Monday, March 03, 2008

MÙA CHAY: TRỞ VỀ BÊN CHÚA

Mẫu tự "ST"
Tại một vùng nông thôn nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói kém, bần cùng đã rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc lên trán tội nhân hai mẫu tự "ST", có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt từ chữ stealer).
Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống hòng chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ "ST" đáng nguyền rủa này.
Còn người em, anh tự nói với bản thân mình: "Tôi không thể từ bỏ sự tin cẩn của những người xung quanh và của chính tôi". Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự "ST" vẫn còn in dấu trên vầng trán anh.
Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ rồi trả lời "Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là người thánh thiện (saint).
CHIA SẺ MỘT CHÚT SUY TƯ
Sai lầm là thường tình của con người. Chính vì thế không ai là hoàn hảo. Tôi nhớ ngày xưa còn đi học, tôi nghe có bản nhạc nào đó, có câu: “Ai chiến thắng không từng chiến bại, ai nên khôn không khốn một lần…”
Trong cuộc đời, chắc chắn ai cũng đã có lần vấp ngã. Khi té ngã, ai cũng phải đứng lên nếu muốn tiếp tục cuộc hành trình.
“Thất bại là mẹ thành công.” Thất bại tinh thần cũng vậy. Chính những lỗi lầm ta vướng phải, giúp ta nhận ra sự giới hạn của mình, vị trí của mình, và ta chuẩn bị một hành trang mới để tiến bước. Bước đường thăng tiến đòi hỏi nghị lực và lòng can đảm.
Biết bao người lỡ lầm, bước vào vòng sa đoạ, nhưng vẫn cố chấp lao vào như những con thiêu thân. Hủy hoại cuộc đời mình, bất chấp những lời khuyên răn và những đau khổ của những người thân mến.
Có một xóm đạo kia, có một “ông biện” đam mê cờ bạc, vỡ nợ hàng chục triệu, đất ruộng lớp cầm cố, lớp bán đi. Không ai khuyên can được. Nợ ngày một chồng chất. Việc đánh bài càng lúc càng ăn thua lớn hơn, ông ôm chiếu mền vào mồ mả của cô gái đồng trinh nào đó mới chết nghe nói “linh” lắm, để nhờ cô ta kêu số đề về đáng để “gỡ nợ”! Cuộc sống ngày một lụn bại, thù người này, oán người kia sao không ai giúp mình, tuyên bố bỏ đạo, thờ Chúa thì thờ trong lòng chứ chẳng cần nhà thờ, Giáo Hội, cha thầy gì cả!
Cuộc đời như vậy liệu có còn cơ hội thăng hoa được không?
Sự lỗi lầm bao giờ cũng làm cho con người hổ thẹn. Nhưng sụp đổ cả cuộc đời chỉ vì sự hổ thẹn thì mới thật sự đáng hổ thẹn gấp vạn lần!
Thân xác không thể nào giữ sạch mãi mãi, có lúc dơ bẩn, cần phải tắm rửa. Tâm hồn con người cũng không thể mãi mãi trong trắng, nó cũng cần phải “tắm rửa” để tẩy sạch những tội lỗi, những sai lầm.
Những tội lỗi, những sai lầm làm ta ô nhục, ta hổ thẹn. Dư luận đè nặng trên ta, những lời chê trách châm biếm cứ nghe văng vẳng bên tai ta, những ánh mắt tò mò cứ pha chiếu ngay ta. Đúng là ta rã rời và cô độc.
Nhưng, khi mà có vẻ như không còn bàn tay nào giúp sức cho ta đứng dậy, chính lúc ấy mới chứng tỏ nghị lực và bản lĩnh của ta. Sức mạnh tiềm ẩn trong ta bừng dậy. Hãy lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn ta!
Biết bao người đã góp công góp sức để ta nên người. Cha mẹ ta, bạn bè ta, những người thân yêu ta!
Có thật bạn cô đơn? Có thật mọi người lánh xa bạn?
Trong nhiều trường hợp, “dư luận” là chỉ là thứ “luận dư”, chúng không là ánh sáng dẫn đường cho ta, soi thấu con tim ta, thấu suốt tâm hồn ta. Lẽ nào bạn hủy diệt cuộc đời bạn chỉ vì thứ ánh sáng mù mờ vàng vọt đó?
Hãy làm lại cuộc đời trong Chân Lý!
Bạn vừa đọc câu chuyện “MẪU TỰ ST” rồi phải không? Mà bạn đọc kỹ chưa? Bạn thấy gì nơi “người anh”?
“Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống hòng chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi có ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ “ST” đáng nguyền rủa này.”
Bạn thấy chưa? Chữ ST không phải chỉ khắc trên trán tội nhân, mà nó khắc vào tâm hồn của họ! Cho dù tội nhân có xoá được dấu khắc ấy ở trên trán, vẫn không thể xoá được dấu khắc ấy trong tâm hồn!
Người anh đã không biết xoá dấu khắc ấy ở trên trán, càng không biết cách xoá dấu khắc ấy trong tâm hồn anh. “Anh chẳng bao giờ quên được sự nhục nhã.” Tội nghiệp, anh đau khổ cả đời! Anh không thể tìm lại được tháng ngày bình yên! Anh không thể làm lại cuộc đời theo đúng ý nghĩa của nó: Một cuộc đời an vui hạnh phúc!
Thế còn “người em” thế nào?
Còn “người em”, anh tự nói với bản thân mình: “Tôi không thể từ bỏ sự tin cẩn của những người chung quanh và của chính tôi.” Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể.
Bạn thấy gì lớn lao nơi người em? - Đó là người em biết cách xóa dấu khắc ST trong tâm hồn anh ấy! Anh xoá bằng “lòng bác ái”, bằng “tình yêu thương nhân hậu” dành cho tha nhân.
Anh không để tâm đến dấu khắc ST còn in trên trán anh! Mặc kệ nó! – “Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự ST vẫn còn in dấu trên vầng trán anh.”
Nhưng, như bạn thấy đó, khi người em đã xoá được dấu khắc trong tâm hồn, thì cũng có nghĩa là anh đã xoá được dấu khắc trên trán anh! Và còn hơn nữa, như một phép mầu, dấu khắc ấy lại trở nên “một chứng từ” cho cuộc “đổi đời” của anh! Nó là dấu chứng của một con người thuộc về thế giới chân thiện!
Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ rồi trả lời: “Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là Người Thánh Thiện (saint).
Viết đến đây, sao bỗng dưng tôi nhớ đến “Tên Trộm” bị đóng đinh một ngày với Chúa Giêsu trên đồi Can-vê. Chúng ta hay gọi là “Tên Trộm Lành”.
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với.” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này có làm gì trái!“ Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi!”, và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,39-43).
“Tên trộm lành” đã nhìn nhận tội lỗi, tuyên xưng niềm tin, và cầu nguyện với Chúa. Anh từ một “Tên Trộm” trở thành “Người Thánh Thiện”.
Bạn đọc thân mến!
Mùa Chay là mùa chúng ta “Trở Về Với Chúa”. Chúng ta ăn năn sám hối những lỗi lầm chứng ta đã phạm! Chúng ta quay về nẻo thiên lương. Chúng ta làm lại cuộc đời.
Chúng ta đã bị khắc nhiều dấu khắc tội lỗi, và chúng ta hãy xoá những dấu khắc ấy bằng một cuộc đổi đời ngoạn mục trong nỗ lực của mình với sức mạnh của Tình Yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria phù giúp chúng ta.
Nếu câu chuyện trên đây xảy ra ở Việt Nam, và nếu bạn có lần lầm lỗi và người ta khắc vào trán bạn hai chữ TT, nghĩa là Tên Trộm, bạn hãy làm lại cuộc đời và biến hai chữ TT là Tên Trộm thành hai chữ TT là “Thánh Thiện”. Phép mầu của sự biến đổi này là của chính bạn.
Với ơn Chúa giúp, điều gì cũng có thể, bạn ạ!
Lm Antôn Nguyễn Văn Tiếng (theoVietCatholic News)

