Showing posts with label TET-DinhHoi. Show all posts
Showing posts with label TET-DinhHoi. Show all posts

Friday, March 02, 2007

Ba điều ước nguyện đầu năm Ðinh Hợi (Năm Sống Ðạo).

1. Ước nguyện người người ghi khắc vào tâm trí: Thiên Chúa là Tình Thương, Ðạo Chúa là Ðạo Yêu Thương, Sống đạo là Mến Chúa và Yêu Người. Mến Chúa đi đôi với yêu người. Yêu người như Chúa muốn là mến Chúa. Mến Chúa và yêu người, hai đối tượng xem ra tách biệt nhau, song cùng chung một tấm lòng, một cội rễ, một nguồn năng lực.
2. Ước nguyện nhà nhà ghi khắc vào tâm can: mến Chúa có nghĩa là không chỉ đi nhà thờ đọc kinh, lãnh bí tích, song còn là luôn tìm Ý Chúa qua học hỏi và cầu nguyện. Ý Chúa được bày tỏ qua Lời Chúa ghi trong Sách Thánh, Lời Chúa được triển khai qua giáo huấn của Giáo Hội, Lời Chúa nói qua những biến cố lịch sử, qua truyền thống văn hoá dân tộc, qua thực tế cuộc sống hôm nay. Mến Chúa còn là và nhất là Thực Thi Ý Chúa trong đời sống gia đình, cộng đoàn và xã hội.
Ý Chúa yêu thương cốt là con người được sống, sống dồi dào, sống xứng với phẩm giá con người. Mở đường và hỗ trợ cho người người được sống dồi dào, sống yêu thương, bình an và hạnh phúc thật, đó là làm vinh danh Chúa là Cha yêu thương.
3. Ước nguyện mọi gia đình, mọi cộng đoàn tín hữu, mọi cộng đồng xã hội, thâm tín rằng yêu người không chỉ là làm công tác xã hội từ thiện, cứu trợ nạn nhân thiên tai và nhân tai, nuôi dưỡng kẻ neo đơn, tật nguyền, bất hạnh, bị bỏ rơi. Yêu người còn là yêu tha nhân, yêu đồng bào, yêu dân tộc, yêu đất nước, nhất là vì đồng bào đang sống trong cảnh nghèo khổ, đất nuớc đang lâm cảnh túng thiếu, nghèo túng vật chất và tinh thần, nghèo túng kiến thức và đạo đức. Yêu Người, yêu nước như Chúa yêu là mở đường cho nhau và đồng hành với nhau đi đến sự sống dồi dào, sự sống xứng với phẩm giá con người.
Ðất nước Việt Nam ngày nay đang đổi mới và hoà nhập vào thế giới toàn cầu hoá. Trong bối cảnh mới đó, muốn cùng nhau đồng hành đi đến sự sống dồi dào mà không bị đè bẹp, muốn đất nước Việt Nam tồn tại và phát triển toàn diện và vững bền, người Việt Nam hôm nay buộc phải đổi mới và tăng cường lòng yêu nước của mình:
- (1) đối với người sản xuất, yêu nước ngày nay là phải có lòng tự trọng và trung thực, không sản xuất hàng dỏm, hàng giả, thuốc dỏm, thuốc giả, bằng giả, "người học giả", song sản xuất hàng thật, thuốc thật, bằng thật, người học thật, sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng cao hơn;
- (2) đối với người tiêu thụ, yêu nước ngày nay là "người Việt Nam dùng hàng Việt Nam". Lòng tự trọng và lòng tôn trọng tha nhân đòi hỏi không bài ngoại, nhưng cũng không sính ngoại đến độ để mình bị đè bẹp và bị tha hoá.
- (3) đối với người nắm giữ quyền lực, thế lực, tài lực trong xã hội, địa vị càng cao càng có trách nhiệm đi đầu và dẫn đầu lòng tự trọng và lòng yêu nước đổi mới nầy.
Ðó là kinh nghiệm của những dân tộc quanh cận Việt Nam trên lục địa Châu Á nầy. Ðó là bài học lịch sử hết sức quý giá từ những nước Á châu phát triển và đang phát triển đi trước Việt Nam.
Xuân Ðinh Hợi 2007
+ Gioan B. Phạm Minh Mẫn - Hồng Y Tổng Giám Mục

