 11:1-13
1 Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: "Thưa thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông".2 Người bảo các ông: "Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: "Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến,3 Xin Cha cho chúng con ngày nào có lượng thực ngày ấy;4 Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ".5 Người còn nói với các ông: "Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: "Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh,6 vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả";7 mà người kia từ trong nhà lại đáp: "Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được".8 Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh cần, vì thể diện.9 "Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.10 Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.11 Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy rắn thay vì cá mà cho nó?12 Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp?13 Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người?".
Chi Tiết Hay
(c.1) Trước mỗi biến cố quan trọng (như rửa tội, biến hình, chịu nạn), Thánh Luca luôn nhắc tới một buổi cầu nguyện. Ở đây không những có buổi cầu nguyện mà còn dạy về cầu nguyện nữa.
Kinh cầu nguyện đánh dấu một cộng thể, như người Công Giáo có kinh Kính Mừng. Kinh còn dạy cho chúng ta cách sống.
Cầu nguyện & quyền lực: dân quê Do Thái thời đó bị nhiều giới cai trị: chủ vườn, thu thuế, thời tiết, và trên cùng hết là Thượng Đế. Nếu lời cầu có thể ảnh hưởng được tới Chúa thì may ra họ xin được những thứ cần thiết.
(c.2) "Cha" cho con không phải chỉ vì công sức hay tài năng. Mọi người có cùng Cha, vậy tất cả là anh chị em.
"Danh Cha cả sáng" khi những tạo vật của Ngài không còn bị sự dữ làm ô nhiễm, nhất là trong tim và óc con người.
"Nước Cha" hiệp nhất mọi người bất kể chủng tộc, giai cấp, phái tính, v.v.
"Lương thực hàng ngày" ta cần xin Thượng đế để nuôi cả xác lẫn hồn.
"Tội" của con người, kể cả của các môn đệ theo Thày, cũng được tha.
"Cám dỗ" theo thánh Luca không có kết quả gì hay, không làm ta mạnh sức lên.
(cc.5-8) Theo phong tục thời đó dân làng phải tiếp kẻ qua đường. Kẻ ngủ mà không dạy ph.u tiếp khách sẽ bị người chung quanh khinh rẻ, nên ông ta đành dạy để giúp.
(cc.9-13) Chúa cũng giữ danh tiếng Ngài bằng cánh chăm nom cho con cái của Ngài.
Một Điểm Chính: Đức Giêsu dạy ta cách cầu nguyện và sống theo luật tình thương của Ngài.
Suy Niệm
Tôi có cần Thượng Đế không? Hay tôi tự mãn, tự đủ nên không thấy cần phải cầu nguyện làm gì?
Kinh Lạy Cha có dạy cho tôi biết tôi là ai và phải sống thế nào không? Sách Giáo Lý Công Giáo mới có 1 phần khá dài về kinh Lạy Cha.
-----------------------------------------------
17th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Genesis 18:20-32 II: Col 2:12-14
Gospel Luke 11:1-13
1 He was praying in a certain place, and when he ceased, one of his disciples said to him, "Lord, teach us to pray, as John taught his disciples."2 And he said to them, "When you pray, say: "Father, hallowed be thy name. Thy kingdom come.3 Give us each day our daily bread;4 and forgive us our sins, for we ourselves forgive every one who is indebted to us; and lead us not into temptation."5 And he said to them, "Which of you who has a friend will go to him at midnight and say to him, 'Friend, lend me three loaves;6 for a friend of mine has arrived on a journey, and I have nothing to set before him';7 and he will answer from within, 'Do not bother me; the door is now shut, and my children are with me in bed; I cannot get up and give you anything'?8 I tell you, though he will not get up and give him anything because he is his friend, yet because of his importunity he will rise and give him whatever he needs.9 And I tell you, Ask, and it will be given you; seek, and you will find; knock, and it will be opened to you.10 For every one who asks receives, and he who seeks finds, and to him who knocks it will be opened.11 What father among you, if his son asks for a fish, will instead of a fish give him a serpent;12 or if he asks for an egg, will give him a scorpion?13 If you then, who are evil, know how to give good gifts to your children, how much more will the heavenly Father give the Holy Spirit to those who ask him!"