Monday, November 26, 2007

Truyền thống và ý nghĩa Lễ Tạ Ơn - Thanksgiving...

Thanksgiving được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau và nhất là Tạ Ơn Chúa đã ban cho vụ mùa màng được sinh hoa kết trái, lương thực đồi dào và dùng đủ, và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình. Năm nay (2007) tuy dù xăng nhớt và vé máy bay đắt đỏ, nhưng trong cuối này có tới 40 triệu ngưởi Hoa Kỳ sẽ di chuyển trong vòng từ 75 cây số trở lên để về ăn Lễ Tạ Ơn với gia đình.

Tại Mỹ, ngày lễ này được tổ chức vào thứ 5, tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm. Người ta thường được nghỉ 4 ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần Lễ Tạ ơn. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo).

Nguồn gốc Lễ Thanksgiving đầu tiên:

Chuyện kể rằng những người di dân 102 người hầu hết là thuộc Thanh giáo, họ rời Anh quốc vào tháng 9 năm 1920 trên chuyến tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Đầu tiên, họ đến Leyde thuộc Hòa Lan, nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng. Do đó nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân thế giới, họ muốn tạo dựng một "một thành Jérusalem mới" ở Hoa Kỳ.

Trên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, lo sợ và nguy khốn... Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, Sàn tầu bằng gỗ, có lần đốt lửa xẩy ra tai nạn, nên sau đó họ phải ăn thức ăn lạnh. Nhiều người ngà bệnh. Cuộc hành trình này có 1 thủy thủ và 1 hành khách chết. Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus (có nghĩa là “Đại Dương”).

Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1mile = 1,852km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts). Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là "người hành hương"). Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag). Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.

Họ tới Plymouth Rock, Massachusetts, ngày 11 tháng 12 năm 1620. Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng không quan trọng lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower, Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người). Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.

Nhưng mùa gặt của năm 1621 lại là một mùa tốt đẹp. Những người còn sống sót quyết định làm tiệc ăn mừng có sự tham gia của 91 thổ dân da đỏ - những người đã giúp họ sống sót trong năm đầu vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng... Đoàn di dân tin rằng họ không thể tồn tại được nếu không có người da đỏ giúp đỡ. Buổi tiệc được tiến hành theo phong tục cổ truyền mừng mùa màng của Anh chứ không đơn thuần chỉ là “tạ ơn” và kéo dài suốt 3 ngày.

Lúc đó, người đứng đầu cai quản vùng đất này - Thống đốc William Bradford đã cử 4 người vào rừng để săn chim, gà và ngỗng cho buổi tiệc. Không biết rõ gà rừng có phải là một phần chính cho bữa tiệc hay không nhưng chắc chắn là họ dùng thịt của một loài lông vũ. Danh từ “turkey” từ đó được những người di dân dùng cho những giống chim rừng.

Sang năm tiếp theo, 1662, Lễ Tạ ơn không được tổ chức. Nhưng vào năm 1623 sau nhiều lần hạn hán những người di dân của các thuộc địa cùng nhau tụ tập lại cầu nguyện cho mưa xuống. Sau khi mưa liên tiếp trút xuống mấy ngày, Thống Đốc Bradford tuyên bố một ngày Tạ ơn nữa, và họ lại mời những người bạn da đỏ.

Những Lễ Thanksgiving tiếp theo sau...

Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ, Hội đồng các thuộc địa đã định ra thêm một vài ngày Tạ ơn trong năm (trừ năm 1777).

George Washington với tư cách là chỉ huy lực lượng giải phóng đã tuyên bố ngày Tạ ơn trong tháng 12/1777 là ngày lễ mừng chiến thắng lính Anh tại Saratoga. Hội đồng thuộc địa công bố ngày lễ Tạ ơn vào tháng 12 từ năm 1777 đến 1783 (trừ năm 1782).

Sau khi trở thành Tổng thống, George Washington đã tuyên bố ngày lễ Tạ ơn quốc gia năm 1789 và 1795 dù gặp phải vài sự phản đối. Tổng thống John Adams tuyên bố ngày Tạ ơn vào năm 1798 và 1799. Tổng thống Madison cũng dành ra một ngày gọi là để Tạ ơn vào cuối cuộc chiến năm 1812.

Sau đó, nhờ Sarah Josepha Hale, chủ bút của một tờ báo cố gắng thuyết phục mọi người công nhận lễ Tạ ơn bằng những bài viết của bà trên tờ Boston Ladies’ Magazine và Godey’s Lady’s Book kèm theo thư từ cho các thống đốc và các tổng thống, cuối cùng vào năm 1863, Tổng thống Lincoln tuyên bố ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là ngày lễ Tạ ơn và là ngày nghỉ hàng năm. Các đời Tổng thống kế tiếp cũng làm theo tiền lệ này.