Sunday, February 18, 2007

Tâm sự loài Heo

Khi nói đến Heo, người ta thường nghĩ ngay đến chúng tôi là con vật có bốn chân cẳng, ăn ở không sạch sẽ, ăn xong tiêu hóa thải phân ra hàng đống to lớn ngay tại chuồng xông mùi hôi thối ô nhiễm môi trường, con vật béo phì, nhiều mỡ màng, cứng đờ nhiều lông lá, một con vật sung sướng chỉ ăn với nằm ngủ, một con vật ăn tạp đủ mọi thứ bằng mồm mõm, và có tuổi đời sống không đầy một năm là bị lên án rồi.
Chúng tôi loài heo có hai loại: loại nuôi trong nhà mang lại lợi nhuận kinh tế cao và loại heo hoang dã sống trong rừng. Cả hai loại đều ăn thịt được. Hình thể loài Heo chúng tôi tuy mang tiếng là phéo phì, nhưng lại cân đối đấy. Chúng tôi có mõm dài đàng trước và có đuôi ở đàng sau, nên khi vẽ phác họa một chú Heo rất dễ đơn giản.
Và người ta cũng lấy Heo chúng tôi, cùng với cách sống của chúng tôi làm biểu tượng hình ảnh, nhất là về phương diện đạo đức luân lý, cho sự sống theo ý thích bừa bãi đồi bại. Một hình ảnh ví von theo nghĩa xấu ngụ ý khinh chê chửi rủa!
Nhưng loài heo cũng là loài vật sinh sản con cái sai mắn hằng năm. Một con heo nái hằng năm sinh sản chừng 15 heo con. Có heo con mới heo thịt, heo nái làm giống.
Loài heo nuôi mau lớn, chỉ trong khoảng năm sáu tháng là heo lớn mập to nặng đủ cân tạ bán được rồi. Càng ngày người ta phát triển thành nền công nghệ nuôi sản xuất heo hàng loạt.
Cũng với đà tiến bộ của khoa học, người ta thử nghiệm phát triển loài Heo chúng tôi theo phương pháp nhân tạo, sao cho giống Heo tốt không bị bệnh, mau lớn ít mỡ. Tất cả để đáp ứng nhu cầu thị trường kinh tế ngày càng cao có nhiều đòi hỏi về thức ăn cho ngon, cho sang đẹp.
Một nguồn lợi kinh tế không chỉ cho gia đình, cho hãng xưởng nông trại mà còn cho cả nền kinh tế quốc gia đất nước nữa.
Một nguồn thức ăn không chỉ riêng cho một vùng, một đất nước mà cho cả thị trường xuất cảng nữa.
Ngày nay đâu đâu cũng cần có, cũng bán thịt heo làm thức ăn. Thịt heo vừa dễ nấu, vừa ngon lại vừa gía phải chăng. Không dùng thịt heo thì dùng thịt nào đây?
Như thế, thịt heo hữu ích nhiều cho đời sống con người. Với tiến bộ khoa học bắt đầu từ giữa thế kỷ 20. người ta đã nghiên cứu cấy trồng giống heo sao cho ít mỡ, có nhiều thịt nạc. Nên giống heo bây giờ có ít hơn 50% lượng mỡ, có 16 rẻ sườn thay vì 12 rẻ sườn. Ngay thịt bụng của heo cũng phát triển sinh nhiều nạc hơn mỡ.
Dẫu vậy thịt heo mà không có mỡ sẽ khô bã không ngậy ngon. Khi chọn mua thịt heo, người ta thích miếng thịt có nhiều nạc nhưng cũng phải có mỡ dính kèm theo.
Thịt heo được phân loại ra nhiều phần tùy theo cách thức nấu món ăn của nhà bếp. Như thịt đùi dùng để luộc nấu giả làm thịt chó. Chân heo dùng nấu bún bò Huế. Thịt chân heo ít mở luộc ăn ngon dòn. Cỗ Lòng heo cũng là món ăn ngon miệng dùng nhậu chén hay cho nồi cháo; Đầu heo, Tai heo dùng để xào giò thủ, ngâm dấm làm dưa rất ngon dòn; Da heo cũng là một món ăn trộn pha với thịt nạc làm nem, chạo; Sườn heo nướng hay chiên thơm ngon.
Thịt nạc vai, thịt Thăn của heo thường dùng làm nem, giò, chả, thịt xá xíu, nấu thịt đông, thịt hộp, làm ruốc sấy khô. Thịt Heo quay ăn với bánh hỏi hay với bún rất đúng hợp khẩu vị và có vẻ sang trọng nữa... Tùy theo cách thức nấu nướng, người ta chế biến thịt heo theo nhiều công thức làm thức ăn tùy theo khẩu vị, theo phong tục tập quán của từng dân tộc, từng quốc gia đất nước.
Cũng theo tục lệ cưới hỏi bên Việtnam, người ta thường đem đến làm lễ cưới sính hỏi, một con heo quay chín vàng còn nguyên con nằm trên một mâm khay trông rất đẹp mắt. Điều này cũng muốn nói lên điều may mắn hạnh phúc.
Thay vì nuôi heo sống sau một vài tháng bán có tiền, người ta cũng đúc nung con heo bằng đất, bằng sành, rồi mỗi ngày hay mỗi tuần cất bỏ tiền còn dư vào đó. Sau một thời gian heo đất đầy no, đổ ra có được một số tiền tiết kiệm để dành trong bụng heo đất. Đây là một cách nuôi heo bỏ ống gây vốn và cũng là cách sống tập tiết kiệm để dành trong cuộc sống.
Trong lịch sử niềm tin đạo giáo hình ảnh loài heo chúng tôi được nhìn theo nhiều khía cạnh gần như trái ngược khác nhau.
Thời xa xưa thượng cổ, người Ai Cập nhìn con heo là hình ảnh biểu tượng của mặt trăng. Nên họ giết heo vào những ngày có trăng.
Ở bên Syria con heo là con vật thánh, dùng để tế nữ Thần sự sinh sôi nẩy nở Astarte.
Trái lại theo Do Thái giáo và Hồi Giáo cùng những vùng bên Trung Đông, heo là con vật dơ bẩn kinh tởm. Vì thế người ta không được phép ăn thịt heo.
Trong Kinh Thánh Cựu ước con heo cũng là con vật dơ bẩn: „con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại: các ngươi phải coi nó là loài ô uế. Thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi không được đụng đến; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế.“ ( Levi 11,7; Dân số 14,8).
Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh con heo để nói về con người có lối sống không trong sạch, không có kỷ luật phạm sự thánh:"Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em.“ ( Mt 7,6).
Hình ảnh người con đi hoang phải đi chăn heo sinh sống, nói lên cảnh cùng cực và sự xấu hổ lớn lao phải chịu của một con người ( Lc 15,15).
Trong nghệ thuật Kitô giáo, loài Heo chúng tôi được diễn tả bằng hình hay bằng chữ viết gần như chỉ về sự xấu xa tội lỗi.
Trong dân gian người ta đem loài Heo chúng tôi ra để ví von với ngụ ý chửi rủa:„ ngu như lợn!“
"Bẩn như heo!“ "chỉ biết ăn no lại nằm như heo!“.
Nhưng họ cũng dùng loài Heo chúng tôi để nói về may mắn tự nhiên tới mà không phải làm gì, như „ có số sướng như Heo!“, và người Đức có câu ngạn ngữ ví von „ Schwein gehabt !“
Trong dân gian có câu ca dao ví von:
“Trông mặt mà bắt hình dong,
Con Lợn có béo thì lòng mới ngon.”
Người ta cũng nói: loài heo chúng tôi có mõm dài chũi ủi đất cát hất ra đằng trước. Đó cũng là hình ảnh của sự tiến bộ khai phá. Và như thế mang đến hạnh phúc.
Có lẽ vì thế, nhiều nơi người ta nấu món thịt heo ăn vào ngày 01.01. hằng năm, để cầu sự may mắn cho năm đó!
Cũng theo phong tục tập quán bên Á Đông, người ta chọn loài heo chúng tôi làm hình ảnh biểu tượng cho một năm. Trong số 12 con vật biểu tượng cho năm luân phiên đứng làm chủ năm đó, loài Heo chúng tôi là con vật biểu tượng thứ mười hai.
Con số mười hai là số nói về điều gì mang lại hạnh phúc. Trong vũ trụ, một năm chia ra làm mười hai tháng theo vòng quay mặt trời. Một ngày chia ra làm hai chu kỳ: ngày có mười hai tiếng và đêm cũng có mười hai tiếng đồng hồ. Năm nay, vào ngày 17.02.2007, bắt đầu tới lượt vòng loài Heo chúng tôi xuất hiện như vai chính trên sân khấu thời gian năm Âm lịch với tên Đinh Hợi.
Loài Heo chúng tôi là lòai thú vật cũng được Đấng Tạo Hóa dựng nên trong công trình sáng tạo của Ngài cho trần gian như bao loài tạo vật khác.
Nếu không lầm, Thiên Chúa đã tạo dựng loài gia súc, loài dã thú, trong đó có loài Heo cùng vào ngày sáng tạo thứ sáu trước khi Ngài tạo dựng nên con người như cao điểm của công trình sáng tạo, cũng trong ngày hôm đó. (Sáng thế 1,24-31). Chúng tôi không biết gì nhiều hơn nữa.
Và đã là tạo vật do Ngài tạo dựng trong thiên nhiên, chắc Ngài phải có một chương trình nào đó cho loài Heo chúng tôi.
Chúng tôi tin và hy vọng như vậy!
Chúc mừng Năm Mới Đinh Hợi!
Lm. Nguyễn ngọc Long