Interesting Details
(v.1) "Jesus was praying." Luke puts a prayer in front important event, such as Baptism, Transfiguration, and Crucifixion. This passage is not only preceded by prayer but also about prayer, and is emphasized by Luke.
"Teach us to pray." A prayer often distinguishes a community. For example, the Hail Mary marks the Catholics. A prayer can also summarize a catechism and teach people how to live.
Prayer and control: Peasants in Jesus' world are controlled by landowners, tax collectors, leaders, weather, climate, and ultimately God. If they could influence God or a good patron through prayers, they can gain some control and get more for their needs.
(v.2) "Father" gives children more than what they deserve by their efforts and abilities alone. If all peoples have the same father, then they are all brothers and sisters.
"Hallowed be your name." The true nature of God's name or identity would be revealed when evils no longer defile God's creatures, including our hearts and minds.
"Kingdom" of God would unite people of different races, sexes, classes, etc.
(v.3) "Bread" is the simple food to sustain life. Our life, both body and soul, depends on God for basic nourishment.
(v.4) "Sins" of people, including Jesus' followers, are forgiven by the loving Father-God.
"Temptation" in Luke is always bad and does not lead to any positive outcome such as strengthening of characters.
(vv.5-8) Mediterranean custom obliges hospitality to people who pass by the village. So the one who did not get out of bed also should share that obligation. To protect his honor, he must get up to fulfill his part to the obligation.
(vv.9-13) God will also preserve His honor by providing for his children.
One Main Point: Jesus teaches us how to pray and live according God's rule of love.
Reflections
Do I need God? What, or who, controls my life? Am I too comfortable and self-sufficient to pray?
Does the "Our Father" prayer give me an identity? A rule of conduct, a catechism? The new Catechism has a lengthy section on this prayer.

Sunday, July 22, 2007

Chúa Nhật 16 Thường Niên (Luke 10:38-42)

Bài Đọc I: Genesis 18:1-10 II: Col 1:24-28
Phúc Âm Luca 10:38-42
38 Trong khi Thầy trò đi đường, Đức Giêsu vào làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà.39 Cô có người em gái tên là Maria. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy.40 Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!"41 Chúa đáp: "Mácta! Mácta ơi! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá!42 Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi".
Chi Tiết Hay
Câu chuyện xảy ra trong chuyến đi lên Jerusalem lần cuối cùng. Đây là thành Bethany nơi ông Lazarô sống với hai người chị là Martha và Maria.
(c.38) Trong văn hóa Địa Trung Hải, người phụ nữ là sở hữu chủ của nhà cửa. Người mẹ sẽ truyền gia sản lại cho người con gái lớn nhất. Trong nhiều bản dịch dựa trên bản tự Hy-lạp như Kinh Thánh Tân Ước 1994, câu "nhà của bà" được bỏ đi.
(c.39) Maria là người xức dầu và lau chân Chúa Giêsu bằng tóc của mình (Ga 12:1-3).
Vì Chúa Giêsu được dân chúng ưa chuộng vào những ngày cuối cùng của Ngài, rất có thể là có những người khác trong nhà lúc đó. Các môn đệ có thể đi theo Ngài vào nhà. Người Địa Trung Hải có lối sống đại gia đình như người Á Đông, nên trong nhà thế nào cũng có bà con của hai bà. Hơn nữa truyền thống khiến ông Lazarô phải có mặt với Chúa Giêsu để bảo vệ danh dự của 2 chị mình trong sự hiện diện của một người đàn ông không cùng họ hàng (Ga 11).
Nếu theo truyền thống phân chia vị trí theo nam nữ, thì Maria đang ngồi với Chúa Giêsu ở chổ dành riêng cho đàn ông.
Hành động của Maria nhấn mạnh đến tình yêu Thiên Chúa, trong khi hành động của người Samari trong dụ ngôn người Samari Tốt Lành (Lc 10:29-37) nhấn mạnh đến tình yêu đồng loại.
Một Điểm Chính: Phục vụ vì yêu mến Thiên Chúa, chớ không phải vì yêu thích công việc làm ấy.
Suy Niệm
1. Công việc phục vụ của tôi có đem tôi lại gần Thiên Chúa hơn không? Khi làm, chủ tâm của tôi là công việc, hay chủ tâm của tôi là làm để danh của Thiên Chúa được vinh quang?
