Showing posts with label LENT2007. Show all posts
Showing posts with label LENT2007. Show all posts

Thursday, April 05, 2007

CÔ ĐƠN và TĨNH MẠC

Từ ít lâu nay, trong Hội Thánh Công giáo đã xuất hiện một phong trào tu đức nhằm vào sự cô đơn.
Phong trào này đào tạo nên những con người:
1/ Coi sự cô đơn của Chúa Giêsu là một yếu tố quan trọng của thân phận Đấng cứu thế được sai vào đời.
2/ Quan tâm cách đặc biệt đến những người cô đơn trong xã hội và Giáo Hội.
3/ Biết dùng bất cứ cảnh cô đơn nào xảy đến cho chính mình, để thêm cậy tin và phó thác nơi Chúa giàu lòng thương xót.
4/ Biết phân biệt cảnh cô đơn không cần thiết và cảnh tĩnh mạc cần thiết cho việc đạo đức.
Với mấy nhận thức trên đây, tôi xin kính mời mọi tín hữu nói chung và mọi môn đệ được gọi vào chức thánh nói riêng, hãy nhìn vào Chúa Giêsu của tuần thánh. Hãy ngắm nhìn kỹ và suy nghĩ thực sâu, để chia sẻ đôi chút tâm tình của Người. Bởi vì cô đơn và tĩnh mạc đang và sẽ là vấn đề lớn cho ta và cho cộng đoàn của ta.
1/ Sự cô đơn của Chúa Giêsu
Trong tuần thánh, cảnh nổi bật vây phủ Chúa Giêsu là cảnh cô đơn.
a) Quần chúng trước đây tung hô Người, nay quay lại nguyền rủa Người thậm tệ. Sự thay lòng đổi dạ đó đã gây cho Chúa Giêsu một sự cô đơn đầy sát khí. Nó đổ trên Người những bất hiếu, bất trung, vô ơn, độc ác.
b) Sự cô đơn của Chúa Giêsu do quần chúng gây nên lại càng nặng thêm do thái độ các môn đệ thân tín bỏ rơi Người. Kẻ thì bán Người, kẻ thì bỏ mặc Người bị bắt, kẻ thì chối Người.
c) Sự cô đơn của Chúa Giêsu càng trở nên bi đát, khi Người bị xét xử trước toà đạo, toà đời hồi đó. Những kẻ được nắm quyền do ơn trên, nay lại dùng chính quyền đó để kết án Người với sự hãnh diện của thứ đạo đức giả sành nghề.
d) Sự cô đơn coi như đẩy Chúa Giêsu xuống vực thẳm sâu nhất chính là khi Người cảm thấy như mình bị Chúa Cha từ bỏ. Chính Chúa Giêsu đã thốt lên một lời diễn tả nỗi khổ đó: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi con" (Mc 15,34).
2/ Sự tĩnh mạc của Chúa Giêsu
Khi Chúa Giêsu bị các nỗi cô đơn đè nặng trên mình, Người đã đối phó bằng sự đi vào cõi tĩnh mạc.
Trước hết là tĩnh mạc địa lý. Người đi vào vườn Cây Dầu là nơi vắng vẻ. Khi cầu nguyện, thì chỉ đi với ba môn đệ. Nhưng rồi Người cũng không cùng với ba môn đệ cầu nguyện chung. Người cầu nguyện một mình ở một chỗ tĩnh mạc, xa ba môn đệ.
Trong tĩnh mạc địa lý, Chúa Giêsu đi sâu vào tĩnh mạc nội tâm. Sự tĩnh mạc này giúp Người cầu nguyện, thêm sức cho Người được chịu mọi đau khổ về thể xác và tinh thần.
Sự tĩnh mạc nội tâm này đã được nhận thấy ở sự rất ít nói của Chúa Giêsu, khi bị nhục mạ, bị vu khống, bị kết án. Ban đầu, Người còn trả lời vắn tắt những câu tra vấn. Sau đó, Người trả lời bằng sự im lặng. Trên thánh giá, Người chỉ nói mấy lời với nội dung yêu thương đối với loài người, và phó thác đối với Chúa Cha "Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46).
Trong sự cô đơn và tĩnh mạc nội tâm, Chúa Giêsu đã rất quan tâm đến những người khác bằng tình yêu thương.
3/ Sự quan tâm của Chúa Giêsu đối với những cảnh cô đơn
a) Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã an ủi các môn đệ Người "Thầy không để các con phải mồ côi" (Ga 14,18). "Thầy để lại bình an cho các con. Bình an mà Thầy ban cho các con không giống bình an mà thế gian ban tặng" (Ga 14,27). "Nếu Thầy không đi, Đấng Bảo trợ sẽ không đến với các con. Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con" (Ga 16,7). Hơn nữa, Chúa Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể và bí tích Truyền Chức Thánh, để ở lại với nhân loại một cách gần gũi đầy an ủi.
b) Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã nghĩ tới cảnh cô đơn của mẹ Người. Nên Người đã trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, và trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và nhân loại.
c) Trên thánh giá, Chúa Giêsu thấy rõ cảnh con người bị tội lỗi xiềng xích là cảnh cô đơn đáng phải sợ nhất, nên Người đã xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ làm khổ Người, đặc biệt là Người nhận lời kẻ trộm chịu đóng đinh bên hữu Người. Ông sẽ được cùng Người vào chốn trường sinh.
Trên đây là vài chia sẻ vắn tắt cho một vấn đề đã xưa, nhưng hiện đang là thời sự chi phối bầu khí đạo đức trong xã hội và trong Giáo Hội.
Thực vậy, theo các nhà khảo sát xã hội và quan sát tình hình tôn giáo, thì hiện nay:
1/ Số người rơi vào cảnh cô đơn càng ngày càng đông.
2/ Số người bị loại trừ cũøng đang có chiều hướng gia tăng.
Cảnh cô đơn và cảnh bị loại trừ diễn ra ngay trong gia đình, trong các cộng đoàn xã hội, cả trong những cộng đoàn tôn giáo.
Động cơ đẩy người ta vào cảnh cô đơn và loại trừ càng ngày càng phức tạp.
Nếu chúng ta không tỉnh thức và cầu nguyện, thì cảnh cô đơn và loại trừ sẽ phát sinh và phát triển mạnh trong Hội Thánh Việt Nam ta. Đang khi đó, cảnh tĩnh mạc sẽ lại bớt đi. Lỗi phần nào là do các phong trào không lành mạnh trong xã hội, nhưng cũng một phần do chính những nhẹ dạ hoặc ác ý của một số thành phần thuộc nội bộ Giáo Hội ta.
Xin nhớ rằng: Ác quỷ Satan rất khôn khéo trong việc phá Hội Thánh Chúa. Phá dưới mọi hình thức. Hiện nay hình thức Satan ưa dùng, là gây nên cảnh cô đơn và loại trừ trong chính nội bộ, đang khi đó chúng lại gây nên cảnh náo động hướng ngoại, thay cho tĩnh mạc cầu nguyện. Nếu đúng như vậy, thì vấn đề chúng ta nên để tâm nhiều hơn trong tu đức là hãy đón Chúa Giêsu chịu tử nạn vào tâm hồn ta.
Khi Người là sự sống của ta, thì chính Người sẽ đổi mới ta. Nhờ Người, ta sẽ biết khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ nắm được một phần nhỏ của các sự thực, để ta sẽ sống bé nhỏ trong việc góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong Hội Thánh có nhiều khác biệt, trên đường hành hương nhiều khi cô đơn và tĩnh mạc.
Dù cô đơn, dù tĩnh mạc, chúng ta tuyệt đối phó thác cuộc đời chúng ta nơi Chúa tình yêu. "Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa" (Dt 10,9).
+ Gm. GB. BÙI TUẦN (Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam, Số 38)

Sunday, April 01, 2007

Chúa Nhật Thương Khó - Passion Sunday (Luke 22:14-23:56)