THỜI ĐIỂM ĐÓN LỘC TRỜI

Tin Vui Ngày Tết
Hái Lộc Đầu Xuân
Ngày Tết người mình mặc đồ mới, ăn nói cư xử như một người mới đầy tình người, đi hái lộc để nhận ơn từ trời, và trở thành chính sức sống mới mẻ tinh khôi này:
"Ai ở trong Đức Kitô thì được tái tạo mới hẳn. Cái cũ đã qua đi, và cái mới đã thành sự đây rồi." (2Cor 5:17)
Dịp đầu năm ai mà chả mơ ước và chúc nhau được sống phúc lộc thọ. Nhưng làm thế nào để những ước mơ đó thành sự thực hay chỉ là đầu môi chót lưỡi cho qua đi, như Trần Tế Xương đã từng mỉa mai khi nghe người ta chúc Tết: Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau...! Cả một xã hội bon chen chôm chỉa làm giầu, đo giá trị một người bằng đồng lương, muốn trở thành giầu có thật quả là một điều đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn!
ĐIỀM THỜI ĐẠI
Mới đây Gerald Celente, giám đốc Viện Nghiên Cứu về Đà Bước của người thời đại, trung tâm nằm ở Rhinebeck, New York, cho biết rằng năm những năm tới, con người sẽ trải qua những khắc khoải lo sợ và thất vọng khi bước vào thiên niên kỷ mới.
Một số dấu chỉ mới lạ như lời tiên báo sẽ xẩy ra:
- Ảnh hưởng văn hóa Tây Ban Nha Nam Mỹ sẽ rất mạnh và thấy rõ tại Hoa Kỳ, chen chân với dòng ảnh hưởng “Ăng-lê” từ trước tới nay vẫn chế ngự nước này và đang tạo sức ép toàn cầu hóa theo một khuôn mẫu có sẵn.
- Người ta sẽ tự chọn lối sống giản đơn, tìm hạnh phúc chân thực qua nếp sống điều độ, tự kỷ và tinh thần hơn là lối sống thừa mứa vật chất làm buồn nôn hiện tại.
- Nhiều người tìm về thiên nhiên hòa hợp vạn vật, hơn là lo thu mình lại sống quá ích kỷ chỉ còn biết có mình, làm cho đời sống mỗi ngày mỗi nghèo nàn ra!
Con người tái khám phá ra cuộc đời đã sẵn giầu sang rồi, sức sống sung mãn đã nằm sẵn trong vạn vật, chứ đâu phải những hăm hở kiếm tìm mệt nhọc của loài người như hiện nay. Chỉ cần dừng chân ngắm nhìn: một cọng cỏ, một bông hoa, một cái cầu, một cái ghế, ngôi nhà đang ở, xem ra tầm thường và nhàm chán, bỗng khám phá ra những lạ lùng. Vì một cành lá cũng đang biểu hiện sức sống của cả vũ trụ. Mà vũ trụ thì giàu có, tại sao lại cứ phải sống nghèo nàn ăn mày ăn xin những đồ phế thải cuộc đời.
Khám phá ra được như vậy thì cuộc sống trở nên giầu có sung túc biết bao. Ngay ở vườn đàng sau và ngay trong nhà mình đã có nhiều triệu rồi, cả một kho tàng quí giá đang chờ được khám phá. Chỉ cần bừng mở con mắt: nguồn phú túc đang hiển hiện trước mặt mà Chúa Trời Đất đã bày biện ra.
TIẾT LIỆU CÁCH SỐNG GIẦU SANG
Ngày Tết, người Việt có nghi lễ bánh dầy bánh chưng, do tích truyện hoàng tử Tiết Liệu. Đó là bí quyết sống đời hoàng vương sang giầu.
Sau khi đã đánh thắng phá được giặc Ân bên Tầu sang xâm chiếm nước ta, trong nước được thái bình, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con, liền họp tất cả các hoàng tử lại mà tuyên bố rằng:
“Ta muốn truyền ngôi cho đứa nào làm vừa lòng ta, là đến cuối năm, tìm được thức ăn vừa ngon vừa quí, để dâng cúng tổ tiên cho tròn đạo Hiếu”.
Thế là các công tử lên đường đi khắp mọi nơi. Người thì đi lên rừng, người thì đi xuống biển, ra sức tìm cho được thức ăn gì lạ nhất, quí nhất, ngon nhất, mong sẽ được truyền ngôi làm vua.
Duy chỉ có người con thứ chín là Lang Liêu, vừa nghèo kém vừa cô thế, không biết xoay xở làm sao được. Nhưng chàng lại rất có hiếu, muốn làm vừa lòng vua cha. Vì vậy chàng suy nghĩ ngày đêm ăn ngủ không yên.
Bỗng một hôm nằm ngủ, trong giấc mơ chàng thấy một vị thần linh đến mách bảo:
“Trong trời đất không có gì quí hơn gạo, vì gạo nuôi sống con người, mà ăn mãi vẫn không chán. Như thế còn gì quí hơn được nữa. Vậy con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn tượng trưng cho trời, và làm bánh hình vuông tượng trưng cho đất, ở trong làm nhân cho thật ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, có ý nói ơn trời đất sinh dưỡng muôn loài. Như thế thì lòng vua sẽ vui, và chắc thế nào cũng được truyền ngôi làm vua.”
Lang Liêu thức dậy mừng lắm, tự nhủ:
“Đã có thần linh giúp ta, vậy ta cứ theo đó mà làm.”
Lang Liêu mới lựa hột nếp nào trắng tinh, hoàn toàn không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông tượng trưng cho đất, bỏ nhân vào giữa, đem nấu đi cho chín, gọi là bánh chưng. Lại làm một cái bánh hình tròn để tượng trưng cho trời, gọi là bánh dầy.
Đúng kỳ hạn, các công tử đều đến trưng bày phẩm vật, dâng vua không thiếu một thức gì. Duy chỉ có Lang Liêu đem bánh tròn và bánh vuông đến dâng. Vua Hùng lấy làm lạ mới hỏi cho biết, thì Lang Liêu trình bày như lời vị thần linh chỉ bảo. Nhà vua liền nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, mà lại thật ý nghĩa, phẩm vật của các công tử khác không sao hơn được. Nhà vua khen ngợi rồi chấm cho Lang Liêu giải nhất và được nối ngôi làm vua.
Năm hết, nhà vua dùng bánh ấy dâng lên tổ tiên. Thiên hạ bắt chước truyền đến bây giờ, và lấy tên của Lang Liêu để gọi là Tiết Liệu.
TIN VUI GỬI NGƯỜI TÌM PHÚC LỘC THỌ
Chúa Giêsu đã bắt đầu loan báo Tin Vui bằng một câu như tóm lược tất cả: “Nước Trời đã gần bên. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:14)
Vì thế mà Chúa bảo đừng lo lắng. Vì "Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho." (Mt 6:32-33)
Nước Trời là vườn hạnh phúc đang ở ngay đây, nơi có Chúa hiện diện. Bánh chưng và bánh dầy thật dễ làm, gạo, nhân đậu và lá gói có thể kiếm ngay ở trong nhà, ở ngoài vườn, không phải đi tìm mãi xa xôi. Bí quyết để sống đời hoàng vương sang giầu và hạnh phúc luôn nằm sẵn trong tầm tay, có thể tu luyện ngay trong cuộc sống thường ngày. Vườn hạnh phúc sống hoàng vương đang ở trong tầm tay. Ngay lúc này, ở đây. Tiết Liệu đã được ơn trên soi sáng để thấy được điều đó mà được nối ngôi làm vua.
Truyện thiêng Tiết Liệu cũng muốn gửi người thời đại này một điều thật đơn giản: hạnh phúc đang trong tay bạn, ở ngay vườn đàng sau, trong nhà bạn, trong lòng bạn. Có cần gì phải miệt mài đi tìm bí quyết hạnh phúc ở mãi trên rừng dưới biển gì đâu đâu như những hoàng tử khác. Hạnh phúc đâu có khó tìm quá vậy?! Bạn có thể sống đời hoàng vương sang giầu. Là Con của vua Trời Đất mà không sang giầu nữa thì thôi.
PHÚT CẢM NHẬN
Vâng, lạy Chúa, nhiều điềm thời đại cho con thấy con người đang có những thay đổi sâu xa trong thiên niên kỷ thứa ba này. Dấu rõ nhất là tìm về lối sống giản đơn nhưng thật giầu có mà Chúa đã trao ban sẵn, có phải kiếm chác bon chen nhiều đâu. Con bỗng thấy được nước hạnh phúc đã gần bên, chỉ cần thay đổi con mắt nhìn và lối sống. Con xin mở rộng tâm hồn con trong năm mới để đón nhận bao ân huệ giầu sang, như thi hào Hàn Mặc Tử trong những lúc trăn trở khốn cùng bỗng được mở mắt nhìn thấy niềm vui thật đơn giản gần kề, khi khám phá ra quà tặng quí báu đang bày ra trước mắt:
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giầu sang hơn Thượng Đế...
Trái cây bằng ngọc, vỏ bằng gấm
Và mặt trời kia tựa khối vàng...
Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài nghi
Cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc.
Lm. Trần Cao Tường (Tin Vui Thời Điểm)

