Showing posts with label Education. Show all posts
Showing posts with label Education. Show all posts

Monday, December 04, 2006

Thầy và trò

Bài phát biểu trước các em học sinh dưới đây được Einstein công bố chính thức trong lần xuất bản đầu tiên của cuốn "Mein Weltbild", Amsterdam, 1934.Nghệ thuật quan trọng nhất của người thầy là đánh thức niềm vui trong lao động và trong nhận thức.

Các em học sinh thân mến!

Tôi vui mừng được thấy các em tụ hội về đây ngày hôm nay, tuổi trẻ vui tươi của một đất nước đầy nắng ấm và an lành.

Hãy nghĩ rằng những điều tuyệt diệu mà các em được làm quen ở trường là thành quả của nhiều thế hệ, được tạo dựng nhờ khát vọng hăng say với nhiều nỗ lực từ mọi nơi trên thế giới. Tất cả được trao vào tay các em như phần gia tài thừa kế, để các em đón nhận, trân trọng, tiếp tục trau dồi và một ngày kia, trung thành trao lại vào tay con cháu các em. Bằng cách đó, những con người trần thế chúng ta sẽ trở thành bất tử trong những thành quả để lại, những thành quả mà chúng ta cùng nhau tạo dựng.

Nếu các em luôn nghĩ tới điều đó, các em sẽ tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống và trong nỗ lực của mình. Các em cũng sẽ tìm được thái độ ứng xử đúng đắn với các dân tộc và các thời đại khác.

ALBERT EINSTEIN _ TUỔITRẺ ONLINE

Thursday, November 30, 2006

Một mô hình giáo dục trung học 41 năm về trước

Chúng ta cần phải quan tâm đến việc cải tổ bậc trung học trước khi đổi mới nền giáo dục đại học...

Mọi khó khăn, dù lớn lao đến đâu, cũng có thể vượt qua nếu có tinh thần đoàn kết, bất vụ lợi của những người làm giáo dục.

Từ năm 1945, khi bắt đầu giảng dạy bậc trung học theo chương trình Hoàng Xuân Hãn, cho đến ngày nay tôi vẫn có một niềm tin tưởng mạnh mẽ rằng nền giáo dục tiểu học và trung học VN phải do người VN xây dựng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa VN, chứ không thể trông cậy các nhà giáo dục nước ngoài và cũng không thể bứng trồng nền giáo dục của một nước nào khác, dù là tân tiến nhất.

Mãi đến khi có cơ hội du học ở Anh (1956) và ở Mỹ (1963) tôi mới nhận ra ngoài nền giáo dục Pháp mà chúng ta rất quen thuộc, còn có nhiều nền giáo dục khác trên thế giới cũng tiến bộ không kém, đặt căn bản trên triết lý giáo dục phù hợp với nền văn hóa, xã hội, kinh tế riêng của từng nước. Tôi biết được điều này qua các môn học về giáo dục đối chiếu (comparative education) và giáo dục quốc tế (international education) mà tôi đã có dịp học tập và nghiên cứu lúc bấy giờ.

Sau khi du học trở về, tôi mong muốn tha thiết rằng nền giáo dục VN được đổi mới và tôi sẽ đóng góp một phần nhỏ vào sự thay đổi ấy. Tôi nhớ lúc ấy vào khoảng tháng 3-1965, tức bảy tháng trước khi Trường trung học Kiểu mẫu (THKM) Thủ Đức được khai giảng khóa đầu tiên, tôi đệ trình ông khoa trưởng ĐH Sư phạm Trần Văn Tấn một bản dự án thành lập Trường THKM trực thuộc ĐH Sư phạm Sài Gòn.

Trong một môi trường xã hội không mấy thuận lợi, chúng tôi đã cố gắng thiết lập một mô hình giáo dục trung học mới chưa từng có tại VN, với một chương trình học đặt căn bản trên triết lý, mục tiêu và điều kiện riêng của nhà trường (school-based curriculum), sự phối hợp giáo dục phổ thông và giáo dục hướng nghiệp, việc thiết lập các ban công kỹ nghệ, kinh tế gia đình, canh nông và doanh thương cho HS phổ thông, việc tổ chức các hoạt động hướng dẫn (guidance) và khải đạo (counseling), việc áp dụng phương pháp giảng dạy và học tập lấy HS làm trung tâm (student-centered teaching and learning), việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong việc đánh giá học tập, tìm hiểu tâm lý và tuyển sinh...