Năm 1939, Tổng thống Franklin Delano Roosevelt tuyên bố lễ Tạ ơn sẽ diễn ra vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 3 trong tháng 11, tạo điều kiện giúp giới kinh doanh thuận lợi trong việc bán hàng trước lễ Giáng Sinh. Song tuyên bố của ông Roosevelt không có hiệu lực vì bị nhiều bang phản đối.

Đến năm 1941, Quốc hội Mỹ đã đạt được sự đồng thuận và định ra ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 sẽ là ngày Tạ ơn trên toàn quốc. Ngày 26/11/1941, Tổng thống Roosevelt chính thức ký thông qua đạo luật này.

Bữa tối mừng Lễ Tạ Ơn

Món chủ đạo trong bữa Tạ ơn tại Mỹ và Canada là thịt gà tây nướng. Vì gà tây là món ăn phổ biến nhất trong bữa tối mừng Lễ Tạ ơn, nên đôi khi ngày Tạ ơn còn được gọi là Ngày Gà Tây. Tổ chức USDA từng thống kê năm 2006 có trên 300 triệu con gà tây được nuôi và khoảng 1/6 trong số này dành phục vụ lễ Tạ ơn.

Thời kỉ đầu, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ "turkey" lúc bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ... Cho dù những người di dân đầu tiên có ăn gà tây hay không vào dịp lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây luôn luôn được gắn liền với lễ này.

Cùng với gà tây là món Bí đỏ (pumpkin) truyền thống, đây là loại thức ăn đã cứu sống những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây. Món ăn bí đỏ luộc, và làm bánh chiên bằng bột ngô. Một số thực phẩm khác cũng xuất hiện trên bàn tiệc như: nước sốt chanh, nước sốt thịt, khoai tây nghiền, khoai lang ướp đường, đậu xanh. Lúc đó trên bàn cũng không có sữa, nước táo, khoai tây hay bơ như sau này, vì họ chưa nuôi được bò để có sữa. Nhưng bữa tiệc cũng thêm phần thịnh soạn vì có thêm cá, trái dâu, rau cải soong, tôm hùm, thịt chim rừng, trái cây khô và trái mận tươi.

Các món tráng miệng cũng được bổ sung trên bàn ăn, bao gồm một số loại bánh nướng nhất là bánh bí ngô, bánh nướng nhân dâu tây, bánh nhân hồ đào.

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ, khách có thể mang theo món ăn, nhưng không mang theo quà cáp.

Những hoạt động trong ngày Tạ ơn tại Hoa Kỳ

Một hoạt động không thể thiếu vào dịp Tạ ơn là mua sắm. Ngày thứ Sáu sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ. Bắt đầu từ những năm 1930, mùa mua sắm nhân dịp Giáng sinh bắt đầu khi lễ Tạ ơn kết thúc.

Tại thành phố New York, cuộc diễu hành nhân ngày Tạ ơn của Tập đoàn Macy's được tổ chức hàng năm tại khu trung tâm Manhattan. Cuộc tuần hành được tổ chức theo các chủ đề đặc biệt nào đó, hoặc mô phỏng các cảnh trong những vở kịch trên sân khấu Broadway kèm theo những chùm bóng lớn vẽ nhiều nhân vật hoạt hình hoặc diễn viên truyền hình nổi tiếng. Diễu hành nhân dịp Tạ ơn cũng diễn ra ở một số thành phố khác như Plymouth, Los Angeles, Houston, PhiladelphiaDetroit...

Một hoạt động chính khác trong dịp lễ Tạ ơn tại Mỹ là đá bóng (American football). Nó được coi là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn. Theo truyền thống, hai đội chuyên nghiệp sẽ giao đấu vào ngày Tạ ơn, song đến gần đây, các trận bóng được tổ chức vào ngày trong tuần, không phải vào Chúa Nhật. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.

Riêng tại Canada, lễ Tạ ơn diễn ra trong 3 ngày cuối tuần và không được coi trọng như ở Mỹ. Vào dịp này, các gia đình Canada khó có thể tụ họp với nhau, thay vì thế họ coi ngày Noel là dịp để thành viên trong gia đình đoàn tụ. Thêm vào đó, lễ Tạ ơn tại Canada lại rơi vào ngày thứ 2, tuần lễ thứ 2 trong tháng 10, nên người Canada có thể ăn bữa tối Tạ ơn vào bất kỳ ngày nào trong số 3 ngày cuối tuần trước đó. Điều này có nghĩa, họ sẽ ăn tối cùng một nhóm họ hàng trong 1 ngày và một bữa khác với nhóm khác vào ngày hôm sau.

(Theo VietCatholic News)

Thursday, November 22, 2007

Và lễ Tạ Ơn tới...