Bài Đọc I: Isaiah 50:4-7 II: Phil 2:6-22
Phúc Âm Luca 22:14-23:56
(14) Khi giờ đã đến, Đức Giêsu vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. (15) Người nói với các ông: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. (16) Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giời ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa". (17) Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. (18) Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Nước Thiên Chúa đến". (19) Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời cảm ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy". (20) Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em. (21) "Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. (22) Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người". (23) Các Tông Đồ bắt đầu bàn tán với nhau xem ai trong Nhóm lại là kẻ toan làm chuyện ấy. (24) Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. (25) Đức Giêsu bảo các ông: "Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. (26) Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người phục vụ. (27) Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ. (28) "còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thấy gặp thử thách gian nan. (29) Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, (30) để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ítraen". (31) Rồi Chúa nói: "Simon, Simon ơi, kìa Xatan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. (32) Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh". (33) Ông Phêrô thưa với Người: "Lạy Chúa, với Chúa, con sẵn sàng vào tù, và chết cũng cam". (34) Đức Giêsu lại nói: "Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy". (35) Rồi Người nói với các ông: "Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?" (36) Các ông đáp: "Thưa thầy, không". Người bảo các ông: "Nhưng bây giờ, ai có túi tiền thì hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy; còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua. (37) Vì Thầy bảo cho anh em hay: cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép: Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất". (38) Các ông nói: "Lạy Chúa, này có hai thanh gươm đây". Người bảo họ: "Đủ rồi!" (39) Rồi Người đi ra núi Ôliu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. (40) Đến nơi, Người bảo các ông: "Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ". (41) Rồi Người đi cách các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng: (42) "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha". (43) Bấy giờ có thiên sứ tự trời hiện đến tăng sức cho Người. (44) Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. (45) Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền,46 Người liền nói với các ông: "Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ". (47) Người còn đang nói, thì kìa một đám đông xuất hiện, và kẻ dẫn đầu tên là Giuđa, một người trong Nhóm Mười Hai. Hắn lại gần Đức Giêsu để hôn Người. (48) Đức Giêsu bảo hắn: "Giuđa ơi! Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?" (49) Thấy việc sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi: "Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không?" (50) Thế rồi một người trong nhóm chém tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai bên phải. (51) Nhưng Đức Giêsu lên tiếng: "Thôi, ngừng lại". Và người sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành. (52) Rồi Đức Giêsu nói với các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục đến bắt Người: "Các ông đem gươm giáo gậy gộc đến như thể bắt một tên cướp sao? (53) Ngày ngày, tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà các ông không tra tay bắt. Nhưng đây là giờ của các ông và quyền lực của tối tăm". (54) Họ bắt Đức Giêsu, điệu Người đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phêrô thì theo xa xa. (55) Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phêrô đến ngồi giữa họ. (56) Thầy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói: "Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy!" (57) Ông liền chối: "Tôi có biết ông ấy đâu, chị!" (58) Một lát sau, có người khác thấy ông, liền nói: "Cả bác nữa, bác cũng thuộc bọn chúng!" Nhưng ông Phêrô đáp lại: "Này anh, không phải đâu!" (59) Chừng một giờ sau, có người khác lại quả quyết: "Đúng là bác này cũng đã ở với ông ấy, vì bác ta cũng là người Galilê". (60) Nhưng ông Phêrô trả lời: "Này anh, tôi không biết anh nói gì!" Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. (61) Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: "Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần". (62) Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. (63) Những kẻ canh giữ Đức Giêsu nhạo báng đánh đập Người. (64) Chúng bịt mắt Người lại, rồi hỏi rằng: "Nói tiên tri xem: ai đánh ông đó?" (65) Chúng còn thốt ra nhiều lời khác xúc phạm đến Người. (66) Khi trời sáng đoàn kỳ mục trong dân, các thượng tế và kinh sư nhóm họp. Họ điệu Người ra trước Thượng Hội Đồng (67) và hỏi: "Ông có phải là Đấng Mêsia thì nói cho chúng tôi biết!" Người đáp: "Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin; (68) tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời. (69) Nhưng từ nay, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng". (70) Mọi người liền nói: "Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?" Người đáp: "Đúng như các ông nói, chính tôi đây". (71) Họ liền nói: "Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!" (23:1) Toàn thể cử tọa đứng lên, điệu Đức Giêsu đến ông Philatô. (2) Họ bắt đầu tố cáo Người rằng: "Chúng tôi đã phát giác ra tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xêda, lại còn xưng mình là Mêsia, là Vua nữa". (3) Ông Philatô hỏi Người: "Ông là Vua dân Dothái sao?" Người trả lời: "Chính Ngài nói đó". (4) Ông Philatô nói với các thượng tế và đám đông: "Ta xét thấy người này không có tội gì". (5) Nhưng họ cứ khăng khăng nói: "Hắn đã xúi dân nổi loạn, đi giảng dạy khắp vùng Giuđê, bắt đầu từ Galilê cho đến đây". (6) Nghe nói thế, ông Philatô liền hỏi xem đương sự có phải là người Galilê không. (7) Và khi biết Người thuộc thẩm quyền vua Hêrôđê, ông liền cho gửi Người đến vua Hêrôđê, lúc ấy đang có mặt tại Giêrusalem. (8) Vua Hêrôđê thấy Đức Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. (9) Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả. (10) Các thượng tế và kinh sư đứng đó, tố cáo Người dữ dội. (11) Vua Hêrôđê cùng với bọn lính tỏ ra khinh dể Người, khoác cho Người một chiếc áo rực rỡ mà chế giễu, rồi cho giải Người lại cho ông Philatô. (12) Ngày hôm ấy, vua Hêrôđê và tổng trấn Philatô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù. (13) Bấy giờ ông Philatô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại (14) mà nói: "Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay kích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo. (15) Cả vua Hêrôđê cũng vậy, bởi lẽ nhà vua đã cho giải ông ấy lại cho chúng ta. Và các ngươi thấy đó, ông ấy chẳng can tội gì đáng chết cả. (16) Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra". (17) Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Philatô phải phóng thích cho họ một người tù. (18) Nhưng tất cả mọi người đều la ó: "Giết nó đi, thả Baraba cho chúng tôi!" (19) Tên này đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. (20) Ông Philatô muốn thả Đức Giêsu, nên lại lên tiếng một lần nữa. (21) Nhưng họ cứ một mực la lớn: "Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!" (22) Lần thứ ba, ông Philatô nói với họ: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra". (23) Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội. (24) Và ông Philatô phán quyết chấp thuận điều họ yêu cầu. (25) Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Con Đức Giêsu thì ông trao nộp theo ý họ muốn. (26) Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simôn, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu. (27) Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. (28) Đức Giêsu quay lại phía các bà mà nói: "Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu của chị em. (29) Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: "Phúc thay những đàn bà hiếm hoi, những lòng dạ không sinh không đẻ, những kẻ không cho bú mớm!" (30) Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi!, và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi! (31) Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao ?" (32) Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. (33) Khi đến nơi gọi là "Đồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái.(34) Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người. (35) Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: "Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô, của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!" (36) Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống (37) và nói: "Nếu ông là vua dân Dothái thì cứu lấy mình đi !" (38) Phía trên đầu Người, có bản án viết: "Đây là vua người Dothái". (39) Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!" (40) Nhưng tên kia mắng nó: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! (41) Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!" (42) Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" (43) Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng".Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng (44) Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. (45) Mặt trời tối đi. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. (46) Đức Giêsu kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở. (47) Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: "Người này quả thật là công chính!". (48) Và khi thấy những việc xảy ra như thế, tất cả những đám người đã tụ tập đông đảo để xem cảnh tượng ấy đều đấm ngực trở về nhà. (49) Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê; các bà đã chúng kiến những việc ấy. (50) Và này có một người tên là Giôxép, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. (51) Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng. Ông là người thành Arimathê, một thành của người Dothái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. (52) Ông đến gặp tổng trần Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. (53) Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. (54) Hốm ấy là ngày áp lễ, và ngày sabát đã ló rạng. (55) Cùng đi với ông Giôxép, có những người phụ nữ đã theo Đức Giêsu từ Galilê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. (56) Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sabát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.
Chi Tiết Hay
+ ĐỨC GiÊSU LẬP GIAO ƯỚC MỚI: Trong Giao Ước cũ, máu Chiên rắc ngoài cửa đã cứu con cái Israel. Trong Giao Ước Mới, máu Đức Giêsu trên thánh giá sẽ cứu rỗi những ai tin vào Ngài (22:14-20).
+ LOÀI NGƯỜI YẾU ĐUỐI: Bản tính yếu đuối của nhân loại trong cuộc chiến với thế gian được thể hiện qua các sự việc Giuda ngả theo quyền lực của thế gian (22:21,48), Phêrô sợ hãi trước sự áp đảo của đám đông (22:31,54-60), các môn đệ không phân biệt được giữa vinh quang nơi trần thế và vinh quang trên nước Trời (22:24-29), giữa sự chiến đấu của thể xác và sự chiến đấu của linh hồn (22:35-38). Để chiến đấu với sự yếu đuối của bản tính loài người khi đối diện với cái chết trên thập giá, Đức Giêsu đã dùng hết sức mình để cầu nguyện cùng Chúa Cha (22:39-46).
+ QUYỀN LỰC CỦA BÓNG TỐI VÀ THẾ GIAN: Bị bắt trong đêm tối (22:53) và bi xét xử bởi đám đông, Con Thiên Chúa đã chấp nhận chịu chung số phận của nhân loại để chịu xét xủ bởi quyền lực này (22:1-25). Nhưng cuối cùng tất cả sẽ bi tiêu diệt bởi Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã báo trước khi Ngài khuyên các phụ nữ thành Gierusalem hãy lo khóc lóc cho thân phận của họ (23:28-31).
+ SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN: Sau khi vấp ngã, Phêrô nhìn nhận tội lỗi và sám hối, để đức tin của ông trở nên mạnh mẽ trong việc thi hành sư mệnh mở mang Giáo Hội sau này (22:31, 54-62).
+ SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU: Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm (23:34).
+ SỰ CHIẾN THẮNG CỦA LINH HỒN: Lạy Cha, con phó linh hồn Con trong tay Cha (23:46).
+ BỊ TRIỆT HẠ BỞI THẾ GIAN DỂ MẰC LẤY VINH QUANG NƯỚC TRỜI: Dưới con mắt trần thế Đức Giêsu đã trải qua những cực hình, bị đóng đinh trên thập giá, đã chết và được mai táng (23:49,55), nhưng Ngài đã chiến thắng khải hoàn trong vinh quang của Nước Trời qua sự việc Phục Sinh của Ngài sau đó để khai mở con đường cứu rỗi cho nhân loại.
Một Điểm Chính: Cuộc thương khó Đức Giêsu trải qua đã cho thấy quyền lực của thế gian sẽ thống trị và tiêu diệt cuộc đời trần thế của chúng ta, nhưng những linh hồn mạnh mẽ và biết chuẩn bị trước sẽ vượt qua được tất cả để thực sự chiến thắng trên đường về Nước Trời.
Suy Niệm
1. Tôi thấy mình có những sự yếu đuối, mê muội, và tàn ác của loài người như được diễn tả trong cuộc thương khó của Đức Kitô không? Khi Đức Kitô xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã phản bội, nhạo báng, đánh đập, kết tội và giết Ngài, tôi có cảm nhận được tình yêu của Ngài dành cho kẻ tội lỗi như tôi chăng?, vì tôi cũng đã làm những điều đó đối với những người chung quanh? Làm sao tôi có thể theo gương Ngài để bày tỏ Tình Yêu với mọi người?
2. Đức Kitô đã để cho quyền lực của thế gian chiến thắng, nhưng Ngài đã thực sự chiến thắng trong sứ mệnh cứu chuộc con cái của Thiên Chúa. Tôi có sẵn sàng cho đi đời sống vật chất của tôi, và lắng nghe Đức Kitô dạy phải chuẩn bị ra sao để có thể đương đầu với sự tối tăm của tội lỗi, những cám dỗ và thử thách cam go của cuộc đời nơi trần thế mà không bị gục ngã, để linh hồn tôi được hội nhập vào cuộc hành trình về Nước Trời?
3. Tôi phải làm gì để sống theo Tin Mừnmg của Đức Kitô cho người chung quanh nhận ra sự sáng, để rồi tất cả đều được cứu thoát ra khỏi bóng tối của tội lỗi?
------------------------------------------------------------
Passion Sunday
Reading I: Isaiah 50:4-7 II: Philippians 2:6-22
Gospel Luke 22:14-23:56
14 And when the hour came, he sat at table, and the apostles with him.15 And he said to them, "I have earnestly desired to eat this passover with you before I suffer;16 for I tell you I shall not eat it until it is fulfilled in the kingdom of God."17 And he took a cup, and when he had given thanks he said, "Take this, and divide it among yourselves;18 for I tell you that from now on I shall not drink of the fruit of the vine until the kingdom of God comes."19 And he took bread, and when he had given thanks he broke it and gave it to them, saying, "This is my body which is given for you. Do this in remembrance of me."20 And likewise the cup after supper, saying, "This cup which is poured out for you is the new covenant in my blood.21 But behold the hand of him who betrays me is with me on the table.22 For the Son of man goes as it has been determined; but woe to that man by whom he is betrayed!"23 And they began to question one another, which of them it was that would do this.24 A dispute also arose among them, which of them was to be regarded as the greatest.25 And he said to them, "The kings of the Gentiles exercise lordship over them; and those in authority over them are called benefactors.26 But not so with you; rather let the greatest among you become as the youngest, and the leader as one who serves.27 For which is the greater, one who sits at table, or one who serves? Is it not the one who sits at table? But I am among you as one who serves.28 "You are those who have continued with me in my trials;29 and I assign to you, as my Father assigned to me, a kingdom,30 that you may eat and drink at my table in my kingdom, and sit on thrones judging the twelve tribes of Israel.31 "Simon, Simon, behold, Satan demanded to have you, that he might sift you like wheat,32 but I have prayed for you that your faith may not fail; and when you have turned again, strengthen your brethren."33 And he said to him, "Lord, I am ready to go with you to prison and to death."34 He said, "I tell you, Peter, the cock will not crow this day, until you three times deny that you know me."35 And he said to them, "When I sent you out with no purse or bag or sandals, did you lack anything?" They said, "Nothing."36 He said to them, "But now, let him who has a purse take it, and likewise a bag. And let him who has no sword sell his mantle and buy one.37 For I tell you that this scripture must be fulfilled in me, 'And he was reckoned with transgressors'; for what is written about me has its fulfilment."38 And they said, "Look, Lord, here are two swords." And he said to them, "It is enough."39 And he came out, and went, as was his custom, to the Mount of Olives; and the disciples followed him.40 And when he came to the place he said to them, "Pray that you may not enter into temptation."41 And he withdrew from them about a stone's throw, and knelt down and prayed,42 "Father, if thou art willing, remove this cup from me; nevertheless not my will, but thine, be done."45 And when he rose from prayer, he came to the disciples and found them sleeping for sorrow,46 and he said to them, "Why do you sleep? Rise and pray that you may not enter into temptation."47 While he was still speaking, there came a crowd, and the man called Judas, one of the twelve, was leading them. He drew near to Jesus to kiss him;48 but Jesus said to him, "Judas, would you betray the Son of man with a kiss?"49 And when those who were about him saw what would follow, they said, "Lord, shall we strike with the sword?"50 And one of them struck the slave of the high priest and cut off his right ear.51 But Jesus said, "No more of this!" And he touched his ear and healed him.52 Then Jesus said to the chief priests and officers of the temple and elders, who had come out against him, "Have you come out as against a robber, with swords and clubs?53 When I was with you day after day in the temple, you did not lay hands on me. But this is your hour, and the power of darkness."54 Then they seized him and led him away, bringing him into the high priest's house. Peter followed at a distance;55 and when they had kindled a fire in the middle of the courtyard and sat down together, Peter sat among them.56 Then a maid, seeing him as he sat in the light and gazing at him, said, "This man also was with him."57 But he denied it, saying, "Woman, I do not know him."58 And a little later some one else saw him and said, "You also are one of them." But Peter said, "Man, I am not."59 And after an interval of about an hour still another insisted, saying, "Certainly this man also was with him; for he is a Galilean."60 But Peter said, "Man, I do not know what you are saying." And immediately, while he was still speaking, the cock crowed.61 And the Lord turned and looked at Peter. And Peter remembered the word of the Lord, how he had said to him, "Before the cock crows today, you will deny me three times."62 And he went out and wept bitterly.63 Now the men who were holding Jesus mocked him and beat him;64 they also blindfolded him and asked him, "Prophesy! Who is it that struck you?"65 And they spoke many other words against him, reviling him.66 When day came, the assembly of the elders of the people gathered together, both chief priests and scribes; and they led him away to their council, and they said,67 "If you are the Christ, tell us." But he said to them, "If I tell you, you will not believe;68 and if I ask you, you will not answer.69 But from now on the Son of man shall be seated at the right hand of the power of God."70 And they all said, "Are you the Son of God, then?" And he said to them, "You say that I am."71 And they said, "What further testimony do we need? We have heard it ourselves from his own lips."23:1 Then the whole company of them arose, and brought him before Pilate.2 And they began to accuse him, saying, "We found this man perverting our nation, and forbidding us to give tribute to Caesar, and saying that he himself is Christ a king."3 And Pilate asked him, "Are you the King of the Jews?" And he answered him, "You have said so."4 And Pilate said to the chief priests and the multitudes, "I find no crime in this man."5 But they were urgent, saying, "He stirs up the people, teaching throughout all Judea, from Galilee even to this place."6 When Pilate heard this, he asked whether the man was a Galilean.7 And when he learned that he belonged to Herod's jurisdiction, he sent him over to Herod, who was himself in Jerusalem at that time.8 When Herod saw Jesus, he was very glad, for he had long desired to see him, because he had heard about him, and he was hoping to see some sign done by him.9 So he questioned him at some length; but he made no answer.10 The chief priests and the scribes stood by, vehemently accusing him.11 And Herod with his soldiers treated him with contempt and mocked him; then, arraying him in gorgeous apparel, he sent him back to Pilate.12 And Herod and Pilate became friends with each other that very day, for before this they had been at enmity with each other.13 Pilate then called together the chief priests and the rulers and the people,14 and said to them, "You brought me this man as one who was perverting the people; and after examining him before you, behold, I did not find this man guilty of any of your charges against him;15 neither did Herod, for he sent him back to us. Behold, nothing deserving death has been done by him;16 I will therefore chastise him and release him."18 But they all cried out together, "Away with this man, and release to us Barab'bas" --19 a man who had been thrown into prison for an insurrection started in the city, and for murder.20 Pilate addressed them once more, desiring to release Jesus;21 but they shouted out, "Crucify, crucify him!"22 A third time he said to them, "Why, what evil has he done? I have found in him no crime deserving death; I will therefore chastise him and release him."23 But they were urgent, demanding with loud cries that he should be crucified. And their voices prevailed.24 So Pilate gave sentence that their demand should be granted.25 He released the man who had been thrown into prison for insurrection and murder, whom they asked for; but Jesus he delivered up to their will.26 And as they led him away, they seized one Simon of Cyre'ne, who was coming in from the country, and laid on him the cross, to carry it behind Jesus.27 And there followed him a great multitude of the people, and of women who bewailed and lamented him.28 But Jesus turning to them said, "Daughters of Jerusalem, do not weep for me, but weep for yourselves and for your children.29 For behold, the days are coming when they will say, 'Blessed are the barren, and the wombs that never bore, and the breasts that never gave suck!'30 Then they will begin to say to the mountains, 'Fall on us'; and to the hills, 'Cover us.'31 For if they do this when the wood is green, what will happen when it is dry?"32 Two others also, who were criminals, were led away to be put to death with him.33 And when they came to the place which is called The Skull, there they crucified him, and the criminals, one on the right and one on the left.34 And Jesus said, "Father, forgive them; for they know not what they do." And they cast lots to divide his garments.35 And the people stood by, watching; but the rulers scoffed at him, saying, "He saved others; let him save himself, if he is the Christ of God, his Chosen One!"36 The soldiers also mocked him, coming up and offering him vinegar,37 and saying, "If you are the King of the Jews, save yourself!"38 There was also an inscription over him, "This is the King of the Jews."39 One of the criminals who were hanged railed at him, saying, "Are you not the Christ? Save yourself and us!"40 But the other rebuked him, saying, "Do you not fear God, since you are under the same sentence of condemnation? 41 And we indeed justly; for we are receiving the due reward of our deeds; but this man has done nothing wrong."42 And he said, "Jesus, remember me when you come into your kingdom."43 And he said to him, "Truly, I say to you, today you will be with me in Paradise."44 It was now about the sixth hour, and there was darkness over the whole land until the ninth hour,45 while the sun's light failed; and the curtain of the temple was torn in two.46 Then Jesus, crying with a loud voice, said, "Father, into thy hands I commit my spirit!" And having said this he breathed his last.47 Now when the centurion saw what had taken place, he praised God, and said, "Certainly this man was innocent!"48 And all the multitudes who assembled to see the sight, when they saw what had taken place, returned home beating their breasts.49 And all his acquaintances and the women who had followed him from Galilee stood at a distance and saw these things.50 Now there was a man named Joseph from the Jewish town of Arimathe'a. He was a member of the council, a good and righteous man,51 who had not consented to their purpose and deed, and he was looking for the kingdom of God.52 This man went to Pilate and asked for the body of Jesus.53 Then he took it down and wrapped it in a linen shroud, and laid him in a rock-hewn tomb, where no one had ever yet been laid.54 It was the day of Preparation, and the sabbath was beginning.55 The women who had come with him from Galilee followed, and saw the tomb, and how his body was laid;56 then they returned, and prepared spices and ointments. On the sabbath they rested according to the commandment.
Interesting Details
+ JESUS ESTABLISHES THE NEW COVENANT: In the Old Covenant, the blood of the lamb on door posts saves the children of Israel. In the New Covenant, Jesus' blood on the cross saves those who believe in Him (22:14-20).
+ THE HUMAN WEAKNESSES:T hese are weaknesses in the battle against the power on earth, as demonstrated by Juda's joining this power (22:21,48), Peter's being fearful of the overwhelming crowd (22:31,54-60), their unawareness of the difference between glory on earth and glory in the Kingdom of God (22:24-29), between the way they would physically fight with one another and the way their soul would fight against the power on earth (22:35-38). To overcome His human weakness when facing death on the cross, Jesus has used all of His strength to pray to the Father (22:39-46).
+ THE POWER OF DARKNESS AND OF THE WORLD: Being arrested in the night (22:53), and condemned by the crowd (23:1-25), the Son of God has submitted himself to be among human beings to be in the hands of this power. But in the end, all will be destroyed by God's power, as Jesus warns the women of Jerusalem to cry for themselves (23:28-31).
+ THE POWER OF FAITH: After Peter has failed, he realizes his weakness and immediately repents, thus his faith is strengthened to carry out the mission of establishing the Church later (22:31,54-62).
+ THE POWER OF LOVE: Father, forgive them for they don't know what they're doing (23:34).
+ THE TRIUMPH OF THE SPIRIT: Father, in your hands I place my spirit (23:46).
+ BEING DEFEATED ON EARTH AND HAVING GLORY FROM HEAVEN: In worldly eyes, Jesus has been tortured and nailed to the cross, died and got buried (23:49,55). But the true victory with glory from the Kingdom of God really belongs to Him on the day He rises from death to open the salvation path to all mankind.
One Main Point: The passion that Jesus has gone through demonstrates how the power on earth will reign and have its victory over our earthly life, but strong and prepared spirits will make their way through and have the true victory of getting to the Kingdom of God.
Reflections
1. How do I relate myself to human weaknesses, unawareness, and wickedness as demonstrated in the Passion of Jesus? When Jesus asks the Father to forgive those who have betrayed, mocked, beat, accused, and killed Him, do I feel the love Jesus has for me as a sinner, as I have done the same to others around me? How can I follow His way of expressing Love?
2. Jesus has let the power on earth have its victory, but He has the true victory in the mission of saving God's children. Am I willing to give up my material life, and listened to Jesus in preparing myself to face the darkness, hardship, and temptation in my life and not fall, so my spirit can be included in the journey to the Kingdom of God?
3. What can I do to live the Good News of Jesus so the light can be seen by others, in order that we will all be saved from the darkness of sins?