Tất cả các hoạt động ấy chưa từng có tại bất cứ trường trung học nào ở VN vào thời ấy, kể cả một trường mới cũng mang tên là THKM nhưng được đặt tại Huế, hay loại trường trung học tổng hợp mà bộ giáo dục của chế độ cũ đang chuẩn bị thiết lập vào lúc ấy với sự góp sức của các chuyên gia Mỹ.

Sự táo bạo ấy của chúng tôi đã mang đến kết quả tốt đẹp không ngờ: Trường THKM Thủ Đức được khai giảng vào tháng 10-1965 nhờ sự quyết tâm của toàn thể ban giảng huấn và nhân viên văn phòng, với sự hỗ trợ về mọi phương diện của Trường ĐH Sư phạm và nhất là sự đóng góp bất vụ lợi của hội cha mẹ HS. Chỉ qua một niên học đầu tiên, Trường THKM đã trở thành một trung tâm giáo dục mới khá nổi tiếng, tiếp đón các phái đoàn giáo dục trong nước và quốc tế đến tham quan, và cuối niên học ấy nhà trường đã nhận được rất nhiều quà biếu làm phần thưởng cho HS.

Qua kinh nghiệm nói trên, tôi nghĩ trong lĩnh vực giáo dục, bất cứ khó khăn nào cũng có thể vượt qua nếu có sự đoàn kết, đồng tâm nhất trí của toàn thể giáo viên và cha mẹ HS, nhất là khi mọi người thực tâm chăm lo giáo dục con em với tinh thần bất vụ lợi hoàn toàn. Nhà trường không thu học phí, không có “quĩ đen”.

Hiệu trưởng và các thầy giáo Trường THKM Thủ Đức chỉ ăn lương nhà nước, không có thì giờ dạy thêm ở nhà hay bất cứ nơi nào khác. HS cũng chỉ học ở trường là đủ, không cần phải học thêm ở bất cứ nơi nào. Thật là một điều khó tưởng tượng được ngày nay, nhưng các đồng nghiệp của tôi tại Trường THKM Thủ Đức lúc bấy giờ chỉ xem nó như là một chuyện rất bình thường.

Ngày nay, đa số HS Trường THKM Thủ Đức đều thành đạt vẻ vang trong nước và ngoài nước, đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước. Điều này được chứng tỏ qua các cuộc họp của gia đình THKM tại TP.HCM vào tháng mười hằng năm.

TS DƯƠNG THIỆU TỐNG
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=175127&ChannelID=13

Saturday, November 25, 2006

Chín vấn đề của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Nhận được tổng số 31 ý kiến chất vấn bằng văn bản, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo đã hệ thống lại thành 9 vấn đề để trả lời ĐB Quốc hội.

Không có trọng tâm cải cách chỉ có trọng tâm đổi mới?

Trả lời nhóm câu hỏi đâu là trọng tâm của cải cách giáo dục, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói Nghị quyết Quốc hội không đặt ra vấn đề cải cách, chỉ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

Để nói về tầm quan trọng khi đã xác định cải tổ giáo dục, ông nói Việt Nam đến nay mới có 3 cuộc cải cách giáo dục. Theo ông, Nghị quyết 40/2000/QH10 của QH chỉ đề ra mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ...

Thực hiện Nghị quyết, chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã được tập trung đổi mới với những nét cơ bản như: bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với năng lực tiếp thu của học sinh. Giảm bớt những nội dung mang tính hàn lâm, tăng những nội dung thiết thực có ý nghĩa đối với cuộc sống của học sinh; giảm hợp lý những kiến thức mang tính lý thuyết, tăng những kiến thức thực hành và vận dụng được vào cuộc sống....

Ngoài ra, Bộ trưởng cũng dẫn ra hàng loạt những thành tựu mới mà bộ đã đổi mới theo tinh thần Nghị quyết QH liên quan đến các chủ đề như phương pháp giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục, về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.

Sách giáo khoa lần này sẽ ổn định trong 10-15 năm?

Soạn: HA 967167 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân.