Saturday, February 17, 2007

CUNG CHÚC TÂN XUÂN ĐINH HỢI !!!





























Nhân dịp đầu Năm Mới Đinh Hợi,
Mến chúc bạn mọi sự Thắng Lợi,
Cuộc sống ngày càng như mong đợi,
Hạnh Phúc chẳng còn mãi xa vời.
Năm mới mừng Chú Ục,
Cuộc sống được Sung Túc,
Gia đình luôn Hạnh Phúc,
Hưởng những lời Xuân Chúc.
Nguyện Chúa Xuân mang đến Hạnh Phúc, Bình An, Ân Sủng và Tình Yêu đến Mọi Người!
-------------------------------------------------------------
Truyện HEO và LỢN
Ngày xưa người Việt gọi giống heo là lợn, và chỉ có tên lợn. Nhưng từ khi mở mang bờ cõi, con cháu sinh sôi nảy nở. Kẻ thì lên xuôi, kẻ thì xuống ngược. Cho nên kể từ đó giọng nói và phong tục dân Việt cũng thay đổi theo vùng. Vì thời Vua Chúa nên đi đâu hay gặp ai cũng thưa với trình. Bẩm quan lớn, bẩm ông, bẩm thầy, bẩm vua, trình Vua, vân vân và vân vân.
Vì chất giọng thay đổi, nên người miền trung mỗi lần gặp vua thì thay vì bẩm quan lớn, họ nói là bẩm quan.... lợn... Quan nghe thấy, tức giận liền mắng: Sao mày dám gọi tao là quan lợn, coi như con lợn à?
Thế là quan sai lính bắt, phạt cho 20 hèo mỗi lần gọi là quan lợn.
Bị đòn oan, nên người dân mỗi khi nhìn thấy con lợn là nghĩ ngay đến cái hèo của quan lớn, và gọi là đồ con hèo.
Trải qua thời gian lâu dần, người ta gọi luôn cho con lợn là con hèo. Khi di chuyển vào Nam, họ bỏ dấu huyền và từ đó gọi là... con Heo...