Monday, March 26, 2007

Few Words on our Gospel reading from 5th Sunday of Lent (John 8:1-11)

1. Jesus is preaching and the scribes and Pharisees present him with a woman who had been caught in the act of adultery. The scribes and Pharisees are “big on the law,” and so they remind Jesus that according to the Law, the woman should be stoned. And then they ask him what his opinion is on the matter. Once again the scribes and Pharisees are trying to TRAP Jesus. Recall that Jesus had a reputation for going easy on the sinner.
2. Well Jesus, the old fox, ends up setting an even better trap for the scribes and Pharisees. He says: “Let him who is without sin throw the first stone!” That takes the steam out of the Pharisees. So they leave! And Jesus tells the woman that he does not condemn her. Go your way and sin no more.
3. Three little reflections on this scene.
3.a. First – we should not be like those scribes and Pharisees who are great at seeing fault with and condemning others, while they do not see their own sinfulness, their own fall-short of the mark. It is not up for us to be judging and condemning others. That’s God’s task.
3.b. Second: where the law and others condemn, Jesus does not. Jesus experiences and reveals to us a compassionate and forgiving God, not a God who is out to get us. Jesus’ God is a God who accepts just as we are, sinners, broken, fallen people who frequently fall short of the mark. Jesus’ God not only accepts us as we are, but is always there to forgive. Jesus’ God is not out to nail us, is not a wrathful God, a God who has to be appeased. His love and compassion always walk ahead of us. Jesus’ God loves and accepts DESPITE, despite the fact that we fall short.
3.c. Third: Often times people have a difficult time believing that God really does love us and accept us unconditionally, precisely as we are, sinners. But I think that says much more about ourselves than it does about God. It says that we, not God, are pretty petty. We forgive only when we are first appeased; only when “amends” are made. That may be true of us. But that is not Jesus’ God. Jesus’ God loves and forgives unconditionally, even before we ask for it.
---and so we end up being harsher on ourselves than God is. It is WE, not God, who cannot accept ourselves as sinners, as short of the mark. God has no problem. God can and does deal with that easily. That’s the doctrine of redemption.
4. Jesus has good news for us: God loves and forgives unconditionally. And that unconditional love and forgiveness, that “love despite” should empower us to first accept and love ourselves “despite,” and then in turn to accept and love all others “despite,” despite the fact that they fall short. For those who cannot, Jesus has set for them a trap: let him who is without sin cast the first stone.
By Rev. Don Buggert. O.Carm (Viet O.Carm forwards...)