Với nhóm câu hỏi đâu là giải pháp ổn định chương trình giáo dục và sách giáo khoa, Bộ trưởng Nhân cho biết ngay từ năm 2003, Bộ đã chuẩn bị hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông. Thành lập Ban Chỉ đạo hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông và 23 Tiểu ban hoàn thiện chương trình các môn học từ Tiểu học đến THPT, gồm 135 thành viên là các nhà khoa học, nhà sư phạm, cán bộ quản lý giáo dục và các nhà giáo có tay nghề cao đang giảng dạy ở các trường.

Bộ trưởng nói chương trình giáo dục phổ thông ban hành lần này sẽ được áp dụng ổn định trong vòng từ 10 đến 15 năm. Trong khoảng thời gian đó, yêu cầu cập nhật các thành tựu khoa học công nghệ mới có liên quan đến giáo dục phổ thông sẽ được thực hiện thông qua khâu hướng dẫn tổ chức thực hiện của Bộ để bảo đảm tính ổn định của Chương trình.

Cùng với việc ổn định Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa cũng sẽ được ổn định.

Trả lời câu hỏi về đâu là giải pháp phát huy hiệu quả của chương trình và sách giáo khoa mới, ông chỉ cho biết việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng đặt ra yêu cầu cấp bách và “Bộ đã và đang từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên”.

Sau đó ông nêu ra một loạt các mục tiêu cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên như xác định vị trí, vai trò xã hội và tiêu chuẩn phẩm chất theo yêu cầu nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo. Nâng cao trình độ và tay nghề chuyên môn, bồi dưỡng cho giáo viên khả năng tự học...

Cuối cùng, ông kết luận “nhìn chung, công tác bồi dưỡng giáo viên đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa. Bộ phận giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên và có tay nghề từ loại khá trở lên đã đáp ứng tốt yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa mới; bộ phận giáo viên trình độ trung bình sau 1-2 năm tích luỹ kinh nghiệm đã theo kịp yêu cầu”.

Những hạn chế trong công tác thiết bị dạy học

Đối với nhóm câu hỏi về làm sao để tăng cường trang thiết bị dạy học, Bộ trưởng Nhân cho biết, Bộ đã xác định: Thiết bị dạy học là thành tố quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học.

Về giải pháp thực hiện chủ trương nói trên, Bộ đã có những giải pháp cụ thể như đề ra quy định về công tác thiết bị dạy học phổ thông, ban hành Danh mục thiết bị dạy học theo từng lớp học, ban hành mẫu thiết bị dạy học, ban hành các văn bản hướng dẫn...

Đánh giá về thiếu sót, hạn chế của công tác thiết bị dạy học, ông Nhân nói thời gian đầu thực hiện Bộ chưa ban hành mẫu thiết bị dạy học thống nhất, quy định số lượng trong danh mục thiết bị dạy học tối thiểu của một số thiết bị chưa sát thực tế nên các địa phương gặp khó khăn trong lập kế hoạch mua sắm, đối chiếu nghiệm thu, tập huấn giáo viên sử dụng hoặc một số nơi mua vượt quá số lượng cần thiết.

Ngoài ra, ông nêu thêm một số yếu kém ở địa phương như: thiết bị dạy ở một số địa phương không có chỗ để, chưa phát huy hiệu quả sử dụng do cơ sở vật chất, phòng học, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm còn thiếu thốn.

Một số địa phương mua sắm thiết bị quá số lượng quy định là do chưa thực hiện đúng hướng dẫn của Bộ về rà soát cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có và nhu cầu của các trường để mua sắm.

Chiều nay, bộ trưởng Nhân đã trả lời được 6 câu hỏi chất vấn trực tiếp. Ông tỏ ra xúc động khi nói về khó khăn của giáo viên miền núi...

Sunday, November 12, 2006

2020: Việt Nam sẽ có 600 trường ĐH, CĐ?


Năm 2020, dự kiến có 600 trường ĐH và CĐ (trong đó 225 trường ĐH và 375 trường CĐ), tăng 288 trường so với hiện nay. Sẽ hình thành và phát triển một số trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tập trung của cả nước và mỗi vùng.

Cuộc hội thảo xung quanh "Đề án quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006-2020" đã diễn ra sôi nổi trong suốt cả ngày 10/11. Đa số các đại biểu đều nhận định, dự thảo đề án thực hiện khá công phu.

Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều đóng góp trước khi đi đến một bản hoàn chỉnh.