2. Nhìn lại lòng nhân từ của tôi. Nhiều lần tôi sẵn sàng tỏ lòng nhân từ với người khác, nhưng chỉ khi nào chương trình của tôi không bị ảnh hưởng đến. Tôi muốn thương người, nhưng theo cách của riêng tôi.
3. Suy niệm bối cảnh của câu chuyện này. Vài ngày trước khi tử nạn, Chúa Giêsu đã ngang dọc khắp nơi giảng dạy. Ngài mệt mỏi. Tim Ngài nặng trĩu vì hình ảnh thập giá càng ngày càng rõ ràng. Ngài đã đến nhà tôi, người mà Ngài coi như bạn. Ngài đến để tìm gì? Ngài muốn một bữa cơm thịnh soạn? Hay là Ngài đến là vì tâm tình của tôi, vì tôi thương Ngài? Ngài cần con tim của tôi để an ủi và lắng nghe? Nếu tôi thương Ngài thì tôi sẽ làm sao? Tôi có trìu mến cầm tay Ngài và nói: Thầy ơi, con nghe đây. Con sẵn sàng chia sẽ những ưu tư, những đau khổ của Thầy? Lắng nghe Chúa Giêsu và để lòng mình dẫn dắt, chiêm niệm tâm tình của Chúa Giêsu chia sẽ với tôi.
--------------------------------------------
16th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Genesis 18:1-10 II: Col 1:24-28
Gospel Luke 10:38-42
38 Now as they went on their way, he entered a village; and a woman named Martha received him into her house.39 And she had a sister called Mary, who sat at the Lord's feet and listened to his teaching.40 But Martha was distracted with much serving; and she went to him and said, "Lord, do you not care that my sister has left me to serve alone? Tell her then to help me."41 But the Lord answered her, "Martha, Martha, you are anxious and troubled about many things;42 one thing is needful. Mary has chosen the good portion, which shall not be taken away from her."
Interesting Details
This was on Jesus' last journey to Jerusalem. The town is Bethany where Lazarus and his two older sisters Martha and Mary lived.
(v.38) In the ancient Mediterranean culture, the woman of the family owns the house, not the man. The oldest daughter will inherit the house when the mother dies. In some translations based on Greek manuscripts, i.e., 1986 New American Bible, the phrase "her house" is omitted.
(v.39) Maria is the one who anointed with perfumed oil and dried the feet of Jesus with her hair (Jn 12:1-3).
Given the popularity of Jesus during His last days, it is quite possible that Jesus was not alone with Martha and Maria. It is likely that some of His disciples accompanied Him into the house. Mediterranean homes are the dwelling place of extended families; other relatives of Martha and Maria could be in the room. In the tradition of the time, their brother Lazarus would feel compelled to chaperone his unmarried sisters at the presence of an unrelated man (Jn 11).
In a culture where spaces were defined by gender, Maria definitely was seated with Jesus in a place reserved for men.
The action of Mary emphasizes the love of God, whereas the action of the Samaritan in the parable of the Good Samaritan (Lk 10:25-37) emphasizes the love of neighbor.
One Main Point: Perform service for the love of God, not for the love of the work itself.
Reflections
1. Are our works bringing us closer to God? Are we paying attention to the works themselves, or do we do these works so that the name of God can be glorified?
2. Reflect on our kindness. Many times, we are so willing to be kind to other people, but only if it will not interfere with our plans for other things. We want to be kind to people, but in our own way.
3. Contemplate the context of this story. A few days before His passion, Jesus had been in many places preaching. He is exhausted. His heart is probably heavy with the gradually revealing of the image of the cross. He comes to your house because He considers you as his friend. What does he seek? A seven course dinner? Or is it your love that He seeks? Would He want your heart to comfort and listen to Him? If you are kind and you love Him, what would you do? Would you gently hold His hand and tell him: Lord I am listening to you. I am ready to share the pain in your heart. Listen to Him and let your love for Him guide you, meditate on the feeling that He shares with you.

Sunday, July 15, 2007

Chúa Nhật 15 Thường Niên (Luke 10:25-37)


Bài Đọc I: Dt 30:10-14 II: Col 1:15-20
Phúc Âm Luca 10:25-37
25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"26 Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?"27 Ông ấy thưa: "Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình".28 Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống".29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?"30 Đức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi.32 Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác".36 Vậỉy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?"37 Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".