Sunday, March 25, 2007

Chúa Nhật 5 Mùa Chay - 5th Sunday of Lent (John 8:1-11)

Bài Đọc I: Isaiah 43:16-21 II: Phil 3:8-14
Phúc Âm Gioan 8:1-11
(1) Còn Đức Giêsu thì đến núi Ôliu. (2) Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. (3) Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, (4) rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. (5) Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (6) Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. (7) Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi". (8) Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. (9) Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. (10) Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?" (11) Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả". Đức Giêsu nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
Chi Tiết Hay
+ Đức Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, câu chuyện xảy ra giữa hai lời cảnh cáo của Ngài về việc xét đoán theo bề ngoài (7:24, 8:15)
+ (c.5) "Trong sách Luật": Sách Đệ Nhị Luật 22:22-24 nói đến việc xử ném đá người đàn bà ngoại tình cùng với người đàn ông phạm tội.
+ Tại sao chỉ có một mình người phụ nữ bị đem ra xét xử? còn người đàn ông tòng phạm đâu? và người chồng của bà ta đâu cũng không thấy nói đến?
+ (c.6) Các kinh sư và người Pharisêu muốn gài bẫy Đức Giêsu tương tự như trong chuyện nộp thuế cho Xêda (Máccô 12:13-17). Luật Môisen bảo phải ném đá người phạm tội ngoại tình, nhưng nhà cầm quyền La Mã cấm, không cho phép người dân Do Thái xử án tử hình. Đức Giêsu phải tuân theo ai? Môisen hay La Mã? Cũng có thể họ muốn thử lòng nhân từ của Đức Giêsu đối với những người có tội.
+ Đây là lần duy nhất Phúc Âm nói đến việc Đức Giêsu dùng chữ viết. Ngài viết điều gì thì không rõ, nhưng theo thánh Jerome người ta nghĩ rằng Ngài viết xuống những tội thầm kín của những người đang tố cáo người phụ nữ.
Có thể nhờ lúc cắm cúi viết xuống đất, Đức Giêsu có dịp giữ yên lăng. Ngài tránh nhìn những người mà sau này sẽ tìm đủ mọi cách để giết Ngài. Việc thinh lặng trước mặt kẻ lên án Ngài phù hợp với chân dung mà Isaia đã tả về người "tôi tớ đau khổ": "Ngài đã không mở miệng" (Isaia 53:7)
+ "Ném trước đi!" : lời Đức Giêsu nói có hàm ý nhắc đến Luật. Sách Đệ Nhị Luật 17:7 nói rằng nhân chứng trong một vụ ngoại tình có trách nhiệm chính trong việc xủ án tủ hình. Người đó phải ném viên đá đầu tiên rồi mọi người theo sau. Ở đây Đức Giêsu dùng chính Lề Luật để đáp lại việc họ dùng Lề Luật.
+ "Những người lớn tuổi" có thể là lớn trong chức vị, chứ chưa hẳn là lớn trong tuổi tác mà thôi.
+ (c.9) "Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ": Thánh Augustinô có một lời diễn tả sâu sắc nhất về cảnh này: "Chỉ còn lại hai hình ảnh: sự khốn khổ và sự thương xót".
Một Điểm Chính: Những người kinh sư và biệt phái chẳng chú trọng gì đến luật lệ Môi sen, cũng chẳng màng gì đến sinh mạng người phụ nữ đó, họ chỉ có ác ý muốn gài bẫy Đức Giêsu. Nhưng một lần nữa Đức Giêsu đã chứng tỏ Ngài là "người có quyền thế hơn", như Gioan Tẩy Giả đã tiên báo (Luca 3:16).
Suy Niệm
1. Ở đây ai là người bị xét xử
2. Tôi nhớ lại một lần nào đó đã vội vã lên án người khác. Tôi có biết phân biệt giữa "sự tội" và người "có tội" hay không?
--------------------------------------------------------------
5th Sunday of Lent
Reading I: Isaiah 43:16-21 II: Philippians 3:8-14
Gospel John 8:1-11
(1) but Jesus went to the Mount of Olives. (2) Early in the morning he came again to the temple; all the people came to him, and he sat down and taught them. (3) The scribes and the Pharisees brought a woman who had been caught in adultery, and placing her in the midst (4) they said to him, "Teacher, this woman has been caught in the act of adultery. (5) Now in the law Moses commanded us to stone such. What do you say about her?" (6) This they said to test him, that they might have some charge to bring against him. Jesus bent down and wrote with his finger on the ground. (7) And as they continued to ask him, he stood up and said to them, "Let him who is without sin among you be the first to throw a stone at her." (8) And once more he bent down and wrote with his finger on the ground. (9) But when they heard it, they went away, one by one, beginning with the eldest, and Jesus was left alone with the woman standing before him. (10) Jesus looked up and said to her, "Woman, where are they? Has no one condemned you?" (11) She said, "No one, Lord." And Jesus said, "Neither do I condemn you; go, and do not sin again."
Interesting Details
+ Jesus is teaching in the temple, and He warns against judging "by appearances" (7:24,8:15)
+ (v.5) "in the law": Deut 22:22-24 prescribes stoning for both the married woman who commits adultery and the partner.
+ Why was the woman alone? Where was the partner in adultery and the woman's husband?
+ (v.6) The test may be similar to the incident with the Roman coin (Mk 12:13-17). Since Rome did not allow the Jews to put anyone to death, would Jesus obey Moses or Rome? It may also have been that they were just challenging his habitual compassion toward sinners.
+ This is the only occasion in which Jesus is mentioned as writing anything. What He wrote is not stated, but according to a suggestion formulated by St. Jerome it is often held that He wrote the hidden sins of the woman's accusers.
+ Perhaps the movement of his finger allows Jesus to be silent. His eyes would be cast down, His gaze averted from the very ones who would soon press for His death. This suggestion presents Jesus silent before His own accusers, in keeping with the portrait of Isaiah's "suffering servant" who "opened not His mouth" (Is 53:7)
+ "First to throw": the warning in Jesus' words may have carried a reference to the law. Deut 17:7 acknowledges that those who are witnesses against an accused person have special responsibility for that person's death. They have to strike the first blow, the rest of the people following. Jesus uses the law to respond to their use of the law.
+ "Elders" may be a reference to their status as leaders of the people, not necessary as a reference to their age.
+ (v.9) "Jesus was left alone with the woman." It was Saint Augustin who best described this scene: "Two figures were left, misery and mercy."
One Main Point: The scribes and Pharisees are not interested primarily in the Law of Moses, or the woman's fate, but rather in trapping Jesus. Again, Jesus is precisely the "more powerful one" as predicted by John the Baptizer (Lk 3:16).
Reflections
1. Who is on trial here?
2. Recall a time when I found myself too ready to condemn someone. Did I draw a distinction between "the sin" and "the "sinner?"

Sunday, March 18, 2007

Chúa Nhật 4 Mùa Chay - 4th Sunday of Lent (Luke 15:1-3,11-32)