Và lễ Tạ Ơn tới. Bây giờ đang là một ngày lễ, một ngày lễ Tạ Ơn. Lễ Tạ Ơn tới, có rất nhiều điều để mà tạ ơn.
Tạ ơn cho lá xanh đậm và bầu không khí nóng hừng hực khi mùa hè tới với những con số 100 đỏ chói trên hàn thử biểu. Tạ ơn cho làn gió êm dịu khi mùa thu về, lá đổi màu rực rỡ trên hàng cây. Tạ ơn cho tuyết trắng, tuyết trắng buông rơi thả nhẹ, tuyết trắng bám chặt cây khô bơ vơ trụi lá. Tạ ơn cho những nụ hoa đâm chồi nẩy lộc trong sân vườn lún phún mầu xanh, mầu xanh xanh mới, mầu xanh hy vọng. Tạ ơn cho gió nóng và gió lạnh. Tạ ơn cho gió hè và gió thu. Tạ ơn cho bốn mùa, bốn mùa luân phiên thay đổi.
Tạ ơn cho những thăng trầm trôi nổi trong một năm vừa qua. Tạ ơn cho hạnh phúc. Tạ ơn cho thanh bình. Tạ ơn cho bầu không khí đầm ấm trong căn nhà mới tinh, kiếng cửa sổ còn bóng lộn. Tạ ơn cho chiếc xe mới nằm trong nhà xe còn đang thơm mùi sơn mới. Tạ ơn cho tiếng cười tiếng nói trong những căn phòng khách sang trọng thơm tho mùi thảm mới với màn ảnh TV Plasma nằm chễm chệ chiếm gọn một góc nhà. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai và em gái.
Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của những đứa con, con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con, con gái, ngày nào tóc còn ngắn ngang vai, giờ này tóc dài đen nhánh êm đềm bước đi những gót hài sen đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của đẹp, đẹp rực rỡ, đẹp huy hoàng.
Tạ ơn cho những người chị, người anh, người em, em trai và em gái. Tạ ơn cho những lời ngon ngọt rì rào anh chị em thủ thỉ với nhau, và cũng tạ ơn cho những lời cay đắng buông ra không kịp kềm hãm. Tạ ơn cho những khuôn mặt tươi cười ngọt ngào, và những giận hờn nước mắt tuôn rơi. Tạ ơn cho những quây quần xum họp, và ngay cả những lúc không ai nhìn ai. Tạ ơn cho những lần cửa phòng rộng mở, và cũng tạ ơn cho những lần cửa đóng then cài.
Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng tháng ngược xuôi mang tiền về nuôi chồng, nuôi vợ, và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu. Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ sớm chiều lặn lội thân cò khi quãng vắng, kiếm gạo nuôi chồng nuôi vợ nuôi con. Tạ ơn cho những thiên đàng đã được tạo ra trong căn phòng khách, và ngay cả những ngọn lửa vẫn còn đang âm ỷ cháy. Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những hạt nước mắt rớt xuống dập tắt đi mầm lửa của giận và của hờn.
Tạ ơn cho tình thương, tình thương mến vô điều kiện. Không phải bởi học giỏi, đỗ đạt vinh quy, tình thương mới được trao ban gửi tặng. Không phải! Không phải bởi nói tiếng Việt, hay tiếng Anh, hay tiếng Pháp, hay tiếng Đức giỏi, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ. Không phải! Không phải bởi biết đối đáp, biết ăn biết nói, biết làm ăn buôn bán, biết giao tiếp lanh lẹ, tình thương mới được trao ban. Không phải! Không phải bởi cao lớn lực lưỡng, tóc dài đen mượt, khuôn mặt xinh đẹp, nụ cười tươi thắm, dịu dàng thướt tha, da mầu trắng ngà, hay da mầu rám nắng, tình thương mới bộc phát. Không phải! Không phải bởi lương cao, nhà cửa thênh thang, 5 hoặc 6 phòng, bởi học thành tài, có bằng cử nhân, văn bằng bác sĩ, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ trên đầu lưỡi. Không phải! Không phải bởi vì điều kiện này điều kiện kia, tình thương mới lấp ló nơi khóe miệng. Không phải! Mà bởi vì bố là bố, mẹ là mẹ, chị là chị, anh là anh, em là em. Bởi vì bố là bố của con, bởi vì mẹ là mẹ của con, bởi vì em là em của anh, bởi vì em là em của chị, cho nên lúc nào tình thương cũng tràn đầy tuôn đổ trên hai bàn tay; và khi cần đến, tình thương ngọt ngào tuôn đổ, tình thương sung mãn, tình thương thánh thót, tình thương ngập tràn, tình thương lai láng, tình thương viên mãn, tình thương tuôn rơi.
Tạ ơn cho những sức khỏe sung mãn trong gia đình. Tạ ơn cho những đau ốm liệt giường, sụt sùi cảm cúm. Tạ ơn cho những giấc mơ chưa đạt tới, và không biết bao giờ mới đạt tới. Tạ ơn cho những lần không trở thành gánh nặng cho chính mình và cho những người thân chung quanh. Tạ ơn cho những vết thương tâm hồn từ bao lâu nay đã thôi không sưng đỏ, đã chịu lên da non.
Tạ ơn cho những khuôn mặt trong gia đình đang dần dần biến dạng trở nên cằn cỗi, và tạ ơn cho những khuôn mặt vẫn còn đang căng tràn nhựa sống. Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia.
Tạ ơn cho những người tình của gia đình. Tạ ơn cho những khuôn mặt mới thường xuyên xuất hiện trong căn phòng khách đợi chờ những khuôn mặt cũ. Tạ ơn cho những người thanh niên kiên nhẫn ngồi im lìm đọc báo coi TV đợi chờ trong căn phòng khách trong khi những người con gái vẫn đang đi tới đi lui trước gương. Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc, và cũng tạ ơn cho những căn nhà bắt đầu nóng, nóng như lửa.
Tạ ơn cho những buổi lễ Tạ Ơn với thịt gà tây chiên vàng theo kiểu Văn Lang. Tạ ơn cho những bữa tiệc Giáng Sinh với khăn bàn đỏ rực, với những ly rượu đỏ nồng, và những khuôn mặt đỏ thắm. Tạ ơn cho những cây thông mọc trong căn phòng khách với đèn trắng, đèn xanh, đèn đỏ, đèn tím, đèn vàng, đèn sáng chưng, đèn lấp lánh bên những gói quà Giáng Sinh chất cao, cao ngất. Tạ ơn cho những đêm Giao Thừa im lìm trên vùng đất mới với không pháo đỏ hồng, không quần áo mới. Tạ ơn cho những đêm Trung Thu trăng tròn rực rỡ, không đèn con thỏ, không đèn con cá, không đèn kéo quân, cả nhà ngồi sau vườn ngắm trăng với trà ướp sen, trà hoa lài, và với bánh nướng, bánh dẻo.
Tạ ơn cho những buổi kinh tối, cả gia đình quây quần đọc kinh Mân Côi. Tạ ơn cho những con thuyền, những chuyến bay đã mang gia đình tới đất mới, trời mới. Tạ ơn cho những lần thất nghiệp đi ra đi vào chẳng biết làm chi khác hơn ngoài luyện chưởng. Tạ ơn cho bầu không khí lành lạnh mát dịu của một ngày cuối tháng Mười Một. Tạ ơn cho Mùa Vọng, cho Lễ Giáng Sinh. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bay thơm lừng nguyên cả một khu phố có người Hoa Kỳ gốc Văn Lang quây quần xum họp. Tạ ơn cho Bún Bò Huế, Bún Vịt Sáo Măng, Bún Mọc, Cháo Gà, Cháo Vịt, Cháo Lòng Heo và Phở. Tạ ơn cho Bánh Cuốn, Bánh Bèo, Bánh Đúc, Bánh Phồng Tôm. Có rất nhiều điều để Tạ Ơn. Có muốn kể ra, kể ra cũng không hết.
Tạ ơn cho một ngày Lễ Tạ Ơn, một ngày người thân nhớ tới người thân, một ngày gia đình quây quần xum họp tạ ơn trời cao.
Tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ông Trời cho một năm vừa trôi qua, trôi qua trong hạnh phúc, trôi qua trong thanh bình, trôi qua trong an lạc, trôi qua trong hồng ân.
LM Nguyễn Trung Tây, SVD