Chi Tiết Hay
(cc.25-28) Luật sĩ là người giảng dạy về luật Do Thái. Thay vì trả lời câu hỏi của người luật sĩ, Đức Giêsu đã hỏi ngược lại để ông ta tự trả lời.
(c.29) Theo sách Lêvi, người thân cận là người cùng thuộc dân Do thái. Trong dụ ngôn này, người thân cận dùng để chỉ thái độ của một người đối với những người khác, chứ không nhất thiết phải là họ hàng, bè bạn, hay hàng xóm lân cận.
(c.30) Đường từ Giêrusalem đến Jericho là một đọan đường gập ghềnh khúc khuỵu và đổ dốc trên 3,000 bộ từ những ngọn đồi xanh chung quanh Giêrusalem xuống tới vùng sa mạc thấp hơn mặt biển ở Jericho. Đoạn đường quanh co này được bao bọc bởi những tảng đá lớn, cộng thêm những hang động gần đó đã là nơi thích hợp để bọn ăn cướp mai phục và tấn công.
(c.32) Người Lêvi phụ giúp thày thượng tế những công việc nơi thờ phượng, như trông coi các đồvật nơi cung thánh, hướng dẫn lễ nhạc, sắp chỗ, và phụ giảng. Khởi đầu họ thuộc chi tộc Lêvi, là một trong những người con trai của Giacóp, và được giao cho việc trông coi nhà thờ tổ.
(c.33) Người Samaritan là dân cư ở Samaria, là vùng nằm giữa Galilê và Giuđêa. Họ không còn là nguyên gốc Do thái nữa vì đã kết hôn với nhiềi giống dân khác. Ngoài ra họ còn có đền thờ riêng trên đồi Gerizim chứ không chịu quy thuận về đền thánh Giêrusalem. Vì những lý do này mà người Do Thái không muốn liên hệ với người Samaritan.
(cc.34-37) Trong khi người luật sĩ muốn biết ai là người thân cận của mình trước rồi mới tuân theo luật mà thương yêu kẻ đó, người Samaritan trong dụ ngôn của Đức Giêsu lại làm ngược lại. Vùng Giuđêa không phải là nơi để người Samaritan lai vãng tới, và ông có thể bị coi là thủ phạm nếu bị bắt quả tang đang ở bên cạnh nạn nhân. Vậy mà ông đã can đảm làm những điều trái với sự suy nghĩ bình thường.
Một Điểm Chính: Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người Samaritan để lưu lại một sứ điệp hùng hồn: hãy yêu thương tất cả, và phục vụ những ai đang thiếu thốn, ngay cả những người mà bình thường ta không muốn giao tiếp, dù cho có thể bị trái luật hoặc có thể bị bắt lỗi thay vì được ngợi khen.
Suy Niệm
1. Có nhiều người mà bình thường tôi tránh không tiếp xúc (những người khác với tôi về chính kiến, màu da, hạng hút sách, hạng lãnh dạo kém đức dộ, những người kém thân thiện, v.v...). Có phải vì tôi sợ bị họ khước từ, bị mất thể diện, hay bị họ lợi dụng? Hay tôi sợ bị người khác hiểu lầm và coi thường khi tôi gần gũi nhữngngười này?
2. Tôi có sẵn sàng can đảm để cố gắng tìm đến với mọi người và săn sóc những người đang cần được giúp đỡ?
---------------------------------------------------
15th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Dt 30:10-14 II: Col 1:15-20
Gospel Luke 10:25-37
25 And behold, a lawyer stood up to put him to the test, saying, "Teacher, what shall I do to inherit eternal life?"26 He said to him, "What is written in the law? How do you read?"27 And he answered, "You shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul, and with all your strength, and with all your mind; and your neighbor as yourself."28 And he said to him, "You have answered right; do this, and you will live."29 But he, desiring to justify himself, said to Jesus, "And who is my neighbor?"30 Jesus replied, "A man was going down from Jerusalem to Jericho, and he fell among robbers, who stripped him and beat him, and departed, leaving him half dead.31 Now by chance a priest was going down that road; and when he saw him he passed by on the other side.32 So likewise a Levite, when he came to the place and saw him, passed by on the other side.33 But a Samaritan, as he journeyed, came to where he was; and when he saw him, he had compassion,34 and went to him and bound up his wounds, pouring on oil and wine; then he set him on his own beast and brought him to an inn, and took care of him.35 And the next day he took out two denarii and gave them to the innkeeper, saying, 'Take care of him; and whatever more you spend, I will repay you when I come back.'36 Which of these three, do you think, proved neighbor to the man who fell among the robbers?"37 He said, "The one who showed mercy on him." And Jesus said to him, "Go and do likewise."