Monday, February 05, 2007

MÙA XUÂN CHÍN

Hàn Mặc Tử là nhà thơ tài hoa nhưng đoản thọ. Ông để lại cho đời không nhiều thi phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng thật đáng trân trọng.
Mùa xuân về, tiết trời nắng ấm, lộc non nhú mầm từ cây cỏ. Mùa xuân làm rộn rã tâm tư. Khí trời sắc xuân hoà quyện làm con người tươi trẻ đến lạ. Đọc bài thơ: Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử, cảm được nét tươi trẻ và đầy nhân văn của mùa xuân ngày Tết.
Mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong năm, hương hoa bàng bạc cả đất trời, những ngày Tết đượm thắm sắc xuân.
Trong làn nắng ửng khói mơ tan.
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà gió biếc,
Trên giàn thiên ly, bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợi tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
Ngày mai trong đám xuân sang ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Câu chữ trong thi ca của Hàn Mặc Tử luôn được chắt lọc, ngôn từ được tìm tòi kỹ lưỡng.
Sột soạt gió trêu tà áo biết.
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.
Câu thơ thật gợi mở. Trên những mái nhà vách đất của làng quê ngày xưa điểm tô những nụ hoa thiên lý nở vàng, xen giữa màu xanh tươi của lá. Lá và hoa thiên lý tạo nên nét đặc sắc của hương vị quê nhà như lời ca dao:
Thương chồng nấu cháo le le.
Nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen.
Gió trêu, gió đùa, gió mơn man làm bất chợt mùa xuân ùa tới.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Mùa xuân từ trong nhà đã lan xa ra vùng đồi núi. Mùa xuân làm tươi cảnh vật mang niềm vui đến cho con người.
Con người của mùa xuân thật trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống: Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
Các cô hát rằng:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy.
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Ở lại làng để vui chơi với nhau thật là hạnh phúc. Nhưng ai đó được đi lấy chồng càng vui hơn. Mùa xuân như thêm đẹp, thêm tươi, thêm rực rỡ hơn..
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Thi nhân dùng từ vắt vẻo, hổn hển thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sư hồi hộp, đợi chờ trong trái tim của những cô gái đang tràn trề sức sống. Ai đó đang ngồi dưới khóm trúc cũng phải rộn ràng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khâng sực nhớ làng.
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Thấy mùa xuân ở quê người lại nhớ tới cảnh làng mình. Cảnh làng mùa hạ có nắng chang chang và bao nhiêu người thân đang oằn lừng lao động giữa trời nắng gắt. Người ta hay nói sông xanh, sông đỏ, còn Hàn Mặc Tử lại nói sông trắng “Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang”. Nắng đến trắng cả sông, diễn tả sự gay gắt của nắng làm chói chang bạc trắng.
Đây là nét rất nhân bản của người luôn nặng tình với quê hương xứ sở. Thi sĩ họ Mặc cảm xuân nhớ về quê mình nặng tình gởi hồn thơ bộc bạch nổi niềm.
Xuân về Tết đến. Mọi người có dịp để thể hiện tình yêu thương nhau. Gia đình sum họp, tưởng nhớ Ông Bà Tổ Tiên, thăm viếng bạn bè người thân làng xóm. Con người rộng rãi, phóng khoáng hơn ngày thường từ cách bài biện trong nhà cho đến giao tiêp ứng xứ với nhau. Nhẹ nhàng thanh lịch như tình xuân ấm áp. Đó cũng là giá trị nhân văn của ngày Tết.
Tết Nguyên Đán Việt Nam tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niệm "ơn trời mưa nắng phải thì" chân chất của người nông dân cày cấy ở làng quê thanh bình.
Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý “ăn quả nhờ kẻ trồng cây” và tình làng nghĩa xóm...
Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế nên, trong ngày này, thường thì gia đình người Việt làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo ". Ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên Đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón Tết.
Cùng với tranh, hoa quả là yếu tố tinh thần cao quý thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Đào, miền Nam có hoa Mai. Hoa Đào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình. Ngoài cành Đào, cành Mai, mấy ngày Tết người ta còn "chơi" thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở phòng khách như biểu tượng cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc...
Ngày Tết, trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bành trái đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mân ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam, mâm ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc.
Ngày Tết, dân tộc Việt nam có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong mỹ tục như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ.
Năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến, nên cần phải “tống cưụ nghênh tân”. Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, lau giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.
Con cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở không được nghịch nghợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy... anh chị, cha mẹ cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành.
Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi. Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Các Giáo xứ tổ chức hái Lộc Thánh Đêm Giao Thừa hoặc Sáng Mồng Một Tết. Gia đình Phật Tử hay bên Luơng thì đi hái lộc ở chốn đình chùa, nơi tôn nghiêm về nhà, tự xông nhà hay dặn trước người "nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay lại đổ tại mình "nặng vía". Chính vì vậy, sáng mùng Một lại ít khách.
Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc tết thường là dồi dào Ơn Chúa, hạnh phúc, sức khoẻ, phát tài phát lộc. Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau "tai qua nạn khỏi" hay "của đi thay người", nghĩa là trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Nhưng nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.
Ngày Tết có biếu quà Tết cho nhau để tỏ ân nghĩa tình cảm. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... Quà biếu, quà tết không đánh giá theo giá thị trường mà là tấm lòng dành cho nhau.
Vào dịp đầu xuân, con cháu thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần, cửu tuần cho Ông Bà Cha Mẹ. Ngày Tết ngày Xuân là dịp mọi người dành thời gian cho nhau, con cháu tụ tập đông vui bên gia đình dòng tộc.
Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước khai ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thông, làm ăn suôn sẻ.
Mùa Xuân Đinh Hợi đang cận kề. Xuân đem hy vọng đến. Xuân đẩy lui mây xám cuộc đời. Những rủi ro, Xuân mang đi. Điều may mắn, Xuân chở về. Xuân tặng mỗi nhà một cành Mai may mắn, một cành Đào thủy chung. Bó hoa niềm vui, Xuân trao tất cả. Cành lá phúc lộc, Xuân gởi tặng không. Trái tim băng giá, Xuân hâm cho nóng lại. Ánh mắt hận thù, Xuân nhỏ giọt yêu thương. Xuân kết chặt bàn tay nhân loại, để truyền cho nhau hơi ấm tình người. Đôi môi con người, Xuân điểm hoa cười, để thốt nên lời: “Hạnh phúc nhé anh!” (x.Sequela Christi Số 2).
Những Ngày Lễ Tết đang tới gần. Người Kitô hữu quan niệm Tết là Một Hồng Ân.
Một Hồng Ân vì đó là cơ hội cho con người sống tâm tình tri ân, cảm tạ. Ngày đầu năm mới, con người hướng về Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của vũ trụ, cùng đích của muôn loài, hướng về để tạ ơn, ngợi khen và chúc tụng. Tạ ơn vì một năm đi qua trong ân sủng, tình yêu và bình an. Tạ ơn vì tình yêu đó vẫn tuôn tràn trên đời sống con người. Tạ ơn bằng việc dâng lên Thiên Chúa tất cả những thành công và những thất bại của một năm qua, cũng như trao phó vào tay Ngài năm mới sắp tới. Lời tạ ơn đầu năm sẽ được tiếp nối và kéo dài suốt cả hành trình đời người.
Một Hồng Ân vì đó là cơ hội để con người có thể dừng lại - dù chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng thật hữu ích - trên hành trình cuộc sống đầy những biến động, những bận tâm, những tính toán để mưu sinh. Dừng để nhìn lại một năm đã qua, cái gì tôi đã làm được cho bản thân, cho cộng đồng, cho xã hội, cái gì tôi cần phải khắc phục, biến đổi, cái gì cần phải phát triển, nhân lên… Dừng lại cũng là để chuẩn bị cho hành trình sắp tới, chuẩn bị để cho những dự tính trong tương lai được sáng sủa hơn, vững chắc hơn.
Một Hồng Ân vì đó là một cơ hội để con người trở về nguồn. Mỗi người đều có nguồn cội, tổ tiên, mỗi người đều có một truyền thống vốn được kết dệt từ cha ông tổ tiên. Nhưng suốt một năm dài, vì công việc, vì học hành, vì những lo toan khác do cuộc sống đưa đến, người ta ít có cơ hội để nhớ về cội nguồn và truyền thống đó. Ngày đầu năm mới, mọi người đều sắp xếp để trở về, gia đình sum họp đông đủ. Mọi người thắp nén hương cho tổ tiên, cho những người quá cố. Con cháu chúc tuổi ông bà, cha mẹ… Gia đình quây quần bên mâm cơm, cùng ôn lại truyền thống, cùng chia sẻ cho nhau những tình cảm, những suy nghĩ, thật ấm cúng, thật thân thương.
Một Hồng Ân vì đó là một cơ hội để con người gặp gỡ, chia sẻ. Ngày đầu năm, người ta dành thời gian để đi thăm nhau, gặp gỡ nhau, trao cho nhau những lời chúc tốt đẹp, chân thành, những nụ cười thiện cảm. Đó là dịp để làm lớn mạnh tình người, làm đậm đà tình làng nghĩa xóm, và làm lớn lên cái nhạy bén với những nhu cầu của tha nhân.Một Hồng Ân vì đó là cơ hội để con người cật vấn mình. Tết chính là cái “cột mốc” làm cho người ta nhận ra cuộc đời đang trôi đi, thời gian đang qua mau. Cứ mỗi khi thêm một cái Tết, người ta thấy mình già hơn, và thời gian phía trước như rút ngắn lại. Có người nói: “Tổng số quá khứ và tương lai của một đời người là một hằng số”, thêm vào quá khứ thì giảm bớt tương lai. Có lẽ vì vậy mà khi sống tâm tình những ngày Tết, người ta cũng giật mình về quãng đới đã qua, và nảy sinh nơi người ta cái thao thức về ý nghĩa cuộc đời, cật vấn về bản thân mình, về thái độ sống của mình, “vì thời gian đang qua mau, tôi đã tận dụng nó như thế nào hay tôi để nó trôi qua một cách uổng phí.” (x.Sequela Christi Số 2).
Người Việt nam Công Giáo gìn giữ những nét đẹp văn hoá của ngày Tết cổ truyền và làm cho những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động. Khi sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, là ta sống lòng tri ân sâu xa vì nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được. Khi cho đi trong ngày Tết là ta cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự. Khi đón tiếp khách thăm viếng là ta như đón tiếp chính Chúa viếng thăm.
Khi sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, người Kitô hữu góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương. Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.
Đón Tết và xem Tết như là Một Hồng Ân của Thiên Chúa, sống đầy đủ cái ý nghĩa của những ngày Tết thì chính mỗi người sẽ tràn trề hạnh phúc, tươi trẻ tình xuân, có được một “Mùa Xuân Chín” như Thi sĩ Hàn Mặc Tử.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An (Vietcatholic News)

Friday, February 02, 2007

ĐƯỜNG NÀO TA ĐANG ĐI?