Sunday, October 28, 2007

Giải Mã (Chúa Nhật XXX TNC…)

I. Có hai người lên đền thờ cầu nguyện:
Xin được tặng cho mỗi người 10 điểm, vì việc làm đạo đức hai ông đang làm. Giữa một xã hội lúc nào cũng xô bồ và tấp nập đến chóng mặt, thế mà hai ông cũng biết sắp xếp thời gian để đến được với điểm hẹn là nhà thờ, đến được với Chúa để dâng lời cầu nguyện.
Hẳn hai ông đã ý thức được một cách sâu sắc rằng: chính việc đi lễ, đi đọc kinh cầu nguyện tại nhà thờ là điều hệ trọng, bởi điều ấy, sẽ làm tăng giá trị cao cả của con người. Bởi lẽ vũ trụ này, có con vật nào biết đi lễ, đọc kinh đâu cơ chứ.
Xin được tặng tiếp cho mỗi người 10 điểm nữa. Vì cái ý thức chững chạc khi đến nhà thờ của các ông. Đến nhà thờ là vào nhà thờ ngay, không có lang thang bên ngoài như nhiều người trẻ ngày nay đang làm. Hay có khi tệ hơn, đi lễ nhưng có ý đứng ở bên ngoài, hoặc kiếm một xó xỉnh nào đó, ngồi vật vờ cho hết giờ lễ. Rồi chờ đến lúc rước lễ là đã vội vã ra về.
Và lần thứ ba, xin được tiếp tục tặng điểm cho các ông, nhưng lần này, chỏ 5 điểm thôi, bởi cung cách cầu nguyện của các ông chưa đạt lắm. Tuy nhiên, cũng tạm chấp nhận được, vì cầu nguyện trong định nghĩa là một cuộc thưa chuyện với Chúa, như đứa con tâm sự với cha mình, kể cho cha nghe những lo sầu, những vui cười, những toan tính. Nói tắt là tâm sự với cha về cả cuộc sống của mình.
Nghe giọng các ông cầu nguyện, cũng nhận thấy con mắt đức tin của các ông đã gặp được Chúa rồi.25 điểm ấy là nhận xét và đánh gía của người phàm mắt thịt. Còn về ý nghĩa đích thực, phần cốt lõi của vấn đề, thì xin dành lại cho Chúa, vị chánh chủ khảo, đối tượng cuối cùng và duy nhất của mọi cuộc cầu nguyện.
II. Chúa bật mí:
Lời cầu nguyện riêng tư của mỗi người là một bí mật. Bởi thường ra, đó là những nỗi tâm sự của mỗi người. Tâm sự thì ai muốn nói to. Chỉ nói nhỏ để cho Chúa nghe thôi. Thường thì những chuyện ấy, có bao giờ Chúa kể ra đâu, thế nhưng hôm nay, một trường hợp ngoại lệ. Chúa kể ra cho mọi người nghe.
Ta hãy chú ý lắng nghe!
Chúa điểm mặt một người là người biệt phái, một người là người thu thuế. Em biệt phái, quần chùng áo dài, nghênh ngang tiến hẳn lên gần cung thánh. Em thu thuế thì lại lụi hụi ở cuối nhà thờ.
- cho em thu thuế 10 điểm. Em biệt phái không được điểm nào.
- Em biệt phái không được điểm nào.
Không được điểm nào cũng đúng thôi, bởi vì điều hệ trọng mà lại không nhớ: Ra trước mặt Thiên Chúa, người ta bao giờ cũng phải khiêm tốn, bởi Thiên Chúa là đấng quyền phép vô cùng, là đấng Tạo Hóa, còn con người chỉ là tạo vật, được Ngài dựng nên bằng bụi đất tầm thường.
Người thu thuế được điểm, bởi ông ta biết mình là ai và Chúa là ai?
Rồi đến nội dung của cuộc cầu nguyện.
Ta nghe Chúa kể tiếp:
Người biệt phái thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, tôi không như người thu thuế kia. Một tuần tôi ăn chay hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi.
Còn người thu thuế, vừa cúi mặt vừa đấm ngực thân thưa: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con, vì con là người tội lỗi.
Là một người khách, tôi đi tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật tại một cộng đoàn hải ngoại. Chẳng riêng gì tôi mà cả nhà thờ hôm đó khoảng 5,600 người tham dự. Mọi người được nghe vị Linh Mục chủ tế nói sau Thánh lễ rằng:
“Tôi ra đi để lại cho Cộng đoàn gần 600,000 (úc Kim), cũng như đồ lễ và nhiều thứ khác... Cha nào về không phải mua sắm gì cả.
Ngồi trong xe trên đường về nhà, tôi nói với người thân của tôi rằng: Gia đình ông Cha này chắc giầu có lắm hay sao mà ông quá tốt như vậy, ông để lại cho Cộng đoàn gần 600,000. Người thân tôi trả lời: Đó là tiền của giáo dân đóng góp, chứ ông có bỏ ra đồng nào đâu.
Cho điểm thế nào được đây?
Người biệt phái không cầu nguyện mà đang khoe công với Chúa đấy chứ. Ông ta tự hào về những việc lành mình đã làm. Qua những việc làm ấy, nhất định ông ta phải là người đạo đức, không cách khác được. Trong giọng điệu ấy có cái gì như nghênh ngang, toát ra cái gì đó như một niềm tự hào. Nhưng trong thái độ ấy, nó lòi ra một sự thật, mà ông ta không muốn lộ ra, đó là, ông ta làm mọi việc, không phải là làm vì Chúa, mà là làm vì mình. Ong ta làm để lấy tiếng khen với thiên hạ, chứ có phải vì lòng đạo đức đâu. Người ta khen ông ta rồi, cho điểm ông ta rồi, cho nên giờ này ông ta không được Chúa cho điểm nào hết. Cho 0 điểm.
Còn người thu thuế được 50 điểm, bởi vì anh ta đã nhìn thấy bộ mặt thật của mình cái thực tế bẽ bàng đời mình, nên anh ta hối hận, anh ta ăn năn, và tha thiết xin Chúa tha thứ.
III. Chúa giải mã.
Tổng cộng người biệt phái chỉ được có 25 điểm, còn người thu thuế được 85 điểm, nhưng đấy chưa là điểm quan trọng. Điều quan ttrọng nhất là lời kết luận của Chúa:
- Người thu thuế ra về, và được tha hết mọi tội. Tâm hồn thành trắng trong.
- Người biệt phái ra về, và tội ác vẫn cứ còn đấy. Cái tôi nặng qúa đã đành, còn phải gánh thêm sức nặng của tội lỗi nữa, nghĩ mà thương mà tội nghiệp, cho đời của một người quá tự kiêu và tự mãn.
Linh mục Đỗ-Văm-Thiêm _ Chánh xứ Kim-Long địa phận Long-Xuyên
(trích bài từ VietCatholic News)