Interesting Details
(vv.25-28) A lawyer was a person who interpreted and taught the Jewish law. Instead answering the lawyer, Jesus turned the question back for the inquirer's own answer.
(v.29) According to the Leviticus text, the neighbor is one's fellow Israelite. In this parable, 'neighbor' is the attitude a person has toward others rather than the blood or social bonding, or physical closeness in locality.
(v.30) The route from Jerusalem to Jericho was a crooked trail descending over 3,000 feet from the green hills around Jerusalem to the desert wilderness below sea level at Jericho. The winding road surrounded by many huge boulders and nearby caves made it a likely place for ambushes by robbers.
(v.32) A Levite assisted the priest in the place of service, taking care of the altarware and providing musical leadership, ushering, and teaching. Originally, the Levites were descendants of Levi, one of the sons of Jacob, and were charged with the care of the sanctuary.
(v.33) The Samaritans were residents of the district of Samaria, located between Galilee and Judea. Because of intermarriages with other nationalities, they were not of pure Jewish blood. They also had a rival place of worship to the Temple in Jerusalem on Mount Gerizim. For these reasons, the Jewish had no dealings with the Samaritans.
(vv.34-37) While the lawyer wants to know who was his neighbor before he loves that person, the Samaritan did just the opposite. Being a Samaritan in Judea, he is in the wrong place and might become the suspect if caught near a victim, and yet he did the unexpected.
One Main Point: Jesus uses this parable to send His powerful message: love all and serve anyone who is in need. This action should not exclude those we are not normally associated with, it may appear to be against the law and we might be blamed for instead of being praised.
Reflections
1. There are certain people that I would normally avoid being in contact with (people with different political viewpoints, other races, drug users, unkind leaders, unfriendly people, etc.)? Is it because of my fear of being rejected or defeated, or taken advantage of by them, or fear of being misjudged and disrespected by others when I am around these people?
2. Am I ready to have courage in trying to reach out to everyone and care for those who need help?

Sunday, July 08, 2007

Chúa Nhật 14 Thường Niên (Luke 10:1-12,17-20)

Bài Đọc I: Isaiah 66;10-14 II: Galatians 6:14-18
Phúc Âm Luca 10:1-12,17-20
1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!"6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông".10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói:11 "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần".12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó".17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỵ cũng phải khuất phục chúng con".18 Đức Giêsu bảo các ông: "Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống.19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỵ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời".
Chi Tiết Hay
(c.1) "Sau đó": sau khi vào làng Sa-ma-ri và bị dân làng từ chối tiếp đón (9:51-53), Đức Giêsu tiếp tục cuộc hành trình của Ngài lên Giêrusalem để chịu nạn, chịu chết, được phục sinh và lên trời.
"bảy mươi hai": theo sự giảng dạy của Do Thái giáo có bảy mươi hai quốc gia trên thế giới (Kh 10:2-31). Luca có thể muốn ám chỉ sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội cho toàn thể nhân loại sau khi Đức Giêsu ra đi.
"từng hai người một": Các môn đệ được sai đi từng hai người một để giúp đỡ nhau và cũng để làm chứng lẫn cho nhau về những gì họ kể lại (Đnl 19:15, Mt 18:16).
(c.3) "chiên con giữa bầy sói": cho thấy trước các thừa sai sẽ không có phương tiện tự vệ khi gặp những sự hung dữ nơi các xứ xa lạ, và cũng nhắc lại lời tiên tri của Isaia rằng chiên con sẽ nằm bên sói dữ (Is. 11:6, 65:25)
(c.4) Vì sự cấp bách, các thừa sai của Đức Giêsu phải tự do với của cải vật chất, không đem theo gì cả, và cũng không để bị chi phối bởi những tục lệ chào hỏi thông thường.