450 SV/1 vạn dân: khó khả thi?

Mạng lưới các trường ĐH, CĐ sẽ tập trung vào các trung tâm lớn của cả nước, như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ và quy hoạch theo 8 vùng địa lý: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long. Mỗi vùng sẽ có hạt nhân đặt trường ĐH vùng và các vệ tinh.

Theo thống kê năm học 2005-2006, cả nước có xấp xỉ 1.387.100 SV, vào khoảng 13.3% tổng số dân trong độ tuổi học ĐH (từ 18-24 tuổi) và chiếm tỷ lệ 166,5 SV/1 vạn dân.

Đây là mức thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình của thế giới và một số nước trong khu vực.

Đề án xác định, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, "cùng với việc nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả đào tạo", sẽ phấn đấu tỷ lệ 200 SV/1 vạn dân (năm 2010), 300 SV/1 vạn dân (năm 2015) và 450 SV/1 vạn dân (năm 2020).

Tương quan với mức phát triển dân số dự báo, thì con số này có nghĩa: Tổng quy mô đào tạo ĐH-CĐ phải đạt ít nhất khoảng 1,8 triệu SV (năm 2010), 2,5 triệu SV (năm 2015) và 4,5 triệu SV (năm 2020).

Ông Phan Quang Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư băn khoăn: "Năm 2020, với quy mô SV tăng gấp 3,5 lần, muốn duy trì khả năng đào tạo tối thiểu như hiện tại, thì ít nhất tất cả các điều kiện phải tăng gấp 3,5 lần về số lượng". Các điều kiện đó là các yếu tố liên quan như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên...

"Đó mới là để đảm bảo chất lượng giáo dục như hiện nay (rất thấp), chưa tính đến chuyện nâng cao chất lượng như mục tiêu đặt ra năm 2020".

Đến 2020, Việt Nam phải có 600 trường ĐH, CĐ, trong khi con số này hịên tại là 300.

Với kinh nghiệm làm thanh tra giáo dục, một đại biểu dẫn chứng nhiều trường hợp các ĐH, CĐ dân lập được thành lập kiểu "tay không bắt giặc": cơ sở vật chất đi thuê không ổn định, đội ngũ giảng viên cơ hữu ít... "Trường mới thành lập đủ tất cả điều kiện để đảm bảo chất lượng, thì sợ đến năm 2020 chỉ được 50 trường, chưa tính đến mục tiêu đặt ra là các trường phải đạt chất lượng tốt. Con số 300 trường ĐH- CĐ đựơc thành lập mới trong 14 năm tới theo đánh giá của nhiều đại biểu là “khó khả thi”.

Sẽ có cơ chế mở về Tài chính!

Tại hội thảo, Bộ GD-ĐT cũng dự kiến đề xuất: Tất cả các đầu mối quản lý nhà nước trong giáo dục - đào tạo thu về một đầu mối là Bộ GD-ĐT.

Hiện tại, có 311 ĐH, CĐ đang trực thuộc quyền quản lý của: 2 ĐHQG (9 trường), Bộ GD-ĐT (92), Các Bộ, ngành Công nghiệp và Kinh tế (46), Các Bộ, ngành Văn hoá - Xã hội (37), Các Bộ, ngành khác (27), Các địa phương (100).

Vấn đề nóng không kém, được nhiều đại biểu nhất trí là "để củng cố hoạt động cho trường công lập là học phí phải tăng lên". Định hướng này giúp các trường giảm áp lực tăng SV (thường là hệ tại chức) để bù chi.

Đầu tư giáo dục được xác định từ các nguồn ngân sách nhà nước, nguồn xã hội và nguồn đầu tư nước ngoài.

Quan điểm của Bộ GD-ĐT là: "Không phải khung học phí có nhiệm vụ phải để người nghèo chịu nổi, mà phải gắn với chi phí thực tế". Một hướng được đề ra là xem xét tới hình thức đảm bảo cho SV vay tín dụng, và tăng mức học bổng.

Ông Trần Quốc Toản, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cũng đồng tình với ý kiến, nguồn ngân sách nhà nước dành cho giáo dục hiện nay, "kể cả tăng gấp đôi cũng không đáp ứng được nhu cầu".

Ông cho biết, Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng cơ chế cho các trường vay ưu đãi. Hiện, Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Tài chính đang xây dựng cơ chế này.