Bài Đọc I: Joshua 5:9-12 II: 2Cor 5:17-21
Phúc Âm Luca 15:1-3,11-32
(1) Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Đức Giêsu mà nghe Người. (2) Còn những người thuộc phái Pharisêu và các kinh sư thì lẩm bẩm: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng". (3) Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này: (11) Rồi Đức Giêsu nói tiếp: "Một người kia có hai con trai.(12) Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng". Và người cha đã chia của cải cho hai con. (13) Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. (14) "Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, (15) nên phải đi ở cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. (16) Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. (17) Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! (18) Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, (19) chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy". (20) Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. "Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm chồm anh ta và hôn lấy hôn để. (21) Bấy giời người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa..." (22) Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, (23) Rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! (24) Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy". Và họ bắt đầu ăn mừng. (25) "Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, (26) liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. (27) Người ấy trả lời: "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khỏe". (28) Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. (29) Cậu trả lời cha: "Cha ơi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. (30) Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!" (31) "Nhưng người cha nói với anh ta: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. (32) Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỵ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy".
Chi Tiết Hay
+ Đoạn Tin Mừng này thường được nhắc đến là dụ ngôn 'Người con hoang đàng' hay 'Người con bị lầm lạc'. Thật ra là nói về cả hai người con cùng lầm lạc trong cuộc sống. Cả hai đều được ưu đãi bởi người cha; người em đã lấy hết và phung phí không còn gì, trong khi người anh lại không biết là mình có rất nhiều nên đã không hài lòng với cách cư xử của cha.
+ (c.1) Câu này cho thấy con người có khuynh hướng tự vệ bằng ranh giới giữa 'người đúng' và 'người saí. Chúng ta thường tự cho mình là đúng, bằng cách bắt bẻ, kết tôị người khác qua việc làm của họ để rồi ghét bỏ, xa lánh họ.
+ (c.11) Hai người con: Mục đích để so sánh hai mẫu người khác nhau.
+ (c.12) Người cha làm theo sự yêu cầu của con và không thắc mắc; ông không xét đoán con cách vội vàng.
+ (cc.13-16) Một chuỗi hành động sai quấy, hành động này đưa tới hành động khác. Trong khi đạo Do Thái cấm ăn thịt heo, việc đi chăn heo và ăn đồ ăn của chúng, có lẽ không là sự lựa chọn của người con mà chỉ là hệ quả của việc anh tự quyết định cho cuộc đời của mình trước đây.
+ (cc.17-18) Người con đã thẳng thắn nhìn nhận thực tại của mình. Nhờ đó anh có thể sáng suốt thấy được sự hiện hữu của tình cha con, cũng như tấm lòng quảng đại của cha mình đối với cả những người tôi tớ. Anh chợt thấy một lối thoát.
+ (cc.20-24) Người cha không nghĩ gì ngoài việc biết là con mình từ đàng xa. Ông cũng không phán đoán gì về những gì đã xảy ra và muốn đón nhận lại người con với đầy đủ thế giá qua biểu hiệu của áo choàng, nhẫn, và giầy.
+ (cc.29-31) Người con trưởng trách cha đã đối xử bất công với mình; anh ta không biết rằng mình làm chủ cả cơ nghiệp và có thể tự xử theo ý mình.
Một Điểm Chính: Như người cha trong dụ ngôn này, Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta rất nhiều thứ kể cả tự do dể lưa chọn cuộc đời mình, và Người luôn nhớ chúng ta là con cái. Khi chúng ta lầm đường và biết quay về, Nguòi không phán đoán tội lỗi chúng ta đã phạm mà luôn vui mừng đón nhận chúng ta trong yêu thương.
Suy Niệm
1. Để ý cách người con hoang đàng tự tìm ra lối thoát cho đời mình, tôi có thể thành thật nhìn nhận thực trạng của minh, để thấy thật rõ chính mình trong mối liên hệ với Thiên Chúa, và với mọi người? Tôi phải làm gì để cuộc đời của mình được đặt đúng chỗ, để tôi không còn thấy khổ sở nữa?
2. Người cha trong dụ ngôn này đã đón nhận nguòi con trở về như không có gì sai quấy nơi con mình. Tôi có thể nhớ lại nhiều trường hợp trong đó tôi đã phán đoán về người khác là sai quấy vì những việc làm của họ, để rồi từ chối không yêu thương họ nữa?
3. Giống như người anh trong dụ ngôn này, có thể tôi đã phán đoán và đổ lôĩ cho người khác và ngay cả Chúa, như thể họ có trách nhiệm đối với những điều tôi không hài lòng. Tôi ý thức ra sao về việc làm chủ và phải tự trách nhiệm cho cuộc dời của mình?
------------------------------------------------
4th Sunday of Lent
Reading I: Joshua 5:9-12 II: 2Cor 5:17-21
Gospel Luke 15:1-3,11-32
(1) Now the tax collectors and sinners were all drawing near to hear him. (2) And the Pharisees and the scribes murmured, saying, "This man receives sinners and eats with them." (3) So he told them this parable: (11) And he said, "There was a man who had two sons; (12) and the younger of them said to his father, 'Father, give me the share of property that falls to me.' And he divided his living between them. (13) Not many days later, the younger son gathered all he had and took his journey into a far country, and there he squandered his property in loose living. (14) And when he had spent everything, a great famine arose in that country, and he began to be in want. (15) So he went and joined himself to one of the citizens of that country, who sent him into his fields to feed swine. (16) And he would gladly have fed on the pods that the swine ate; and no one gave him anything. (17) But when he came to himself he said, 'How many of my father's hired servants have bread enough and to spare, but I perish here with hunger! (18) I will arise and go to my father, and I will say to him, "Father, I have sinned against heaven and before you; (19) I am no longer worthy to be called your son; treat me as one of your hired servants."' (20) And he arose and came to his father. But while he was yet at a distance, his father saw him and had compassion, and ran and embraced him and kissed him. (21) And the son said to him, 'Father, I have sinned against heaven and before you; I am no longer worthy to be called your son.' (22) But the father said to his servants, 'Bring quickly the best robe, and put it on him; and put a ring on his hand, and shoes on his feet; (23) and bring the fatted calf and kill it, and let us eat and make merry; (24) for this my son was dead, and is alive again; he was lost, and is found.' And they began to make merry. (25) "Now his elder son was in the field; and as he came and drew near to the house, he heard music and dancing. (26) And he called one of the servants and asked what this meant. (27) And he said to him, 'Your brother has come, and your father has killed the fatted calf, because he has received him safe and sound.' (28) But he was angry and refused to go in. His father came out and entreated him, (29) but he answered his father, 'Lo, these many years I have served you, and I never disobeyed your command; yet you never gave me a kid, that I might make merry with my friends. (30) But when this son of yours came, who has devoured your living with harlots, you killed for him the fatted calf!' (31) And he said to him, 'Son, you are always with me, and all that is mine is yours. (32) It was fitting to make merry and be glad, for this your brother was dead, and is alive; he was lost, and is found.'"
Interesting Details
+ This passage has been commonly referred to as "the prodigal son," or "the lost son." It was actually about both sons being lost in life. Both were treated very generously by the father; one took what he had and wasted it all, while the other was not even aware of how much he owned and thus not happy with the way the father treated him.
+ (v.2) This verse demonstrates the tendency of human beings to protect themselves by drawing a line between "righteous people" and "wrong people." However, we often create our own self-righteousness by making others wrong for what they did and rejecting them.
+ (v.11) Two sons: Provides a ground for comparison.
+ (v.12) The father just did, without question, what the younger son had asked of him; he had no judgment of what the son was trying to do.
+ (vv.13-16) A series of wrong actions, one leading to another. While Jews could not eat pork, joining the Gentiles to feed swine and eating their food were probably not the son's choices but rather the consequences of his earlier wrong decision for his own life.
+ (vv.17-18) "When he came to himself" means he was very present to how he had gotten himself to the current situation, thus he could clearly see the relationship with his father, as well as the generosity of this man. He instantly saw a solution.
+ (vv.20-24) The father apparently thought of nothing but the fact that the person off in the distance was his son. He had no judgment about what had happened and just wanted to welcome his son back to the full status of a son, which was symbolized by the robe, ring, and sandals.
+ (vv.28-31) The elder son blamed the father for mistreating him; he did not realize that he had an ownership of the estate and could treat himself any which way he wished.
One Main Point: Like the father in this parable, God has given each of us so much including the freedom to choose our own life, and He always knows us as His sons and daughters. When we have been on a wrong path and chosen to come back, He has no judgment of what we have done, and is always glad to take us back with love.
Reflections
1. Seeing how the lost son found the way out for his own life, when facing an undesired situation how can I be present to my own mistake, so I can clearly see myself in my relationship with God and others? What am I to do, to put my life back to where it belongs so I no longer have to struggle?
2. The father in this parable took his son back as if nothing had been wrong with him. Can I think of many situations in which I made someone wrong for what he or she did and then refused my love for him or her?
3. Like the elder son, I might have judged and blamed others including God, as if they were responsible for how I feel about myself. How do I take ownership of, and become responsible for my life?

Sunday, March 11, 2007

Chúa Nhật 3 Mùa Chay - 3rd Sunday of Lent (Luke 13:1-9)

Bài Đọc I: Exodus 3:1-8,3:13-15 II: 1Cor 10:1-6,10:10-12
Phúc Âm Luca 13:1-9
(1) Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. (2) Đức Giêsu đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Galilê đó có tội lỗi hơn hết mọi người Galilê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? (3) Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. (4) Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôa đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? (5) Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy". (6) Rồi Đức Giêsu kể dụ ngôn này: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, (7) nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?" (8) Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. (9) May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi".
Chi Tiết Hay
+ (cc.1-5) Chỉ có một mình Luca kể lại các biến cố này. Trong bầu khí chính trị sôi sục của một thuộc địa bị La Mã đô hộ, Đức Giêsu lại phải đối phó với một cái bẫy nữa của những người tìm đủ mọi cách làm hại Ngài. Nếu Ngài tránh né không có ý kiến gì về việc Philatô giết một số người vô tội thì người ta sẽ lên án Ngài là không có lòng ái quốc. Nhưng nếu Ngài lên án Philatô, họ sẽ đi tâu với nhà cầm quyền La Mã và có thể Ngài sẽ bị trừng phạt.
+ Thường thường cây vả được trồng sau ba năm sẽ sinh trái. Kể từ năm đó cây sẽ sinh trái liên tục trong vòng mười tháng nghiã là gần như lúc nào cũng có trái. Trái cây trong ba năm tiếp theo đó không ai được phép hái ăn (Lêvi 19:23). Từ năm thứ bảy, trái cây được coi là sạch và phải làm của lễ hiến dâng lên Thiên Chúa (Lêvi 19:24). Người chủ trong dụ ngôn này đã chờ đợi sáu năm, rồi ba năm sau nữa, tức là tổng cộng chín năm trời mà cây vẫn chưa sinh trái.
+ Dụ ngôn này không có ý muốn nói về cây cối nhưng muốn nói đến tầng lớp lãnh đạo của Do Thái thời đó gồm các luật sĩ và tư tế. Họ (được tượng trưng bởi những cây vả) đang chiếm đoạt sự sống của dân (tượng trưng bởi vườn nho; theo Isạ 5:7). Đức Giêsu tố cáo họ là đã không sinh hoa trái và cần phải bị bứng rễ đi. Sau này trong một dụ ngôn khác về vườn nho (20:19), họ hiểu ý Đức Giêsu muốn ám chỉ đến họ và đã vô cùng căm tức.
+ Dụ ngôn cây vả của Luca đã có thêm một chi tiết khác so với hai Phúc Âm của Matthêu và Máccô. Ở đây người làm vườn khẩn khoản xin cho cây vả được thêm thời giờ để bón phân và chăm nom kỹ lưỡng hơn.
Một Điểm Chính: Việc xảy ra ở Ga-li-lê và tại Si-lô-a không phải là những hình phạt của Thiên Chúa. Nhưng một án phạt nặng nề hơn sẽ xảy đến ở một nơi khác: Giê-ru-sa-lem, nơi Thiên Chúa đến trú ngụ giữa dân mà Ngài tuyển chọn.
Suy Niệm
1. Tôi có qúa chú trọng đến việc xóa bỏ những tệ đoan, cải thiện xã hội bên ngoài mà quên đi nhu cầu phải thay đổi chính bản thân tôi chăng?
2. Nếu tôi được biết trước ngày mai tôi sẽ qua đời thì có một việc gì tôi mong đã làm khác hơn, điều gì đáng lẽ tôi đã phải thay đổi từ lâu?
------------------------------------------
3rd Sunday of Lent
Reading I: Exodus 3:1-8,13-15 II: 1Cor 10:1-6,10-12
Gospel Luke 13:1-9
(1) There were some present at that very time who told him of the Galileans whose blood Pilate had mingled with their sacrifices. (2) And he answered them, "Do you think that these Galileans were worse sinners than all the other Galileans, because they suffered thus? (3) I tell you, No; but unless you repent you will all likewise perish. (4) Or those eighteen upon whom the tower in Silo'am fell and killed them, do you think that they were worse offenders than all the others who dwelt in Jerusalem? (5) I tell you, No; but unless you repent you will all likewise perish." (6) And he told this parable: "A man had a fig tree planted in his vineyard; and he came seeking fruit on it and found none. (7) And he said to the vinedresser, 'Lo, these three years I have come seeking fruit on this fig tree, and I find none. Cut it down; why should it use up the ground?' (8) And he answered him, 'Let it alone, sir, this year also, till I dig about it and put on manure. (9) And if it bears fruit next year, well and good; but if not, you can cut it down.'"
Interesting Details
+ (vv.1-5) Luke alone records these incidents. In this highly politically charged atmosphere of Roman-occupied Palestine, Jesus faces yet another trap. If He ignores this event, He will be accused of insensivity to His people. But if He criticizes Pilate, He will probably be reported to the Roman authorities and be punished by them.
+ The fig tree would have three years to grow after planting. From then, the tree bears fruit ten months out of the year, and so one can reasonably expect to find fruit at almost any time. The fruit of the next three years is considered forbidden (Lev 19:23). The fruit of the seventh year is considered clean and ought to be offered to the Lord (Lev 19:24). The owner in this parable has come seeking fruit for three years, hence it is nine years since planting, and yet it is still barren.
+ The parable is not about trees but about the nation's leadership: the scribes and the chief priests. They (= the fig trees) are stealing life from the people (= the vineyard; Isa. 5:7). Jesus accuses them as fruitless and should be rooted out. Later, in 20:19, they understand that the vineyard parables are directed to them.
+ Luke's approach of the fig tree stories is particularly interesting. Unlike Matthew & Mark which relate an encounter between Jesus and a fig tree bearing no fruit. But in Luke, the fig tree is allowed to have more time; indeed, it has already had its time.
One Main Point: What took place in Galilee and at Siloam were not judgments of God. But a severe judgment lies ahead for another place, Jerusalem, where God established a dwelling place among the chosen people.
Reflections
1. Am I so often focused on the evils to be uprooted that I neglect the need for personal reform as well?
2. If I learned that I will die tomorrow, what is the one thing that I would have done differently? How hard would it be for me to do that every day?