Chúa Nhật 30 Thường Niên (Luca 18:9-14)

Bài Đọc I: Sirach 35:12-14,16-18 II: 2 Timothy 4:6-8,16-18
Phúc Âm Luca 18:9-14
9 Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế.11 Người Pharisêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con".13 Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".
Chi Tiết Hay
Đức Giêsu giảng bài này cho một nhóm Pharisêu. Pharisêu là một hội của những người muốn sống đạo hơn bình thường. Thí dụ như luật (Levi 16:29-31) chỉ đòi ăn chay một năm một lần, nhưng họ ăn chay mỗi thứ hai và thứ năm; sách Đệ Nhị Luật (14:22-29) chỉ đòi dâng một phần mười hoa lợi nông nghiệp, nhưng họ dâng một phần mười của mọi loại thu nhập (câu 12). Tuy nhiên trong lòng họ chạy theo tiền (16:14) tham lam của cải và độc ác (11:39).
Người Pharisêu bắt đầu lời nguyện rất hay, "xin tạ ơn Chúa," giống như kinh Magnificat của Đức Mẹ (1:46-56) hay kinh "An bình ra đi" của ông Simeon (2:29-31). Nhưng chỉ được bấy nhiêu, rồi ông ta chỉ kiêu ngạo ca tụng chính mình, chê bai và lánh xa người khác vì ông ta cho tất cả là hèn kém hơn ông. Tuy nhiên ông cũng không đứng xa lắm và nói lớn đủ để mọi người nghe ông tự đắc và lên án người khác.
Có ba cấp người thu thuế: có kẻ trả cho chính quyền một số tiền để mua lấy quyền thu thuế; dưới đó là các ông quản đốc thu thuế, như Zacchaeus; rồi tới các nhân viên thu thuế theo mức đã định (tuy nhiên một số nhân viên lộng quyền thu trên số này).
Cử chỉ khoanh tay và nhìn xuống của người thu thuế là theo thông lệ khi cầu nguyện. Còn đấm ngực là cử chỉ của phái yếu (23:27); chỉ khi nào khổ não lắm mấy ông mới đấm ngực (23:48).
Chuyện trớ trêu ở chỗ là ông Pharisêu cho mình là công chính còn người thu thuế thì bất chính, nhưng kết quả ra ngược lại.
Một Điểm Chính: Chúng ta được trở nên công chính nhờ trung thành trong giao ước với Chúa và nhờ vậy được Chúa cứu độ. Không có Chúa, ta không tự trở nên công chính được.
Suy Niệm
1. Tôi làm sao để "trung thành trong giao ước với Chúa"? Tôi có làm vậy không? Cái gì giúp tôi? (Thánh lễ và kinh nguyện "Lạy Chúa Giêsu xin thương con tội lỗi", kinh sáng tối, kinh trước bữa ăn v.v... có giúp gì không?)
2. Tôi có tự mãn, tự kiêu mà không cần Chúa không? Nền văn hóa này có khyến khích tôi làm vậy không?
3. Tôi khinh thường ai? Ai là "kẻ thu thuế" đối với tôi?
---------------------------------------------------------
30th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Sirach 35:12-14,16-18 II: 2 Timothy 4:6-8,16-18
Gospel Luke 18:9-14
9 He also told this parable to some who trusted in themselves that they were righteous and despised others:10 "Two men went up into the temple to pray, one a Pharisee and the other a tax collector.11 The Pharisee stood and prayed thus with himself, 'God, I thank thee that I am not like other men, extortioners, unjust, adulterers, or even like this tax collector.12 I fast twice a week, I give tithes of all that I get.'13 But the tax collector, standing far off, would not even lift up his eyes to heaven, but beat his breast, saying, 'God, be merciful to me a sinner!'14 I tell you, this man went down to his house justified rather than the other; for every one who exalts himself will be humbled, but he who humbles himself will be exalted."
Interesting Details
(v.9) "trusted in themselves that they were righteous" is incontrast to Paul's statement in (2 Cor 1:9) "being righteous". The state of being is important for it is who you are, not who you THINK you are. The charaterization tells us at once that the audience is made up of Pharisees, even without the identification in the bible (v.10)
(v.11) The Pharisee's prayer started out beautifully, thanking God, "God, I thank you...," much like Mary's Magnificat (Lk 1:46-56) and Simeon's Canticle (Lk 2:29-31). Beyond this facade, however, it was clear that his prayer was not between him and God but praying with peripheral vision knowing well that others surrounding him and even makes reference to "this tax collector."
There were three levels of tax collectors: those who purchased the right to collect tax, collection directors like Zacchaeus, and agents who collected specific taxes at a set rate (though some exceeded the rate for their own gain).
The tax collector's posture of crossed-over arms and down-casting eyes was customary for prayer. Beating one's breast was more commonly for women (23:27); men only did it in extreme anguish (23:48).
The irony of the story is that the Pharisee considered himself righteous and the tax collector unrighteous, but the results were just the opposite.
One Main Point: Righteousness comes from being faithful to the covenant relationship with God, through which God justifies us.
Reflections
1. What does "being faithful to the covenant relationship with God" mean for me? Am I faithful to that relationship? What helps? (Consider the liturgy of the Eucharist; the Jesus prayer, "Lord, Jesus Christ, Son of the living God, have mercy on me"; prayers before meals; prayers at bed time and at dawn)
2. To what extent am I proudly self-sufficient without God? Does my culture encourage this?
3. Whom do I think I am superior to? Who is the "tax collector" in my eyes?

Sunday, October 21, 2007

Truyền giáo: Trách nhiệm của ai?