Những ngày cuối năm, người ta thường sửa sang, dọn dẹp con đường trước nhà mình, sao cho sạch đẹp. Đó là con đường địa lý, con đường vật chất, con đường hữu hình.
Còn có một con đường khác thuộc về tâm hồn, ẩn khuất trong cõi vô hình. Nó càng cần được ta xem lại, sửa sang lại. Bởi vì chính con đường đó sẽ đón ơn Chúa ngày đầu Xuân.
Có nhiều cách dọn dẹp con đường thiêng liêng đó. Như cầu nguyện, tĩnh tâm, sám hối, làm việc từ thiện, thực thi các việc hiếu thảo, tình nghĩa trong các tương quan mà mình có bổn phận.
Ở đây, tôi xin nhắc đến một việc thiết tưởng rất nên làm. Đó là nhân dịp cuối năm, ta hãy nhìn kỹ xem: Đời ta đang đi trên con đường nào?
Trên thực tế, có nhiều con đường đang thu hút các cuộc đời. Còn chúng ta, những người sống Lời Chúa phải đi con đường nào?
Thưa: Con đường Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu là đường
Chúa Giêsu khẳng định: "Chính Thầy là con đường, là sự thực và là sự sống" (Ga 14,6).
Đặc tính của con đường Chúa Giêsu là:
- Vâng phục thực thi thánh ý Chúa Cha một cách khiêm nhường.
- Yêu thương phục vụ nhân loại một cách khiêm nhường.
Khiêm nhường nói đây là chấp nhận nhiều thứ khổ đau suốt đời, để minh chứng cho tình yêu cứu độ dẫn tới phục sinh.
Chúa Giêsu đã báo trước về chính Người: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Lc 9,22).
Lời Chúa Giêsu nói trên đây về chính mình chỉ là một chi tiết về cuộc đời của Người. Còn toàn thể cuộc đời ấy là một chuỗi dài những hy sinh cao cả.
Hãy liếc qua chuỗi dài yêu thương phục vụ trọn đời Người. Từ hang đá Belem nghèo khổ, cuộc đi trốn âm thầm sang Ai Cập, 30 năm lam lũ ở Nagiarét, 3 năm đi rao giảng với bao cực nhọc, sau cùng đến Núi Sọ, để bị treo lên thập giá một cách nhục nhã. Tất cả đều vì vâng phục ý Chúa Cha. Tất cả đều để minh chứng Thiên Chúa là Tình Yêu. Tất cả đều để cứu rỗi nhân loại.
Cuộc đời đó của Chúa Cứu thế chính là con đường, mà Người dạy các môn đệ Người hãy bước vào, hãy cùng đi.Chúa Giêsu phán: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy."
Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy."
Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì" (Lc 9,23-25).
Các tông đồ đi theo con đường Chúa Giêsu
Những đòi hỏi trên đây rất rõ ràng. Các môn đệ Chúa đã đi vào con đường đó không? Thưa các ngài đã đi đến tận cùng. Chúng ta có thể nhìn thấy cuộc hành trình yêu thương phục vụ của các ngài qua bài ca bác ái dưới đây của thánh Phaolô tông đồ:
"Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
...Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." (1Cr 13,4-13)
Các tông đồ của Chúa Giêsu xưa đã đi trên con đường yêu thương phục vụ của Chúa Giêsu như thế đó.
Hội Thánh mọi thời đi theo con đường Chúa Giêsu
Còn sau thời các tông đồ thì sao?
Thưa, tuy nhiều nơi lòng đạo ngả mạnh về phía đền thờ hơn về phía con người. Nhưng nói chung, các tín hữu vẫn cố gắng sống tinh thần yêu thương phục vụ một cách tin tưởng, theo kinh Tám mối phúc Chúa đã dạy:
"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3-10)
Trên đây là những nét lớn của con đường Chúa Giêsu, mà ngày đầu Xuân hay nhắc tới.
Hiện nay, nhiều người vẫn trung thành với nội dung của con đường đó. Đang khi nhiều người chỉ theo con đường đó một cách hình thức.
Tại Việt Nam hôm nay, còn người công giáo tại Việt Nam hôm nay thì sao?
Mong mỗi người hãy tự xét mình xem: Lúc này mình đang thực sự đi trên con đường nào?
Tôi thấy các phong trào văn minh đủ thứ đang phân hoá đồng bào. Bên cạnh một số người còn giữ được tâm lý quân bình, tôi thấy đang xuất hiện ba loại người sau đây:
Loại người rất gắn bó với quá khứ, nghi ngờ hiện tại và tương lai.
Loại người sống hết mình với hiện tại, dứt lìa quá khứ, bất cần tương lai.
Loại người sống như ảo tưởng với tương lai đầy hứa hẹn, quên hẳn quá khứ, hững hờ với hiện tại.
Nếu trong Hội Thánh cũng như thế, thì quả là đáng buồn. Bởi vì Con Đường Chúa Giêsu phải được liên tục từ quá khứ, với hiện tại và hướng về tương lai. Tất cả đều mang dấu ấn yêu thương phục vụ một cách khiêm nhường.
Mong dấu ấn ấy được toả sáng từ chính bản thân người môn đệ Chúa.
Mẩu tin vắn sau đây là một chứng từ thuyết phục:
Sau sự kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Toà ThánhVatican, tôi được may mắn gặp Thủ Tướng qua điện đàm trực tiếp. Trong cuộc điện đàm, tôi được biết: Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã để lại nơi Thủ Tướng một cảm tình thiêng liêng tốt đẹp, do con người của Đức Giáo Hoàng toát ra một vẻ đẹp đạo đức, nhã nhặn, hiền từ, chân tu, cao thượng.
Tôi coi đây là một chứng từ rất đáng suy nghĩ về con đường Chúa Giêsu. Đức Giáo Hoàng đã giới thiệu con đường đó bằng thái độ, cách sống của Ngài hơn là bằng lý thuyết.Còn chúng ta thì sao?
+GM JB Bùi Tuần (Vietcatholic News)