Friday, March 09, 2007

GẶP ĐỨC CHÚA GIÊSU QUA BÍ TÍCH GIẢI TỘI

Con cảm thấy thật bé-nhỏ và hèn-yếu khi nói về bí tích Giải Tội. Bởi lẽ, đây là bí tích quá đẹp, quá cao cả, đến nỗi danh từ cao đẹp nhất ẩn chứa trong tim con cũng không đủ để diễn tả ”chiều cao, chiều rộng và chiều sâu” của bí tích. Nhờ bí tích Giải Tội con người giao hòa với THIÊN CHÚA qua trung gian vị Linh Mục. Chính vị Linh Mục lắng nghe và xóa bỏ tội lỗi con người nhân danh Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Trong thời gian dài con gọi bí tích Giải Tội là bí tích ”đền tội”. Và con sống bí tích như thế. Con cảm thấy đúng là mình phải ”đền bù” tội lỗi bằng cách hạ mình đến quỳ gối trước vị Linh Mục để xưng thú mọi tội lỗi. Con chỉ thấy có khía cạnh tiêu cực này khi phải liệt kê tất cả tội đã phạm.
Đó là thời gian của ”thử thách” và của ”sự thật”. ”Sự thật”, bởi vì, con phải thành thật xưng thú mọi lỗi lầm thì mới tìm lại niềm an bình nội tâm. Cứ sau mỗi lần xưng tội con cảm thấy mình chân-thật và trong-sáng hơn trước mặt THIÊN CHÚA.
Con sống tinh thần ”đền tội” mãi cho đến ngày con khám phá ra bí tích Giải Tội chính là bí tích Hòa Giải. Ngày ấy, con hiểu rõ ý nghĩa dụ ngôn người con hoang đàng. Trước đó con không hề thấy ”người con hoang đàng” chính là con và người cha nhân từ là hình ảnh THIÊN CHÚA CHA.. Sau đó, con hiểu THIÊN CHÚA là CHA đầy tình yêu đang trông ngóng và đợi con trở về. Ngài mở rộng tay chờ đón hầu con có thể lao vào ẩn trú trong tình yêu thương của Ngài.
Con cũng hiểu thế nào là ”con tim tan nát vì hối hận” bởi lẽ chính con sống kinh nghiệm này. Rồi con cũng hiểu với tâm tình thống hối, tội nhân ngã mình vào lòng của THIÊN CHÚA, qua vòng tay vị Linh Mục. Món quà đẹp nhất con người có thể dâng lên Đức Chúa GIÊSU chính là:
- Trao dâng trọn con tim cho dù nó có dính đầy bùn nhơ. Trao dâng với trọn lòng tin tưởng, khiêm tốn và thống hối.
Thành thật nhìn nhận rằng không mấy dễ khi phải xưng thú mình là kẻ khốn cùng, phải phơi bày mọi tội lỗi ra ánh sáng!
Điều tốt hơn cả là lý luận bằng con tim. Như thế chúng ta thấy rõ hơn. Chúng ta thấy với Ánh Sáng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chúng ta nhìn nhận mình bé nhỏ, yếu đuối như đứa trẻ, tùy thuộc vào người mẹ. Hãy đến cùng Đức Chúa GIÊSU KITÔ với con tim khiêm tốn và nghèo nàn. Đức Chúa GIÊSU yêu thương trìu mến cách riêng các em bé và người giản dị đơn sơ. Từ đó, con người không cảm thấy xấu hổ và nhục nhã mỗi khi đến tòa xưng thú tội lỗi. Trái lại, đến tòa giải tội tín hữu Công Giáo kín múc ơn tha thứ và tình yêu.
Đối với con, nhờ bí tích Giải Tội con người làm hòa với Tình Yêu và với người khác. Bí tích Giải Tội là bí tích trao đổi. Đúng như thế. Con người đến ”trao” khốn khổ đời mình cho THIÊN CHÚA và ”đổi” lấy Con Tim đầy tràn Tình Yêu. Và tất cả đều hoàn toàn nhưng không, vô giá.
Cứ mỗi lần lãnh nhận bí tích Giải Tội - bí tích Hòa Giải - con có cảm tưởng mình chìm sâu trong Trái Tim Từ Bi của THIÊN CHÚA.
Chứng từ của cô Marie thanh nữ Pháp
....”Tôi quỳ gối trước mặt THIÊN CHÚA CHA là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất. Tôi nguyện xin THIÊN CHÚA CHA thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh chị em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh chị em được vững vàng. Xin cho anh chị em, nhờ Đức Tin, được Đức Chúa KITÔ ngự trong tâm hồn; xin cho anh chị em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh chị em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết Tình Yêu của Đức Chúa KITÔ, là Tình Yêu vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh chị em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của THIÊN CHÚA. Xin tôn vinh Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới. Xin tôn vinh Người trong Hội Thánh và nơi Đức Chúa KITÔ GIÊSU đến muôn thưở muôn đời. Amen.”
(Êphêsô 3,14-20).(Marie-Michel, ”Infinie sa Tendresse”, Le Sarment FAYARD, 1993, trang 79-82).
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt (Vietcatholic News)