(c 17) "ma quỉ": nhắc lại quyền năng của Đức Giêsu trên ma quỉ tại Galilê (8:26-39). Đức Giêsu trao cho bảy mươi hai môn đệ quyền trừ ma quỉ tương tự như đã cho Nhóm Mười Hai (9:1-2).
(c.19) "rắn rết, bọ cạp": là những hiện thực của sự dữ trong cuộc sống Palestine (Cvtđ 28:1-6)
(c.20) "tên anh em được ghi trên trời": các môn đệ đã được lãnh nhận phần thưởng cứu chuộc.
Một Điểm Chính: Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh đi rao giảng vì họ là khí cụ của ân sủng Thiên Chúa. Đó là lý do thực sự để các ông vui mừng.
Suy Niệm
Đức Giêsu mời tôi rao giảng Tin Mừng của Ngài như thế nào trong thế giới ngày hôm nay? Đâu là những trở ngại tôi đang gặp? Tôi cần những gì để vượt thắng những trở ngại này?
Đã bao giờ tôi cảm thấy như một chiên non đi giữa sói dữ chưa? Tôi đã học được kinh nghiệm gì chăng?
------------------------------------------------
14th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Isaiah 66:10-14 II: Galatians 6:14-18
Gospel Luke 10:1-12,17-20
1 After this the Lord appointed seventy-two others and sent them two by two ahead of him to every town and place where he was about to go.2 He told them, "The harvest is plentiful, but the workers are few. Ask the Lord of the harvest, therefore, to send out workers into his harvest field. 3 Go! I am sending you out like lambs among wolves.4 Do not take a purse or bag or sandals; and do not greet anyone on the road.5 "When you enter a house, first say, `Peace to this house.'6 If a man of peace is there, your peace will rest on him; if not, it will return to you.7 Stay in that house, eating and drinking whatever they give you, for the worker deserves his wages. Do not move around from house to house.8 "When you enter a town and are welcomed, eat what is set before you.9 Heal the sick who are there and tell them, `The kingdom of God is near you.'10 But when you enter a town and are not welcomed, go into its streets and say,11 `Even the dust of your town that sticks to our feet we wipe off against you. Yet be sure of this: The kingdom of God is near.'12 I tell you, it will be more bearable on that day for Sodom than for that town.17 The seventy-two returned with joy and said, "Lord, even the demons submit to us in your name."18 He replied, "I saw Satan fall like lightning from heaven.19 I have given you authority to trample on snakes and scorpions and to overcome all the power of the enemy; nothing will harm you.20 However, do not rejoice that the spirits submit to you, but rejoice that your names are written in heaven."
Interesting Details
(v.1) "After this": after entering a Samaritan village and being rejected by the Samaritans (9:51-53), Jesus continues His journey to Jerusalem where His exodus - suffering, death, resurrection and ascension - is to take place.
"seventy-two others": according to the rabbinic teaching there were seventy-two nations in the world (Gen10:2-31). Luke probably means the universal mission of the church after the departure of Jesus.
"Two by two": being sent in pairs, Jesus' disciples are to give each others mutual support and to bear witness to the truth of their formal testimony (Deut19:15, Mt18:16).
(v.3) "lambs in the midst of wolves": a reminder that missionaries may be defenseless before hostile peoples, it also recalls the prophecy of Isaiah that the lamb will lie down with the wolf. (Is 11:6, 65:25).
(v.4) "carry no purse ...salute no one on the road": because of the urgency of the mission, the missionaries are to be detached from material possessions, not to take anything along, not even be distracted by the customary greetings.
(v.17)"demons": recall Jesus' power over the demons in Galilee (8:26-39). Jesus gave the seventy-two disciples the same power that was given the Twelve (9:1-2).
(v.19) "serpents and scorpions": were the sources of physical evil in Palestinian life and the forces of destruction (Acts 28:1-6).
(v.20) "your names are written in heaven": the disciples themselves have received the gift of salvation.
One Main Point: The disciples are successful because they are instruments of God's grace. That is the real reason for rejoicing.