Khi nói về hai chữ TRUYỀN GIÁO, không ít người cho rằng đó là công việc và trách nhiệm dành riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ mà thôi chứ giáo dân không có… phần và cũng không có trách nhiệm gì sất! Bạn có nghĩ như vậy không?
• Khi thấy ông Hai hăng say trong những công tác truyền giáo của giáo xứ, bà Hai liền nói: “Công việc truyền giáo, rao giảng Tin Mừng là nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng, của các Đức Giám Mục, của các Linh Mục và nam nữ tu sĩ. Tôi với ông cứ đọc kinh, xem lễ cho sốt sắng, sống ngay lành, giữ đạo cho tốt là xong bổn phận rồi. Chuyện giảng dạy, mở mang nước Chúa là của các đấng các bậc… mình không nên xen vào? Không khéo lại rách việc ra đấy ông ạ!”
• Còn ông Ba thì phàn nàn với bà: “Thời buổi khó khăn, củi châu gạo quế, xăng đắt, điện tăng… mà nhà thờ cứ nay thì xin tiền cho quỹ truyền giáo, mai thì cho Project Advance của giáo phận, mốt thì lại cho quỹ của Đức Giáo Hoàng, rồi tháng tới cho quỹ ơn gọi, rồi tháng kế tiếp lại cho quỹ hưu dưỡng của địa phận, rồi bão lụt... Toàn là tiền với tiền! Thiệt là chán mớ đời…”
• Anh Tư thì càm ràm với vợ: “Việc dạy giáo lý, giảng dạy, giáo dục đức tin là của các cha, các thầy và các sơ… em là giáo dân biết gì mà tham với lại gia? Ở nhà lo chăm sóc cho chồng con, lo dạy con mình ngoan ngoãn là được rồi, mắc chi cứ phải tốn thời giờ ở ngoài nhà thờ làm chi vậy?”
Bạn đã từng có những suy nghĩ tương tự giống như bà Hai, ông Ba, và anh Tư không?
Nếu bạn đã từng có những suy nghĩ, hay có những phản ứng tương tự như bà Hai, ông Ba, và anh Tư thì tôi xin mời bạn đọc và cùng với tôi suy nghĩ về ba lời giáo huấn của Giáo Hội trong Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội (Lumen Gentium) số 33:
• Mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc lãnh nhận phép Rửa và Thêm Sức… Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội được hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh, mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian…
• Giáo dân vừa là chứng nhân, vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh của Giáo Hội… Mọi Kitô Hữu được mời gọi góp phần trực tiếp hơn và bằng nhiều cách vào công việc tông đồ của hàng giáo phẩm, giống như những tín hữu nam nữ đã chịu vất vả vì Chúa Kitô để giúp đỡ Tông Đồ Phaolô rao giảng Phúc Âm…
• Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại.
Bạn thấy đấy, Giáo Hội minh định rất rõ ràng là mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ. Như vậy công việc đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (Mk 16:5) không phải chỉ là trách vụ riêng của các đấng các bậc (như bà Hai hay anh Tư tưởng) mà là công việc của tất cả mọi Kitô Hữu không phân biệt ai cả.
Đó là những Kitô hữu, họ là những sinh viên, học sinh, công nhân, thầy cô, y tá, bác sĩ, kỹ sư… chứ không phải là hàng giáo sĩ hay tu sĩ không mà thôi đâu! Trong thực tế, đa số anh chị em tân tòng đã nhận ra khuôn mặt nhân ái và dễ thương của Chúa Giêsu qua những hành động yêu thương, bác ái, chia sẻ, những gương lành, những cử chỉ tha thứ và khoan dung của những người Kitô Hữu tốt lành ấy. Rồi sau đó họ mới đến phiên các linh mục và tu sĩ giúp đỡ, hướng dẫn, học hỏi và đào sâu hơn về giáo lý, Kinh Thánh... Công lao đưa những người ngoại giáo trở về với Chúa phần lớn và chủ yếu là của anh chị em giáo dân chứ không phải là của anh em linh mục và tu sĩ chúng tôi đâu! Bạn đừng quên điều ấy!
Còn cái chuyện TIÊN HUYỀN TIỀN thì hơi… căng đấy! Tôi thấy ông Ba rất có lý khi nói rằng đi đến nhà thờ toàn thấy nói đến tiền bạc và đóng góp. Ông hoàn toàn có lý để than phiền về chuyện quyên góp tiền bạc quá thường xuyên ở tại giáo xứ của ông. Thế nhưng nếu ông Ba chịu khó đọc điều luật số 222 trong Bộ Giáo Luật hiện hành của Giáo Hội thì tôi bảo đảm ông Ba sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và đỡ đau lòng xót bao tử khi phải dứt núm ruột của mình ra (đồng tiền nó liền khúc ruột mà lị!) để dâng cúng cho nhà thờ hay biếu tặng cho các cơ quan, cho những tổ chức bác ái, từ thiện. Bạn biết điều luật số 222 nói gì không? Mời bạn đọc một chút cho biết nhé! Nếu học thuộc lòng được thì tuyệt vời!
• Các tín hữu có BỔN PHẬN chu cấp cho các nhu cầu của Giáo Hội, để Giáo Hội có sẵn những gì cần thiết hầu sử dụng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, các công tác tông đồ và bác ái và việc trợ cấp xứng đáng cho các thừa tác viên.
• Các tín hữu có BỔN PHẬN cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa...
Bạn thấy chưa? Mọi tín hữu có BỔN PHẬN và trách nhiệm giúp đỡ cho mọi công việc truyền giáo của Giáo Hội! Đó là LUẬT đấy chứ không phải chỉ là TỤC LỆ, vui thì làm, buồn thì… xù đâu! Bạn mở Kinh Thánh ra kiểm tra thử đi rồi sẽ thấy! “Mỗi năm [các ngươi] phải trích một phần mười tất cả hoa lợi lấy từ những gì các ngươi gieo, những gì mọc lên ngoài đồng nộp cho các thầy Lê-vi ở trong các thành của các ngươi." (Lv 14:22-27).
Bạn thân mến, nếu hôm nay bạn hiểu được rằng công việc đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo… tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất (Mk 16:15, Acts 1:8) là NHIỆM VỤ & TRÁCH NHIỆM của tất cả mọi Kitô Hữu chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của các đấng các bậc thì tôi xin mạo muội đề nghị với bạn ba việc sau:
• Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, chúng mình phải hết sức cẩn thận trong cách ăn, nếp ở, trong lời nói cũng như trong hành động: tránh chửi tục, nói phét, khoe khoang, gian dối, hận thù, ghen tương, kiêu ngạo…
• Sống quảng đại, rộng rãi trong việc bố thí, giúp đỡ cho những người nghèo, đặc biệt là cho đồng bào chúng ta đang bị cảnh nhà tan cửa nát vì thiên tai bão lụt.
• Hãy tự nguyện, vui vẻ và mỉm cười khi đóng góp cho quỹ điều hành của giáo xứ, cho quỹ điều hành của giáo phận và cho những cơ quan thiện nguyện. Khi bỏ tiền vào quỹ đóng góp cho Giáo Hội là lúc đó bạn đang trả lại cho Chúa một phần rất nhỏ của những gì Chúa ban cho bạn, chứ không phải là của bạn cho đi không đâu!
Khi chúng mình rộng tay làm phúc, vui vẻ, hòa nhã, tha thứ và bác ái với những người làm công, đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm, anh chị em… thì lúc ấy chúng mình đang làm công tác rao giảng Tin Mừng cho muôn dân đấy! Bạn tin không? Chúng mình hãy cầu nguyện cho nhau để với ơn của Chúa giúp, tôi và bạn sẽ có khả năng và đủ can đảm trở thành những chứng nhân cho Chúa Kitô Phục Sinh, đem Tin Mừng đến cho mọi người xung quanh qua đời sống gương mẫu, vui vẻ, lạc quan, tha thứ, yêu thương và bác ái. Chúc bạn trở nên một nhà truyền giáo tuyệt vời để qua bạn, sẽ có thêm nhiều người nhận ra dung mạo nhân từ và yêu thương của Thiên Chúa.
Lm Angars Phạm Tĩnh (Trích bài từ VietCatholic News)