Hòa giải với mình

Mùa Chay là mùa Giáo Hội kêu gọi những người tín hữu sau khi xa rời ân sủng Thiên Đàng, hãy đứng lên quay về hòa giải với người Cha nhân từ đang đứng chờ đợi bên khung cửa sổ của căn nhà ngày xưa. Nhưng trước khi bàn đến khía cạnh hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, người viết muốn bàn đến một khía cạnh hòa giải khác, đó là hòa giải với chính mình. Khía cạnh hòa giải với mình này được trình bày trong hai câu chuyện nổi tiếng trong dòng lịch sử ơn cứu độ, một xuất phát từ bản Tin Mừng theo thánh Luca; một xuất hiện trong bản Tin Mừng theo thánh Gioan.
I. Hòa Giải
Thế nào là hòa giải với mình? Mà tại sao hòa giải với mình lại đi trước hòa giải với Thiên Chúa?
Đức Giêsu nói, “Yêu người như yêu chính mình”. Ông bà mình cũng nói, “Thương người như thể thương thân”. Thông thường chúng ta hiểu câu nói của Đức Giêsu và ông bà của mình một cách đơn giản là mình nên yêu mọi người như yêu thương chính mình. Nhưng cái rắc rối nằm ở chỗ nếu chúng ta không biết “thương thân”, “yêu chính mình”, làm sao chúng ta có thể biểu lộ hoặc thể hiện tình thương của mình tới những người khác? Thí dụ, nếu biết yêu thương chúng ta, mình sẽ không uống rượu say sưa làm hại đến lá gan và bao tử của mình. Nếu biết yêu thương chúng ta, mình sẽ không hút thuốc lá làm hại đến hai lá phổi và sức khỏe của mình. Nếu biết yêu thương chúng ta, mình sẽ chăm sóc đến sức khỏe của mình nhiều hơn, bằng cách tập thể dục thường xuyên và ăn uống những thức ăn lành mạnh. Tương tự như vậy trước khi bàn về vấn đề hòa giải với Thiên Chúa, chúng ta nên tự vấn chính mình,
— Tôi đã hòa giải được với tôi hay chưa?
Nếu không có khả năng tha thứ cho hoặc hòa giải được với mình, làm sao tôi có thể hòa giải được với ai khác?
II. Người Con Hoang Đoàng
Câu chuyện Người Con Hoang Đàng (Luca 15:11-32) là một câu chuyện nổi tiếng, gần như ai cũng biết. Nhưng không mấy người chú ý đến một chi tiết liên quan đến khái niệm hòa giải với chính mình được trình bày trong câu chuyện. Trước khi quyết định quay về lại căn nhà xưa, Cậu Út nói,
— Tôi sẽ quay về nhà cha tôi. Tôi sẽ nói với người, “Thưa cha, con đã phạm tội đến trời và đến cha. Con không còn đáng được gọi là con cha nữa” (Luca 15:18-19).
Câu nói này Cậu Út không nói với ai hết nhưng với chính cậu ta. Sau đó Cậu Út mới lên đường trở lại căn nhà xưa. Khi gặp người cha, người con hoang đàng lập lại trước mặt thân phụ của mình nguyên văn câu nói mà cậu đã từng nói với chính mình trước đây,
— Thưa cha, con đã phạm tội đến trời và đến cha. Con không còn đáng được gọi là con cha nữa” (Luca 15:21).
Câu nói mà Cậu Út nói với chính mình trước khi làm một đường vòng chữ U là một câu nói của hòa giải với chính mình. Vào giây phút đó, người con hoang đàng không hòa giải với bất cứ một người nào khác, nhưng với chính cậu ta. Bởi đã hòa giải được với mình, Cậu Út đứng dậy, quay về lại căn nhà xưa. Lần này cậu hòa giải với người cha của một thời mà cậu đã quay mặt từ chối, xoay lưng bỏ đi.
III. Người Phụ Nữ Samaria
Câu nói, “Tôi không có chồng” (Gioan 4:17) của người phụ nữ xứ Samaria cũng là một câu của hòa giải với mình.
Có một chi tiết mà thông thường chúng ta ít chú ý tới khi nghe lời đối thoại giữa Đức Giêsu và người đàn bà xứ Samaria. Câu nói “Cô hãy về nhà gọi chồng cô ra đây” (Gioan 4:16) là một câu nói hơi đường đột, và bất lịch sự.
Titanic là một bộ phim nổi tiếng dài ba tiếng lấy biết bao nhiêu giọt nước mắt của khán giả. Sau khi cứu nhân vật nữ Rose thoát khỏi cảnh hiểm nghèo, sáng hôm sau, Jack Dawson và Rose gặp gỡ nhau. Chuyện qua chuyện lại, bất ngờ Jack nhắc đến vị hôn phu của Rose. Anh chàng Jack hỏi,
— Cô có yêu vị hôn phu của cô hay không?
Ngỡ ngàng trước câu hỏi quá đường đột, thẳng như ruột ngựa đó, Rose khó chịu,
— Anh là một người bất lịch sự. Tôi không biết anh. Anh không biết tôi… Anh hỏi tôi một câu anh không nên hỏi. Anh đúng là một người bất lịch sự…
Hai người, Jack và Rose, chỉ mới một lần gặp nhau. Dù rằng chàng thanh niên Jack đã có cử chỉ hào hùng cứu lấy mỹ nhân Rose, nhưng thật sự ra, hai người vẫn chưa trở thành thân cho lắm để tâm sự hoặc chia sẻ riêng tư.
Chuyện vợ chồng trong nền văn hóa nào cũng là một câu chuyện riêng tư mà một người lịch sự không nên mở miệng hỏi, trừ khi người đối diện tự động nhắc đến. Gặp một người phụ nữ sơ giao trong một bữa tiệc, một người con trai lịch sự không bao giờ hỏi, “Cô đã có chồng chưa? Cô được mấy cháu rồi?” Câu này là một câu hỏi thiếu tế nhị, bởi nó có thể bị người đối diện hiểu lầm. Khi gặp một người đàn ông và một người đàn bà đang đứng nói chuyện với nhau nơi đồng không mông quạnh, rất khó cho chúng ta không có những tư tưởng xấu về họ. Chắc chắn chúng ta sẽ không nghĩ là hai người này đang tranh luận hoặc bàn thảo về chuyện tôn giáo, chính trị, hay là họ đang lần hạt Mân Côi chung với nhau. Thế mà giữa đồng không mông quạnh gần thành phố Sai-kar, Đức Giêsu gợi chuyện với người phụ nữ Samaria. Sau cùng Ngài hỏi người đàn bà lạ mặt một câu hỏi về đời sống riêng tư của bà, “Hãy về và gọi chồng cô ra đây”. Trước tình cảnh này, người phụ nữ xứ Samaria có ba chọn lựa.
Chọn lựa thứ nhất, cô ta sẽ nói, “Ông là một người bất lịch sự. Ông không biết tôi. Tôi không biết ông. Ông hỏi tôi một câu hơi thiếu tế nhị. Tôi từ chối trả lời câu hỏi này bởi ông là một người bất lịch sự”.
Chọn lựa thứ hai, người đàn bà im lặng không nói chi, bởi câu hỏi của Đức Giêsu hơi đường đột, quá bất ngờ.
Chọn lựa thứ ba, người đàn bà xứ Samaria trả lời câu hỏi của Ðức Giêsu.
Theo như thánh sử Gioan, cuối cùng cô ta chọn, cái chọn lựa thứ ba, bởi cô nói, “Tôi không có chồng”.
Trong lăng kiếng hòa giải, “Tôi không có chồng” là câu nói mà người phụ nữ đang nói với chính cô ta chứ không phải ai khác. Bị chất vấn, bị đặt vấn đề, người thiếu nữ cuối cùng chọn lựa thành thật với chính mình. Cô không chọn cái chọn lựa thứ nhất, bằng cách từ chối trả lời câu hỏi. Cô cũng không chọn cái chọn lựa thứ hai, bằng cách yên lặng không nói chi. Nhưng cô chọn cái chọn lựa thứ ba, chọn lựa của chấp nhận có một thời cô đã sống trong tội lỗi. Cô chấp nhận hòa giải với chính mình bằng cách thú nhận với cô rằng người đàn ông cô đang sống chung không phải là chồng của mình. Tư tưởng nẩy sinh trong tâm hồn, xoay tròn trong tâm trí, cuối cùng bật ra nơi cửa miệng. Và người phụ nữ xứ Samaria nói, “Tôi không có chồng”. Câu nói này, cô ta đang nói với chính mình. Đồng thời, đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi của người khách lạ mặt bên bờ giếng, câu nói hòa giải với Thiên Chúa qua hình ảnh của Con Một của Người là Ðức Kitô.
IV. Tha thứ và Hòa giải
Có lần tôi gặp một người phụ nữ. Cô ta phá thai. Mười năm rồi, lương tâm cô ta bị cắn rứt với hình ảnh thai nhi đã một lần cô phá bỏ. Cô nói mặc dù đã lãnh nhận bí tích Hòa Giải nhiều lần, nhưng vẫn không cảm nhận được bình an trong tâm hồn. Lắng nghe câu chuyện, cuối cùng tôi hỏi,
— Vậy bao giờ chị sẽ tha thứ cho chị sau một lần lầm lỡ? Bao giờ chị sẽ hòa giải với chị cho một câu chuyện xảy ra đã hơn mười năm rồi? Mười năm vừa qua chị tự hành hạ mình chưa đủ hay sao?
Người con gái nhìn tôi. Cô ngỡ ngàng. Cô yên lặng. Và cô ta khóc! Nếu chưa hòa giải được với mình, tôi nghĩ rất khó cho chúng ta chấp nhận hòa giải với Thiên Chúa; bởi trong nhiều trường hợp, Chúa đã tha thứ cho chúng ta từ bao lâu rồi, nhưng chúng ta vẫn như chú kiến, bò tới bò lui trên miệng chén, loay hoay đi ra đi vô lên án chúng ta.
V. Hòa Giải Với Mình
Trong những buổi cấm phòng chia sẻ về chủ đề Hòa Giải, đặc biệt hòa giải với chính mình, nhiều người đặt câu hỏi, thắc mắc với tôi về những phương cách giúp chúng ta tha thứ và hòa giải với chính mình.
Khi một người xin lỗi chúng ta về một lời nói hay một hành động, động từ xin lỗi trong trường hợp này bao gồm hai ý nghĩa; thứ nhất, người xin lỗi biết mình sai lầm; thứ hai, người xin lỗi mong muốn được tha thứ. Nếu đồng ý tha thứ, chúng ta chấp nhận hòa giải. Tha thứ ở đây có nghĩa là không bao giờ chúng ta nhắc lại hành động lỗi lầm của người đó một lần nữa. Chúng ta không nhắc lại một lần nữa câu chuyện của quá khứ không phải bởi chúng ta đã quên đi chuyện cũ, nhưng bởi chúng ta đã chấp nhận hòa giải. Tiếng Anh có một câu nói khá chính xác diễn tả trường hợp này, forgive not forget, tha thứ nhưng không quên. Có thể câu chuyện đó vẫn nằm trong trí nhớ của chúng ta, nhưng bởi mình đã chấp nhận tha thứ hòa giải, chúng ta để cho câu chuyện đó chìm sâu vào trong quá khứ.
Thật sự ra có những biến cố trong đời, chúng ta không thể nào quên đi được, mặc dù chúng ta đã đồng ý tha thứ cho người lầm lỡ hoặc cho chính chúng ta. Dòng đời trôi qua nhưng biến cố này vẫn khắc sâu trong trí nhớ chúng ta. Nhớ lại những lỗi lầm hoặc biến cố này, chúng ta vẫn cảm thấy xót xa, mất bình an, thí dụ, phá thai. Ngược lại, cũng có những trường hợp chúng ta đã tha thứ, bỏ qua, và rồi chúng ta quên luôn câu chuyện này theo dòng thời gian. Tôi nhớ, hồi còn nhỏ tôi nổi giận, đánh cô em gái. Tôi đã xin lỗi. Về sau có một lần vui miệng tôi nhắc lại câu chuyện cũ với em tôi. Cô em nói nếu anh không kể lại, em cũng chẳng nhớ là đã có lần anh em bất hòa.
Để hòa giải với Thiên Chúa, chúng ta phải làm gì? Một trong những phương cách để hòa giải với Thiên Chúa mà một người Kitô hữu thường làm là qua Bí Tích Hòa Giải. Chúng ta gặp một vị linh mục, người đại diện cho Chúa. Chúng ta NÓI với Chúa về những lỗi lầm. Chúng ta xin Thiên Chúa thứ tha cho những lần chúng ta yếu đuối.
Một cách tương tự, để tha thứ, để hòa giải được với mình, tôi đề nghị chúng ta có thể làm những điều sau đây:
(1). VIẾT những lỗi lầm của chúng ta lên trang giấy, thí dụ, viết nhật ký. Trong trường hợp viết nhật ký, chúng ta phải cẩn thận, bởi biết đâu sẽ có người thứ hai đọc được những hàng nhật ký riêng tư của chúng ta. Nếu muốn, sau khi viết lên giấy trắng những tâm sự riêng tư của mình, chúng ta nên đốt đi.
(2). Chúng ta NÓI ra hoặc KỂ lại với một người thứ hai về những lỗi lầm của chúng ta, những câu chuyện cắn rứt lương tâm của mình. Người thứ hai đây phải là một người chúng ta hoàn toàn tin tưởng được. Người này có thể là người bạn, hoặc người thân trong gia đình, hoặc linh mục trong tòa giải tội, hoặc sơ linh hướng, hoặc ngay cả với Thiên Chúa. Nếu có điều kiện về tài chánh, bạn có thể nói với bác sĩ tâm lý, counselor.
Viết hoặc nói ra những biến cố quan trọng, những biến cố cắn rứt lương tâm là một trong những cách một người có thể làm trong khi họ đang tìm cách để tha thứ và hòa giải với chính mình. Đặc biệt, một trong những dấu hiệu biết là mình đã tha thứ, đã bỏ qua, đã hòa giải là trong khi nhớ lại câu chuyện cũ, mình không còn cảm thấy bồi hồi xót xa, hoặc là lương tâm cắn rứt với câu chuyện cũ nữa.
LM Nguyễn Trung Tây, SVD (http://www.nguyentrungtay.com/cnmoi.html)