Monday, January 29, 2007

BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT

Rửng rưng như bánh chưng ngày Tết!!!
Ấy thế mà Tết nhất không có gói bánh chưng là kể như sổ toẹt!…
Với những gia đình khác thì thật sự tôi không biết chứ riêng đối với gia đình tôi, đặc biệt là đối với Bố tôi, Tết đến mà không gói bánh chưng thì kể như con cái cứ gọi là rửa tai mà nghe Bố… nhắc nhở cả năm. Mà, nhắc nhở cả năm theo cách thức của Bố chúng tôi thì kể như… xui xẻo!!!
Chẳng hạn như cái Tết năm Tân Hợi (Lại cũng Tết con Heo!), 1971, cô Em tôi đang dậy học ở Bình Dương, chú Em tôi đang tuổi mới lớn và riêng vợ chồng tôi ở mãi Đà Nẵng không về nhà được vì cấm trại 100%. Thế là Tết năm đó Bố tôi không tổ chức gói bánh chưng được và dĩ nhiên, chúng tôi lãnh đủ những hình phạt của người Cha già khó tính (như tôi bây giờ chăng!?)…
Cô Em tôi, sáng 30 Tết mới về đến nhà. Cô lo lắng khi thấy Bố không vui. Cô vội chạy xe ào xuống Chợ Ông Tạ vác về ngay hai cặp bánh chưng thật bề thế với hy vọng Bố vui và các Em dễ thở hơn trong mấy ngày Tết… Nhưng, không phải vậy: Bố tôi không nói không rằng, lẳng lặng đem ngay hai cặp bánh chưng ném gọn ghẽ vào thùng rác trước những sững sốt của các Em tôi!!!
• Bố cám ơn con đã biếu Bố bánh chưng ngày Tết. Nhưng, với Bố, Tết nhất mà không gói bánh chưng là không có Tết. Năm nay Bố không ăn Tết…
Chúng tôi không lạ gì tính tình khó khăn của Bố, nhưng bất khả kháng nên chúng tôi đành nhận… xui xẻo cả năm vậy.
Thật ra Bố chúng tôi đã mang truyền thống BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT từ ngày còn ở ngoài Bắc, từ ngày chúng tôi chưa sinh ra đời và truyền thống đó vẫn tiếp tục khi di cư vào Nam…
Chỉ riêng cách thức gói bánh chưng của Bố tôi là đã khác người nói chi đến chuyện thiếu gói bánh chưng ngày tết…
Bố tôi không biết gói bánh chưng! Điều đó đã hiển nhiên vì Bố tôi không thích nhúng tay vào cái công việc linh tinh này! Nhưng Bố tôi lại là một lý thuyết gia về cách gói bánh chưng sao cho thơm ngon hơn thiên hạ. Mà, người cậu của tôi, Em ruột của Mẹ chúng tôi chính là một người… luôn luôn thi hành theo mọi chỉ dẫn của Ông anh Rể là Bố chúng tôi.
Cậu tôi thật khéo tay. Cứ nhìn tay cậu thoăn thoắt: nào chẻ lạt bằng một ống giang tươi, nào đóng khuôn bánh, nào cắt lá dong tươi theo đúng kích thước đã định sẵn là phải biết tay nghề của Cậu tôi như thế nào.
Chúng tôi, con Ông Bố khó tính, cháu ruột người cậu ở với Bố chúng tôi từ bé, đã học được nghề gói bánh chưng nơi người Cậu thân thương này.
Trước tiên là tôi, sau là Cô em kế tôi là những học trò truyền chân của Cậu. Sau này, Hai Anh Em tôi lại có những học trò khác nữa, đó là các Em kế tiếp của chúng tôi. Riêng Chị tôi, Chị chịu thua, không khéo léo tay chân để o bế sao cho chắc tay, sao cho vuông vức… nên đành chỉ ngâm gạo, đãi đậu, thái hành… sưng cả mắt và làm những công việc lặt vặt khác… gọi là thợ vịn.
Chị tôi, tuy là thợ phụ nhưng thật vất vả vì phải sẵn sàng mọi thứ cho một đàn Em biết gói bánh.Với riêng tôi, Chị còn đặc biệt hơn nữa, Chị cung phụng cho tôi đủ mọi thứ mà tôi vòi vĩnh như phải có mấy chai bia lạnh sẵn sàng, phải có một bao thuốc lá Capstan và phải có một ly cà phê Sữa Ông Thọ nóng bốc khói để nhâm nhi cho ra vẻ nhà nghề… như Cậu của chúng tôi…
Nhắc tới Chị, tôi không khỏi mủi lòng vì Chị thương tôi đặc biệt, Chị lo cho tôi cái ăn cái uống từ nhỏ, chị bênh vực tôi trước mọi… người kể cả chịu đòn thay cho tôi với Bố Mẹ tôi mỗi khi tôi có những lỗi lầm như trốn học đi đá bóng chẳng hạn(!). Vào ngày gói bánh chưng của Bố Tôi, Chị lo lắng mọi chuyện liên quan đến nồi bánh chưng.Với tôi, Chị chỉ thì thầm thật bí mật: Em nhớ làm cho Chị một cặp bánh chưng nhỏ đặc biệt cho con trai của Chị nhé.
Bố tôi là một lý thuyết gia về gói bánh chưng. Chả vậy mà trong họ hàng, khi Bố tôi đem biếu bánh chưng, họ thường để riêng ra và dành riêng bánh chưng của Bố tôi biếu cho những tiệc tùng đặc biệt trong ngày Tết.
Bánh chưng của Bố tôi hẳn nhiên là phải to bằng viên gạch hoa hay hơn nữa, phải dầy bốn năm phân, phải thật vuông vức (vì gói bằng khuôn) và chúng tôi, phải theo một công thức đặc biệt của Bố tôi phán bảo(!)…
Đã hơn ba chục năm rồi, chúng tôi chưa hề được thấy một kiểu gói bánh chưng nào mà có những mùi vị thơm ngon như của Bố chúng tôi! Chỉ cần nhìn tấm bánh được bóc ra với mầu xanh của những hạt nếp mịn màng nhưng rất… rền… Rồi, mùi bánh chưng thơm tho đặc biệt bốc lên là chúng tôi đã cảm thấy nhễu nước miếng rồi…
Những bước sửa soạn cho một tấm bánh chưng ngày Tết của Bố tôi nó lỉnh kỉnh và rắc rối lắm. Tuy vậy, chúng tôi vẫn còn nhớ thuộc lòng như sau…
- Một vài gióng giang tươi đã được sửa soạn từ trước. Cậu tôi trước kia và tôi hay em tôi sau này phải chẻ lạt cho thật khéo rồi đem ngâm nước.
- Bố tôi hay Chị tôi đích thân đi chọn lá gói bánh ở chợ Ông Tạ hay Chợ Bến Thành và nhiều chợ khác nữa… Và phải chọn loại lá giong nam loại tốt nhất: nghĩa là phải to, phải tươi và không được rách hay bị sâu. Các người bán hàng quen thuộc trong dịp hiếm hoi này đã quá quen thuộc với khách hàng khó tính như Bố tôi nên thường dành những bó lá tốt nhất cho Cụ. Nhưng ngược lại,cũng phải có đi có lại mới toại lòng nhau, Bố tôi hay Chị tôi phải trả một giá không mấy rẻ cho những bó lá… hạng nhất đó!
- Nếp, đã được chọn lựa kỹ lưỡng, không lẫn gạo tẻ và phải được ngâm nhiều giờ trước khi gói bánh. Khi xóc gạo rồi đổ vào trong một cái thau nhôm lớn, chính Bố tôi đích thân rắc muối và tưới nước gừng vào nếp rồi trộn cho đều. Cái màn trộn muối và nước gừng này, Bố tôi cho rất mạnh tay. Phải cho như đổ gạo đi như vậy thì khi ăn bánh, hương vị mới đậm đà và thơm ngon vì có thoang thoảng mùi nước gừng (Bố tôi phán như vậy đó nên chúng tôi chỉ biết lắng nghe mà không dám có ý kiến gì khác.)