Reflections
How does Jesus ask you to spread the Gospel in the world today? What obstacles do you see in your path? What do you need to overcome these obstacles?
Have you ever felt like a lamb walking among wolves? What did you learn from those experiences?

Sunday, July 01, 2007

Chúa Nhật 13 Thường Niên - 13th Sunday in Ordinary Time (Luke 9:51-62)

Bài Đọc I: 1Kings 19:16,19-21 II: Galatians 5:1,13-18
Phúc Âm Luca 9:51-62
51 Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem.52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến.53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem.54 Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?"55 Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông.56 Rồi Thầy trò đi sang làng khác.57 Thầy trò còn đang đi trên đường, thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo".58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".59 Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã".60 Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã".62 Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
Chi Tiết Hay
Đoạn Phúc Âm này khởi đầu cuộc hành trình của Đức Giêsu về Giêrusalem. Trong cuộc hành trình này (9:51-19:27), Thánh Luca diễn tả một hình ảnh rất lôi cuốn về Đức Giêsu, người con trung thành và nhất quyết, qua lời nói và qua hành động dạy chúng ta con đường dẫn đến cuộc sống với Thiên Chúa.
(c.51) Trong đoạn Phúc Âm Đức Giêsu biến hình (9:31), Ngài đã trò chuyện với Môsê và Elia về cuộc xuất hành, tức là về sự chết, sự sống lại và lên trời, mà Người sẽ hoàn tất ở Giêrusalem. Trong trang nghiêm, Đức Giêsu bắt đầu cuộc hành trình đi Giêrusalem, thành phố biểu tượng cho sự liên tục giữa cũ và mới trong chương trình của Thiên Chúa, và cũng từ đó lời Chúa sẽ được rao giảng cho mọi dân nước (24:27).
(cc.52-53) Samaria là vùng đất ở giữa Giudêa và Galilê. Cuộc hành trình từ Galilê tới Giêrusalem thuộc Giudêa buộc phải đi ngang Samaria. Vì lý do sắc tộc và lịch sử, người Samaria không thân thiện với người Do thái (như trong Gioan 4:9, Đức Giêsu và người phụ nữ Samaria bên bờ giếng), nhất là đối với những người Do thái phải băng qua xứ của người Samaria trên đường đi đất thánh Giêrusalem. Cho tới bây giờ, người Samaria vẫn tin là phải thờ phượng Chúa ở núi Gerizim, còn Giêrusalem tượng trưng cho tà giáo.
(c.54) "Lửa từ trời xuống" như trong 2Kings 1:10-12, tiên tri Êlia đã hai lần gọi lửa từ trời xuống tiêu diệt kẻ thù. (c.55) Nhưng Đức Giêsu đã hành động như lời Người dạy là không trả thù kẻ thù địch mình.
(cc.59-60) "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ" thường được hiểu là những kẻ không dáp trả lời Chúa sẽ bị chết về mặt thiêng liêng, họ còn thời giờ để đi chôn người chết về thể lý. Đòi hỏi của Đức Giêsu còn hơn cả nghĩa vụ hiếu thảo quan trọng nhất của người Do thái là chôn cất tiêm tất cho người cha của mình. Vào thời đó, người con trai cả phải ở với cha mẹ, lo ruộng vườn và lo chôn cất cho cha mẹ. Làm như vậy cũng mất ngót 30 năm. Đức Giêsu thách thức dân chúng đi theo Ngài ngay bây giờ chứ không phải đợi hết bao nhiêu năm sau.
(c.61) Trong 1Kings 19:19-21, Êlia cho phép môn đệ của mình là Êlisa thời giờ để giã biệt những người trong gia đình, nhưng lời gọi về nước Thiên Chúa còn khẩn thiết hơn.
(c.62) Phương pháp canh nông thời đó còn rất thô thiển, người nhà nông dùng một tay để giữ cày, còn tay kia để điều khiển trâu. Nếu anh ta quay lại thì luống cày sẽ không được thẳng.
Một Điểm Chính
Là người theo Đức Giêsu, điều ưu tiên nhất luôn là Nước Trời. Nó phải vượt trên đời sống thoải mái và mọi liên hệ gia đình không chút do dự hoặc hối tiếc.