Chúa Nhật 29 Thường Niên - Khánh Nhật Truyền Giáo (Luke 18:1-8)

Bài Đọc I: Exodus 17:8-13 II: 2 Timothy 3:14-4:2
Phúc Âm Luca 18:1-8
1 Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi".4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nữa chăng?"6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn?8 Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?
Chi Tiết Hay
Chữ "bà góa" trong ngôn ngữ Do Thái được dịch là "người thinh lặng" hay là "người không được nói". Điều đó không có nghĩa là họ câm, nhưng đàn bà ở trong văn hóa trọng người đàn ông của miền Điạ Trung Hải không được có tiếng nói. Trong dụ ngôn này, bà goá là hình ảnh của một người không quyền lực.
(c.5) dịch sát nghĩa là"cuối cùng thì bà ấy sẽ đánh bầm mắt tôi". Trong ngôn ngữ Hy Lạp, "đánh bầm mắt" một người nào đó có nghiã là làm nhục người đó một cách công khai. Sự việc một ông quan tòa không biết nhục, mà lại nhượng bộ dưới áp lực (làm nhục) của một người đàn bà đã nói lên sự kiên trì của bà này.
Trong thời đó, người đàn bà bị goá khi còn trẻ bị xem như không tốt. Vì vậy xã hội khuyến khích họ tái giá trước khi có những chuyện không hay xảy đến. Đây là một ưu tư khá thiết thực của Giáo Hội sơ khai. Xin đọc thư 1 Tim 5:3-15 để hiểu thêm về vấn đề này.
Kinh Thánh còn có những bài đọc khác về đàn bà góa bụa, chẳng hạn Isaia (Is. 1:23, 10:2) than phiền về cách về cách đối xử tệ hại với họ, và cũng có những bài đọc nói về sự quan phòng của Chúa với những người phụ nữ không may mắn này, như trong (Jer 49:11; Ps 68:5; Jas 1:27)
Một Điểm Chính: Chúa Giêsu dạy chúng ta nên bền vững khi cầu nguyện, đừng chán nản bỏ cuộc vì Ngài là Thiên Chúa thương yêu chúng ta sẽ nhậm lời cầu khẩn của những ai xin Người.
Suy Niệm
1. Sự cầu nguyện hằng ngày của tôi có đã trở thành một thói quen làm cho xong việc và mất đi sự chân thành chăng?
2. Kết qủa của lời tôi cầu nguyện có luôn luôn là điều gì tôi xin chăng? Có khi nào tôi xin theo ý tôi, nhưng trong thinh lặng Chúa cho tôi nhận ra ý của Ngài chăng?
--------------------------------------
29th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Exodus 17:8-13 II: 2 Timothy 3:14-4:2
Gospel Luke 18:1-8
1 And he told them a parable, to the effect that they ought always to pray and not lose heart.2 He said, "In a certain city there was a judge who neither feared God nor regarded man;3 and there was a widow in that city who kept coming to him and saying, 'Vindicate me against my adversary.'4 For a while he refused; but afterward he said to himself, 'Though I neither fear God nor regard man,5 yet because this widow bothers me, I will vindicate her, or she will wear me out by her continual coming.'"6 And the Lord said, "Hear what the unrighteous judge says.7 And will not God vindicate his elect, who cry to him day and night? Will he delay long over them?8 I tell you, he will vindicate them speedily. Nevertheless, when the Son of man comes, will he find faith on earth?"
Interesting Details
The word "widow" in Hebrew means "Silent One" or "One unable to speak." This word is not so much for a mute person but a woman in the patriarchal Mediterranean world does not speak for herself. In the context of this parable, the widow is an image of powerlessness.
(v.5) Literally translated, "she will end up giving me a black eye". The figurative Greek word "blacken one's face" means to publicly shame a person. And to have the shameless judge yield to the widow's pressure (of shaming him) has proven that her persistence has finally paid off.
At the time, younger widows were considered to be very socially unacceptable and were urged to remarry. One of the major concerns in the early Church was determining who truly was a widow. See the discussion in 1 Timothy 5:3-15.
Other interesting reading related to the widow could be found in Isaiah (1:23, 10:2) who criticized the harsh treatment, and special protection of God in (Jer 49:11; Ps 68:5; Jas 1:27)
One Main Point: Jesus teaches us to be consistent when we pray and not to be discouraged and give up for He is our loving God will answer to our prayer.
Reflections
1. Has my routine prayer become more of a habit and somehow has lost its sense of my personal sincerity?
2. Has the "answer" to my prayer always been in what I have asked for? Or have I ever recognized "God's will" in the silence after I have asked God to do it my way?