- Đậu xanh loại thật bở được ngâm nhiều giờ trước khi xôi lên trong một cái chõ lớn. Đậu xanh chín được giã nát nhừ trong một cái cối đá rồi nắm lại thành những nắm. Chị tôi dùng dao thái những nắm đậu xanh cho tơi ra.
- Mỡ khổ, không dính da và không dính thịt, được cắt bằng hai ba ngón tay, không quá mỏng cũng chẳng quá dầy để sẵn trong những cái nồi to. Sau 12 tiếng luộc bánh, những miếng mỡ này phải biến mất vào trong bánh (Eo ôi! Cholesterol!!!)
- Hành hương bóc vỏ, thái mỏng để trong nững tô lớn. Bao nhiêu người gói là bấy nhiêu tô để bên cạnh.
- Những cái khuôn gói bánh lớn nhỏ đã định sẵn tùy theo quyết định gói lớn hay nhỏ của vị tư lệnh gói bánh là Bố chúng tôi. Thường thì chỉ dùng khuôn lớn vì Bố chúng tôi thích gói lớn để đem đi biếu Các Chú Các Bác của Bố chúng tôi với câu nói mà các con chúng tôi bây giờ vẫn còn bị ảnh hưởng: cho người ta thì phải ra tay ra tấm…
Thường thì Bố tôi bắt đầu gói bánh từ 12 hay 1 giờ trưa 28 hay 29 Tết tùy theo tháng thiếu hay tháng đủ để làm sao 30 Tết phải có bánh chưng nóng hổi đi biếu, đi Tết các bậc vai vế lớn trong họ trong hàng, trong làng trong nước (ngày xưa…).
Nơi gói bánh thường là căn phòng trống bên cạnh nhà bếp đã được dọn dẹp sạch sẽ và đã bày biện đủ thứ liên quan đến việc gói bánh chưng.
Mỗi người gói bánh ngồi xếp bằng đằng sau cái khuôn của mình. Trước mặt và bên cạnh là những vật liệu bánh chưng.
Trước tiên phải đặt vào khuôn 4 chiếc lá tốt nhất theo bốn cạnh. Mỗi lá bẻ gập đôi lại, sau đến 4 lá góc đã cắt sẵn theo chiều rộng của tấm bánh. Cho chắc ăn, bỏ thêm hai lá dọc, ngang rồi bắt đầu bỏ vật liệu.
- Một bát gạo được san đều trong khuôn.
- Một bát đậu xanh đã giã nát và cắt ra…
- 3 lát mỡ khổ.
- Một nhúm hành hương thái mỏng rải đều trên 3 miếng mỡ lợn.
- Một bát đậu xanh phủ lên trên và rải đều.
- Cuối cùng là một bát nếp khác. Lúc này, một tay giữ cái khuôn bánh, một tay nắn nót nhấn chung quang, đè ở giữa sao cho vật liệu gói bánh được một bàn tay năm ngón “gói cho chắc”…
Thế rồi, lá bỏ vào sau thì xếp vào trước để cuối cùng 4 chiếc lá chính được xếp lại trước khi xỏ lạt cột tấm bánh lại cho chắc. Thường người ta dùng hai, bốn hay 6 hoặc tám lạt tùy theo ý thích của “ông xếp sòng” gói bánh.
Phần cuối này coi vậy mà quan trọng lắm. Bánh gói có chắc tay không, bánh có bị bể ra không, bánh có vuông vức không… Nói chung là có đẹp hay không, ăn tiền là ở khâu o bế này. Cô Em tôi, tuy khéo tay nhưng gói không chắc tay vì tay cô yếu. Chú Em tôi, gói thật chắc tay, bánh không bao giờ bị dúm dó vì có hai tay thật khỏe. Bố tôi, tuy không biết gói nhưng biết phê bình và Chú Em tôi thường được Ông Cụ lì xì “nặng tay” hơn vào sáng mùng một Tết.
Vào khoảng 5 hay 6 giờ chiều, số lượng bánh đã gần đủ, Bố tôi ra lệnh xếp bánh vào nồi to tướng đã đặt sẵn ở ngoài sân bên cạnh một đống củi tạ đã được bửa vừa phải. Vừa phải thôi vì nhỏ quá mau tàn mà lớn quá thì khó cháy…
Về sau (trước 30/4/75) Bố tôi thường dùng cái thùng phuy 200 lít để nấu cho được nhiều bánh. Bên cạnh cái nồi bánh lớn còn có thêm một cái bếp nhỏ có một nồi nước luôn luôn sôi sục. Nước này dùng để chế thêm vào nồi bánh lớn khi nồi lớn nước bị cạn đi chút ít. Nếu đổ nước lạnh, bánh sẻ bị “hấy” tức là bị chỗ sống chỗ chín…
Một điều nhỏ nhặt nhưng cần nhớ là dưới đáy nồi nhớ cho vào một ít cọng lá gói bánh để cho bánh khỏi bị sát đáy nồi.
Khỏang 12 đến 14 tiếng sau, tức là vào sáng hôm sau, nồi bánh đã chín (bánh chắc chắn đã rền(!)), những người coi nồi bánh chưng mặt mày phờ phạc dù đêm qua đã làm vài tô cháo gà hay ba bốn ly cà phê sữa. Bố tôi lại xuất hiện mặc dù đêm hôm qua Bố tôi vẫn đá qua đá lại dăm ba lần để liếc nồi bánh xem có luôn luôn âm ỉ sôi hay không!
Lúc này, một thùng nước lạnh được để sẵn, hai nửa tấm ván ép loại dầy được kê trong phòng. Mỗi tấm bánh được bố tôi hay chị tôi vớt ra được thả ngay vào nước lạnh, được chúng tôi rửa sơ qua cho sạch sẽ, được nắn nót lại cho vuông vức rồi được đặt trên tấm ván. Sau khi đặt xong hai lớp bánh, tấm ván ép thứ hai được đè lên trên và một vài bao gạo nhỏ được để lên để cho các tấm bánh thật sự ráo nước mà để cho được lâu…
Dĩ nhiên, những người “thợ gói bánh” bất đắc dĩ của Bố tôi là chúng tôi được Ông Cụ mở ngay cái bánh đầu tiên cho chúng tôi thưởng thức trước khi đi ngủ bù. Và, dù cả đêm mệt mỏi canh thức nồi bánh, khi bánh được Chị tôi thay mặt Bố tôi bóc ra, chúng tôi vẩn náo nức được thưởng thức hương vị tuyệt vời của nó. Ôi!, sao mùi vị bánh chưng của Bố chúng tôi thơm ngon béo ngậy làm vậy!!!
Thường thì công tác kế tiếp là công tác “phơi phới” nhất: Vợ tôi, cùng với Chú Đông, người tài xế trung thành nhất của chúng tôi được giao phó đi biếu bánh theo địa chỉ đã ghi sẵn trên vài trang giấy…
Viết đến đây, tôi thật ngậm ngùi…
Bố chúng tôi, vị tư lệnh gói bánh chưng năm xưa đã không còn nữa để chúng tôi được nghe những lời nhắn nhủ rổn rản… thật bực mình… nhưng giờ này dù muốn nghe mà làm sao có được!!!
Chú Nguyễn văn Đông, người đàn Em trung tín, người Anh Hùng “vô danh” của miền Nam cũng chẳng còn tại thế để canh nồi bánh chưng với chúng tôi. Người đã ra đi ngay sau khi miền Nam đổi chủ. So sánh với Chú Đông, tôi thật hổ thẹn trong lòng…
Tết lại đem Xuân mới trở về. Bánh chưng lại được mọi người nhắc đến, tôi không khỏi không nhớ đến một câu thơ cũ rích trong tâm hồn giờ này đã già cỗi:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Nêu cao, pháo Tết, BÁNH CHƯNG XANH.
(Xuân Đinh Hợi 2007)
Ngô Vũ Khánh Truật (Vietcatholic News)