"Một hướng khác" được đại biểu này gợi ý là, các trường ĐH trong các thành phố lớn, chật chội, có thể đề nghị chuyển đổi quyền sử dụng đất và cơ sở vật chất để lấy vốn đi ra xây dựng tại các vùng ngoại vi. Theo đánh giá, nhiều trường ĐH "có thể không thích đi xa trung tâm", nhưng đây là hướng rất tích cực để tận dụng phát triển.

Về cơ sở vật chất, đáng chú ý là chủ trương "sẽ tạo cơ chế để các trường có điều kiện chủ động khai thác nguồn lực tài chính", giao quyền chủ động cho các trường ĐH, CĐ trong lập và quản lý tiền lương

2020: Phải có trường ĐH tiên tiến trong khu vực

Đề án xác định phân tầng rõ ràng mạng lưới các trường ĐH: Các trường ĐH đẳng cấp quốc tế; ĐH trọng điểm quốc gia; ĐH và CĐ đào tạo diện rộng; ĐH và CĐ cộng đồng. Quan điểm này được hầu hết các đại biểu ủng hộ.

Ngoài mục tiêu phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục ĐH nói chung, phải có những trường vươn lên để là đầu tầu, cũng như "ngoài sản xuất hàng đại trà, đã đến lúc phải xác định cụ thể về kế hoạch hàng hiệu, hàng đẳng cấp, nhất là trong bối cảnh ta đã ra nhập WTO" - một đại biểu so sánh.

"Một sự thật là chưa có một trường ĐH nào của Việt Nam được đánh giá ở trình độ khu vực và trên thế giới. Yếu tố đơn giản nhất để xác nhận điều này là các bằng cấp của ta có được chấp nhận khi SV đi xin học, hay xin việc ở môi trường quốc tế hay chưa? Chưa! Điều này là một thiệt thòi cho SV ta" - ông Nguyễn Văn Nam, Phó Hiệu trưởng ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội khẳng định.

Cuộc hội thảo cũng nhấn mạnh ở việc: Phải phân rõ trình độ nơi đào tạo: Đẳng cấp cao và đại trà. Giữa trường ĐH đẳng cấp với toàn bộ hệ thống giáo dục. Vừa tiến hành song song việc đẩy mạnh toàn bộ hệ thống giáo dục vừa "đi tắt, đón đầu" bằng những thế mạnh.

ĐH đẳng cấp phải có đội ngũ giáo viên chất lượng. Ông Trần Quốc Toản cho biết, theo tiêu chí về chất lượng giáo dục thì hệ thống ĐH, CĐ hiện tại thiếu 22.000 giảng viên. Ông khẳng định: Chính phủ đã nêu rõ phải "hình thành một chương trình quốc gia về đào tạo đội ngũ giảng viên".

Khắc phục tình trạng này, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định, sẽ xây dựng chính sách huy động các nhà khoa học đủ điều kiện đang làm việc trong các Viện Nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia giảng dạy, ĐH, CĐ; thực hiện đào tạo tại chỗ theo hình thức cử tuyển để đáp ứng nguồn nhân lực cho các địa phương, đặc biệt là ở các vùng miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

...Hiện tại, ban soạn thảo đề án đang tiếp tục hoàn chỉnh để trình Chính phủ trong tháng 11.

Sẽ có các trung tâm ĐH tập trung

Nhiều ý kiến tại hội thảo khẳng định, sẽ hạn chế tình trạng "tỉnh nào cũng phấn đấu có ĐH". Theo đó, sẽ hình thành các cụm tỉnh chia theo vùng địa lý, trong đó, các địa phương sẽ đấu thầu các phương án xây dựng trường ĐH vùng.

Có ý kiến cho rằng, đã là ĐH vùng thì xác định đối tượng tuyển sinh cũng nằm trong phạm vi vùng (chứ không tuyển sinh toàn quốc) để tập trung cho mục tiêu đào tạo nhân lực cho vùng kinh tế.

Hiện tại, 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM không thể có diện tích để xây thêm ĐH, CĐ nào nữa. Với kế hoạch phát triển mạng lưới ĐH, CĐ thì vị trí tập trung sẽ là các vùng trọng điểm, có điều kiện kinh tế phát triển. Các vùng điều kiện khó khăn sẽ có quy hoạch khác.