Suy Niệm
Phản ứng của tôi thế nào khi tôi bị chối từ trong một nhóm, trong một xã hội hay một quốc gia mới? Tôi làm gì để trung dung trong một xã hội đa chủng? Cảm nghiệm sự khó chịu của Giacôbê và Gioan, nhưng hãy lắng nghe lời nói và hành động của Đức Giêsu lúc ấy.
Hãy tưởng tượng cuộc hành trình của Đức Giêsu từ Galilêa tới Giêrusalem là cuộc hành trình của cuộc đời. Tôi có cùng đích không? Nếu có, cùng đích đó là gì? Ưu tiên trong cuộc sống hiện tại của tôi là gì? Tôi phải đi theo con đường này thế nào?
------------------------------------------
13th Sunday in Ordinary Time
Reading I: 1 Kgs 19:16b, 19-21 II: Galatians 5;1,13-18
Gospel Luke 9:51-62
51 When the days drew near for him to be received up, he set his face to go to Jerusalem.52 And he sent messengers ahead of him, who went and entered a village of the Samaritans, to make ready for him;53 but the people would not receive him, because his face was set toward Jerusalem.54 And when his disciples James and John saw it, they said, "Lord, do you want us to bid fire come down from heaven and consume them?"55 But he turned and rebuked them.56 And they went on to another village.57 As they were going along the road, a man said to him, "I will follow you wherever you go."58 And Jesus said to him, "Foxes have holes, and birds of the air have nests; but the Son of man has nowhere to lay his head."59 To another he said, "Follow me." But he said, "Lord, let me first go and bury my father."60 But he said to him, "Leave the dead to bury their own dead; but as for you, go and proclaim the kingdom of God."61 Another said, "I will follow you, Lord; but let me first say farewell to those at my home."62 Jesus said to him, "No one who puts his hand to the plow and looks back is fit for the kingdom of God."
Interesting Details
This passage begins the journey that leads Jesus to Jerusalem. Luke's journey narrative (9:51-19:27) presents a captivating portrait of Jesus, the faithful and the resolute Son (9:35), who in word and deed teaches the way that leads to life with God.
(v.51) At the transfiguration, Jesus conversed with Moses and Elijah about his exodus, a reference to the death, resurrection and ascension that he was to fulfill in Jerusalem (9:31). With great solemnity, Jesus now sets out on his journey to Jerusalem, the city that symbolizes the continuity between the old and the new in God's plan; and from there the words will be preached to all the nations (24:47).
(vv.52-53) Samaria was the territory between Judea and Galilee. The journey from Galilee to Jerusalem in Judea must pass through Samaria. For ethnic and historic reasons, Samaritans were not friendly to the Jews (Jn 4:9), especially when the Jews were passing through their territory on the way to the holy city, Jerusalem. The Samaritans to this day believe that God should be worship on Mount Gerizim and Jerusalem represents a heresy.
(v.54) "Fire from heaven" alludes to 2Kings 1:10-12 where the prophet Elijah twice called down fire from to destroy his enemies. (v.55) Jesus lives out in deed his teaching about non-retaliation against enemies.
(vv.59-60) "Let the dead bury their dead" is commonly interpreted as those who do not respond to the Gospel will be spiritually dead; they will have time to bury the physically dead. Jesus' demand even overrides the most important filial obligation to the Jews, which is to bury one's father. At that time the eldest son would stay with his parents, manage their properties, and bury them. This may take almost 30 years. Jesus challenged the people to follow him now, not years later.
(v.61) Elijah gave permission to his disciple Elisha to bid good-bye to his family (1Kgs 19:19-21), but the call of the reign of God is more urgent.
(v.62) The farming practice at that time was very primitive. A farmer guided a plow by one hand while his other hand drove the unruly oxen. If he looked back, the new furrow became crooked.
One Main Point
To be a follower of Jesus, the priority is always the kingdom of God. It supercedes a comfortable life and family relationships without hesitation or regret.
Reflections
What is my reaction when I feel unwelcome in a group, a society or a new land? How do I tolerate diversity? Feel the anger of James and John, but listen to the words and the deed from Jesus.
Imagine the journey of Jesus from Galilee to Jerusalem as the journey of my life. Do I have a destination? What is it? What is my priority in life? How do I follow the way?