TỘI LỖI VÀ THÁNH THIỆN

Bản chất của tội lỗi
“Tội lỗi không xấu vì nó bị cấm, nó bị cấm vì bản chất của nó là xấu” (Franklin). Qua câu chuyện Ađam-Evà, Kinh Thánh trình bày cho ta thấy tội là một sự đối kháng với Thiên Chúa, muốn thay thế Thiên Chúa làm chủ tể vận mệnh đời mình, và lấy mình làm khuôn thước định đoạt về sự lành, sự dữ. Sự kiện bắt đầu với lời dụ dỗ của con rắn, làm cho con người nghi ngờ về Thiên Chúa, Đấng không tuyệt đối vô vị lợi và hoàn hảo như con người nghĩ. Giới luật được ban ra vì lợi ích của con người (Rm 7, 10) chẳng qua cũng chỉ là mưu kế của Thiên Chúa phát minh ra để bảo tồn các ưu phẩm của Ngài, và lời đe dọa cũng chỉ là trò gian dối (Stk 3, 4). Với tà ý này, con người đã coi Thiên Chúa như đối thủ của mình : một Thiên Chúa không còn vô cùng, nhưng như một hữu thể bần cùng, vụ lợi, luôn bận tâm chống lại thụ tạo của mình (Nietzsch).
Trước khi là một hành vi, tội đã làm hư hỏng tinh thần con người, để rồi sau đó làm gẫy đổ mối tương quan với Thiên Chúa, và làm đổ vỡ mọi tương quan khác trong đời sống nhân loại (Stk 4,8). Điều oái oăm là khi sống trong tình trạng nô lệ tội lỗi, con người cứ ngỡ mình chiếm được tự do và độc lập. Tiếc thay con người đã không nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng vô biên nên Ngài cũng là Đấng trao ban đến vô cùng, Đấng không hề từ chối điều gì với con người mà Ngài đã dựng nên “giống hình ảnh Ngài” (Stk 1, 26). Ngài không giữ lại cho mình điều gì, ngay cả sự sống cũng không (Kn 2,13; Ga 3,16).
Trớ trêu thay, Israel sống lại thảm kịch của Ađam còn bi thảm hơn. Từ một dân riêng ưu tuyển (Xh 19, 5) chứng kiến biết bao kỳ công Chúa đã làm cho mình, nhưng rồi họ vẫn thích “con bò vàng” : một vị thần vừa tay họ hơn là một Thiên Chúa “vô hình”, xa lạ; một vị thần mà họ có thể đòi hỏi theo ý họ hơn là họ phải theo ý Thiên Chúa. Cái cám dỗ muôn thuở của con người vẫn là muốn một Thiên Chúa đi theo con đường của mình hơn là mình phải đi theo con đường của Thiên Chúa.
Thế rồi Israel lại tiếp tục xây thêm “mồ mã dục vọng” của mình. Ngay cả trong hoang mạc mà họ cũng đòi phải được ăn uống theo sự lựa chọn của mình (Đnl 9,22). Lòng tham của họ sẽ được toại nguyện, nhưng cũng như Ađam, họ phải trả cái giá quá ư nghiệt ngã khi lấy đường lối mình thay thế đường lối Thiên Chúa (Ds 11,33). Đó chính là bài học mà Thiên Chúa không ngừng nhắc lại cho Israel qua các sứ ngôn, đặc biệt là tố giác tội của giới lãnh đạo và tư tế, là những kẻ trước tiên muốn chạy theo sự dễ dãi và lôi kéo dân Chúa theo con đường của phàm nhân.
Khi con người xa lìa Thiên Chúa, tội trở thành một thực tại hết sức cụ thể: bạo lực, bất công, cường quyền, ác bá, sát nhân, ngoại tình, chiến tranh, ghen ghét, hận thù... làm đảo điên đời sống xã hội (Is 59). Điều này cho thấy, ai chủ trương tự kiến tạo đời mình, không lệ thuộc vào Thiên Chúa, người đó sẽ gây bao điều ác hại cho đồng loại (Tv 52,9). Điều đó không chỉ xúc phạm tới quyền lợi Thiên Chúa mà còn làm tổn thương nặng nề đến tâm hồn Ngài. Hẳn là tội nhân không thể nào xúc phạm tới Thiên Chúa nơi chính mình Ngài (Gb 35,36), họ chỉ chuốc lấy tai họa cho mình thôi (Gr 7,19), nhưng tiên vàn làm tổn thương Ngài trong mức độ nó làm tổn thương những kẻ Ngài yêu. Đó là sự xúc phạm tới Thiên Chúa trong kế hoạch tình yêu của Ngài. Đó còn là sự phân rẽ con người với Thiên Chúa là nguồn sống duy nhất, và là một sự bội phản vong ân trước tình yêu vô hạn của Ngài.
Con đường thánh thiện
Tình yêu vô hạn của Thiên Chúa đã cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô : Đấng “tự hủy” và “tự hiến” để làm của lễ tha thứ, giao hòa, đưa con người về với Thiên Chúa, xóa khoảng cách muôn trùng do tội lỗi con người gây nên. Con đường thánh thiện chính là trở về với lòng từ bi của Thiên Chúa để sống trong tình yêu thương của Ngài. Chỉ có Ngài là Đấng Thánh duy nhất mới có thể tác thánh con người từ trong bùn nhơ tội lỗi. Sự trở về với Chúa là gạch nối giữa tội lỗi và thánh thiện. Biên giới giữa tội lỗi và thánh thiện cũng chỉ đi qua trái tim mỗi người chúng ta. Một con tim đóng kín hay mở rộng là sự phân chia giữa tội lỗi và thánh thiện. Càng đóng kín càng nghèo nàn đói rách, càng mở rộng càng dồi dào phong phú. Đóng kín là quay lại với chính mình, với sự trơ trọi yếu hèn của bản thân mình. Mở rộng là quay về với Chúa, với nguồn sống thánh thiện của Ngài.
Điều quan trọng là nhận ra lỗi lầm của mình (Lc 18,10). Không nhận ra lỗi lầm là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm. Không nhận ra lỗi lầm thì không có con đường trở về, chỉ còn đi đến sự hư vong.
Điều đáng nói hơn nữa là nhiều khi ta chỉ thấy lỗi lầm của kẻ khác mà không thấy được lỗi lầm của mình, nên mọi sự đều trở nên tối tăm, hỗn loạn (Mt 7,3-5). Cái lỗi lầm mà ta dễ thấy nơi người khác cũng chính là những điều đang rào kín và trói buộc tâm hồn ta, để rồi tồn đọng trên đôi mắt ta. “Chỉ khi cái dằm tội lỗi ra khỏi mắt ta, tất cả thế giới sẽ tỏa sáng” (Taeboit).
Điều kinh khủng hơn nữa là làm lơ hay cố chấp về những lỗi lầm của mình (Lc 13,5). Người Đức có câu ngạn ngữ như sau: “Sa ngã vào tội là con người, nhưng ở lại trong tội chính là quỉ sứ”.
Tội lỗi và thánh thiện nằm ngay trong bản chất của sự việc. Tuy nhiên, nhiều khi nó chỉ khác nhau bằng một tâm ý. Tuy rằng đồng cảnh ngộ, cùng sự kiện, chung một phương cách, nhưng nó luôn được phân rẽ giữa hai cực bằng một tâm ý. Tâm ý là sự định hình một nhân cách từ bên trong, là một sự khoanh vùng giữa tội lỗi và thánh thiện. Dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18,14) và câu chuyện bà góa nghèo bỏ hai đồng bạc dâng cúng (Lc 21,1) cho ta thấy rõ điều đó. Mọi hành vi của ta đều phát xuất từ tâm ý, dù ý thức hay thiếu ý thức, nó vẫn cho thấy được tình trạng của tâm hồn mình.
Hoàn cảnh cũng là một tác động làm đổi thay tâm ý. Cùng một hoàn cảnh nhưng cái nhìn, cách nhìn và sự vận dụng có khi hoàn toàn khác nhau. Cái nhìn tích cực thì đó là một cơ may, cái nhìn tiêu cực thì đó là một rủi ro. Thật ra, tự hoàn cảnh vẫn chưa là gì. Nó là gì thì tùy thuộc tâm hồn ta. Bởi đó cũng một hoàn cảnh mà có người nên thánh nhân, có người thành tội nhân. Điều đó cho ta thấy rằng, “Khoảng cách giữa tội lỗi và thánh thiện hẹp đến nỗi chỉ vừa đủ chỗ cho hoàn cảnh chen vào” (Borowd).
Cũng vậy, dĩ vãng đen tối không thể là kết luận cho một hiện tại và tương lai. Quá khứ trong sáng không thể là lý chứng cho hôm nay và mãi mãi. Cái nhìn cứng đọng về những gì đã qua là cái nhìn triệt hạ. Cái nhìn đóng khung cho những gì sắp tới là cái nhìn bế tắc. Cuộc sống của mỗi con người là một huyền nhiệm trong ân sủng Chúa và trong nổ lực của chính họ. Không ai dại gì mà cố tình biến đời mình thành một tên tội phạm. Không ai ngu gì mà chôn vùi bản thân mình vào nghiệp chướng. Nhưng chỉ vì ảo tưởng, ích kỷ và kiêu căng do một ý thức hệ, một thời thế hay biến cố làm nên. Sở dĩ người ta cố chấp, cố tình trong tội lụy là vì để cho mình bị bao vây bởi những tường rào giả tạo đó. Vì thế, trước khi nhận ra những lầm lỗi của mình, phải có khả năng nhận ra những tù túng của bản thân mình.
“Mỗi thánh đều có một dĩ vãng, và mỗi tội nhân đều có một tương lai” (Wilde). Không ai có quyền trịch thượng để đặt dấu chấm hết cho một dĩ vãng của mình hay người khác. Cũng không ai có khả năng thần thánh để quyết đoán cho một tương lai đang còn nằm trong bàn tay Chúa. Điều kỳ diệu mà Chúa vẫn làm nên là vẽ lên nét thẳng trên những đường cong. Lịch sử cứu độ và kinh nghiệm thiêng liêng cho ta biết rằng : tình thương, ân sủng, ánh sáng và sự thánh thiện của Chúa không ngừng tỏa lan trong mọi thời khắc để thấm nhập vào từng con người. Tình thương Ngài sẽ xóa đi khoảng cách mà tội lỗi con người đã phân rẽ; ân sủng Ngài sẽ chế ngự tội lỗi mà con người đã gây nên; ánh sáng Ngài sẽ soi vùng tăm tối mà con người đang trú ẩn; sự thánh thiện của Ngài sẽ chuyển hóa sự sống mà con người đã làm tổn thương.
Cũng từ đó chúng ta nhận thức rằng, Thiên Chúa đang làm tất cả để con người được vui thỏa trong khát vọng thâm sâu của mình, chứ không phải trong dục vọng nông nổi do con người làm nên. Nhưng đừng quên rằng mãnh lực sự dữ vẫn bám riết lấy chúng ta trong mọi giờ phút, và hoạt động của nó đi ngược lại với tiến trình của Thiên Chúa ở nơi ta. Thiếu tỉnh thức về điều đó, ta dễ biến mình thành một người ngây ngô, làm mồi ngon cho sự dữ. Bởi vậy, không lạ gì con người ta dễ ngộ nhận giữa hư và thật, giữa chân và giả, giữa tạm thời và vĩnh cửu, giữa hạnh phúc đích thực của chân tâm và hạnh phúc giả tạo của gian tà.
Hãy nhìn ra thế giới bao la đang biển chuyển từng giây phút trong cuộc đời ta. Ở đó, Thiên Chúa, con người và vũ trụ đang hòa tấu khúc tình ca. Sân khấu cuộc đời đang diễn ra với ngoại cảnh muôn màu làm con người choáng ngợp. Trong bản hợp tấu này, thánh thiện là nhịp điệu của Thiên Chúa, tội lỗi là sự hỗn độn của con người. Hãy nhìn về Chúa để thấy mình đang lỗi nhịp. Hãy hướng về Chúa để thiết lập một trật tự hài hòa nơi chính mình. Hãy đến với Chúa để hòa nhập đồng bộ với Ngài. Hãy kề cận bên Chúa để cùng hòa điệu khúc luân vũ của cuộc đời mình. Sự thánh thiện của Chúa sẽ tưới gội và tẩy sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Niềm vui và hạnh phúc biết bao trong sự thánh thiện này!
Lạy Chúa mỗi ngày lòng con day dứt không nguôi giữa niềm vui và nỗi buồn, giữa thánh thiện và tội lỗi. Những bước đi sai nhịp nên làm con hụt hẫng và nhiều khi chới với. Có điều Chúa luôn đến kịp thời để đặt lại bước chân con. Con biết rằng lỗi lầm là của con người, và tha thứ là của Chúa, nên con an tâm vui bước trong cuộc đời trong từng ngày trở về cận kề bên Chúa. Giữa bao điều phức tạp, nhiễu nhương và phiền toái của cuộc sống; giữa những đổi thay hỗn độn của lòng người và cảnh đời náo loạn; giữa những công việc bổn phận đầy khó khăn và bất lợi từ nhiều phía chen lẫn những tâm ý tốt lành và xấu xa; giữa những thái độ bất cập hay thái quá và những cái nhìn phê phán gay gắt của anh chị em, xin cho con được tâm hồn thư thái để luôn biết đặt mình trước mặt Chúa trong mọi sự, cho tâm hồn con biết tĩnh lặng và nhẹ nhàng buông theo ân sủng, để sự thánh thiện của Chúa cuốn hút lấy con bây giờ và mãi mãi. Amen.
LM Thái Nguyên (Vietcatholic News)