Theo đó, sẽ có những khu ĐH được nhà nước đảm bảo chính sách về đất đai. Tuy nhiên, vấn đề này cũng có ý kiến cho rằng "Hình thành trung tâm ĐH không hề đơn giản chỉ là mà còn liên quan đến các vấn đề chính trị, xã hội, nhất là với một lượng SV rất lớn tập trung". Hơn nữa, đầu tư cho khu ĐH không giống đầu tư cho khu Công nghiệp, vì chi phí rất lớn. Hướng thu hút các trường ĐH liên doanh hay 100% vốn nước ngoài cũng là kế hoạch.

Wednesday, November 08, 2006

Khuyến khích dạy thêm học thêm chính đáng!

Khuyến khích dạy thêm, học thêm chính đáng và chỉ nghiêm cấm những hiện tượng lệch lạc hoặc tiêu cực. Ý kiến này được thống nhất tại Hội thảo về Quản lý dạy thêm, học thêm do Bộ GD-ĐT tổ chức sáng 7/11. Dự kiến, ngày 20/11, dự thảo về vấn đề này sẽ được công khai để lấy ý kiến đóng góp của toàn dân.

Các nguyên tắc trong vấn đề dạy thêm - học thêm: Tự nguyện; Nội dung, phương pháp phù hợp với mục tiêu GD phổ thông, đúng đối tượng; Tuân thủ các quy định của cơ quan có thẩm quyền về dạy thêm, học thêm; Đảm bảo hài hoà giữa người dạy, người học và xã hội; Khuyến khích dạy thêm học thêm không thu tiền.

Dự thảo quy định về việc dạy - học thêm trong và ngoài nhà trường. Theo đó, việc dạy thêm học thêm trong nhà trường được tổ chức trong cơ sở giáo dục có dạy chương trình phổ thông, bao gồm: phụ đạo, bồi dưỡng học sinh; ôn tập thi tốt nghiệp; dạy thêm theo nguyện vọng của học sinh. Dạy thêm ngoài nhà trường là dạy thêm, học thêm được tổ chức ngoài cơ sở giáo dục theo chương trình phổ thông, bao gồm: bồi dưỡng văn hoá, luyện thi ở các trung tâm, các lớp độc lập.

Theo ông Trần Văn Nghĩa, Phó Cục trưởng Cục Khảo thí, dạy thêm, học thêm là nhu cầu chính đáng của phụ huynh và học sinh và cũng có "cung" từ giáo viên. Cho nên, không thể cấm được hoạt động này, mà chỉ có thể quản lý bằng việc đưa ra những quy định chặt chẽ, để hạn chế những tiêu cực.

Đại diện Vụ Giáo dục Thường xuyên cho rằng, việc tổ chức dạy - học thêm phải đảm bảo đồng thời 3 lợi ích: Có ích cho HS - có lợi cho giáo viên và cho xã hội (thêm nhiều người có kiến thức).

Tiêu cực trong dạy - học thêm là sự ép buộc, gián tiếp hoặc trực tiếp từ phía người phía người dạy, hoặc cơ sở giáo dục, trong đó lợi ích của người dạy và đối kháng với lợi ích của người học và cộng đồng.

Hiện tương lệch lạc trong dạy - học thêm là là sự ép buộc từ phía gia đình, khi phụ huynh mong muốn HS tiến bộ nhưng vượt quá nguyên tắc sư phạm gây quá tải. Cả hai hình thức này đang được xem xét để quy định rõ.

  • Hoàng Lê (VietNamNet)

Monday, November 06, 2006

Những lời thầy cô không nên nói

“Đồ con mèo lười học!”, “Ngu như heo”, “Người 2 trong 1”... Đó là những “biệt danh” giáo viên gán ghép cho HS.

HS Trường tiểu học Võ Trường Toản, Q.10 (một trong 12 trường thực hiện chương trình "Môi trường học thân thiện") trong giờ giải lao

1. “Giờ ra chơi sân trường ồn ào, náo nhiệt, HS như những con chim xổ lồng chạy nhảy khắp nơi. Tôi đi dạo một vòng... bỗng thấy một HS ngồi lủi thủi một mình trước lớp học nhìn theo bạn bè chơi đùa dưới sân bằng ánh mắt thèm khát...

Tôi lại gần: “Sao con không ra chơi với các bạn?”. Em trả lời: “Không bạn nào chịu chơi với con cả. Các bạn cứ thấy mặt con là lêu lêu: Chú mèo lười học!”. Thì ra trong lớp em HS này thường xuyên không thuộc bài, tiếp thu bài rất chậm, giáo viên mới nhắc xong nhưng bảo nhắc lại là lắp bắp, quên trước quên sau. Bực quá giáo viên đã mắng: "Đồ con mèo lười học!".

(Trích câu chuyện kể của hiệu trưởng một trường tiểu học tại TP.HCM)

TP.HCM đang thực hiện thí điểm chương trình “Môi trường học thân thiện” từ năm 2001. Đến nay đã có 12 trường tiểu học thực hiện chương trình này.

Một trong những tiêu chí quan trọng của chương trình là giáo viên phải tôn trọng HS, không được lăng mạ, hành hạ HS; tạo ra môi trường học tập thoải mái và vui tươi.

2. “Con trai tôi vốn tính trầm, ít nói. Mà nói thì cũng nhỏ nhẹ, từ tốn, mọi người bảo cháu “hiền như con gái”. Vào học lớp 6 được hơn một tháng thì nhà trường đổi thời khóa biểu.

Bữa đó, con tôi nhìn nhầm thời khóa biểu cũ và soạn bài, mang tập vở theo thời khóa biểu ấy. Đến giờ sinh vật cháu phải lấy tập tiếng Anh ra và lật ngược mặt sau để chép bài sinh vật. Chẳng may, cô giáo phát hiện và hê lên cho cả lớp hùa theo: “Người 2 trong 1”. Từ đó thay vì kêu tên như trong giấy khai sinh, bạn bè cả lớp đều kêu cháu bằng cái tên “2 trong 1” với hàm nghĩa đầy ác ý...

Lứa tuổi 12 có sự biến đổi rất nhiều và rất phức tạp về mặt tâm sinh lý. Thấy con mình cứ lầm lì, cáu kỉnh, tìm cách xa lánh mọi người, tôi tìm hiểu nguyên do. Và cuối cùng, chính tôi đã phải tự nguyện viết đơn xin chuyển trường cho con vì cháu quá sợ và đâm ra thành kiến với cô giáo dạy môn sinh vật...”.

(Theo lời kể của một phụ huynh là thạc sĩ giáo dục học - hiện cũng đang làm việc trong ngành giáo dục tại TP.HCM)

3. “Cháu tôi bị bệnh viêm mũi dị ứng. Khổ nỗi khi lên lớp 7, cô giáo dạy văn (đồng thời là giáo viên chủ nhiệm) lại xếp cháu ngồi gần một bạn bị hôi nách. Ở nhà không sao, nhưng cứ vào lớp cháu hắt hơi dồn dập rồi nước mũi chảy ròng ròng. Vốn nhút nhát nên cháu không dám thưa chuyện với cô, xin đổi chỗ, về nhà cũng không dám nói với bà nội. Nó lẳng lặng làm theo cách riêng của mình: lấy khăn bịt mũi lại.

Thấy thế, thay vì hỏi lý do thì cô giáo chủ nhiệm lại đùng đùng nổi giận mắng thằng bé là “đồ khinh người!”, không những không cho cháu giải thích mà còn ra lệnh cho cả lớp “không thèm chơi với đồ khinh người”. Còn khi trả bài, cứ mỗi lần ấp úng, quên ý là được tặng ngay câu “ngu như heo” kèm theo “cây gậy” vào sổ”.

(Câu chuyện của cụ Phạm Thị Trinh, 72 tuổi, ở TP.HCM)

* Xin được kết thúc bài viết bằng phần kết của câu chuyện thứ nhất (của vị hiệu trưởng trường tiểu học): “Lập tức tôi tìm gặp giáo viên chủ nhiệm lớp và yêu cầu rút kinh nghiệm, sửa sai ngay. Tôi đã nói với giáo viên: dù HS có tệ đến mức nào chăng nữa thì cũng không được phép hạ nhục nhân cách HS trước tập thể lớp như thế. Ở trong một môi trường cô giáo ghét bỏ, bạn bè coi thường, xa lánh thì làm sao HS thoải mái học tập được?

Trước khi làm nhà giáo hãy làm nhà tâm lý... Trước khi muốn HS ngoan ngoãn, nghe theo lời mình trước hết hãy tôn trọng các em như tôn trọng chính bản thân mình”.

(Theo Tuổi Trẻ)