Showing posts with label CATHOLICS. Show all posts
Showing posts with label CATHOLICS. Show all posts

Wednesday, November 26, 2008

Và lễ Tạ Ơn tới…

Và lễ Tạ Ơn tới. Bây giờ đang là một ngày lễ, một ngày lễ Tạ Ơn. Lễ Tạ Ơn tới, có rất nhiều điều để mà tạ ơn.
Tạ ơn cho lá xanh đậm và bầu không khí nóng hừng hực khi mùa hè tới với những con số 100 đỏ chói trên hàn thử biểu. Tạ ơn cho làn gió êm dịu khi mùa thu về, lá đổi màu rực rỡ trên hàng cây. Tạ ơn cho tuyết trắng, tuyết trắng buông rơi thả nhẹ, tuyết trắng bám chặt cây khô bơ vơ trụi lá. Tạ ơn cho những nụ hoa đâm chồi nẩy lộc trong sân vườn lún phún mầu xanh, mầu xanh xanh mới, mầu xanh hy vọng. Tạ ơn cho gió nóng và gió lạnh. Tạ ơn cho gió hè và gió thu. Tạ ơn cho bốn mùa, bốn mùa luân phiên thay đổi.
Tạ ơn cho những thăng trầm trôi nổi trong một năm vừa qua. Tạ ơn cho hạnh phúc. Tạ ơn cho thanh bình. Tạ ơn cho bầu không khí đầm ấm trong căn nhà mới tinh, kiếng cửa sổ còn bóng lộn. Tạ ơn cho chiếc xe mới nằm trong nhà xe còn đang thơm mùi sơn mới. Tạ ơn cho tiếng cười tiếng nói trong những căn phòng khách sang trọng thơm tho mùi thảm mới với màn ảnh TV Plasma nằm chễm chệ chiếm gọn một góc nhà. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai và em gái.
Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của những đứa con, con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con, con gái, ngày nào tóc còn ngắn ngang vai, giờ này tóc dài đen nhánh êm đềm bước đi những gót hài sen đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của đẹp, đẹp rực rỡ, đẹp huy hoàng.
Tạ ơn cho những người chị, người anh, người em, em trai và em gái. Tạ ơn cho những lời ngon ngọt rì rào anh chị em thủ thỉ với nhau, và cũng tạ ơn cho những lời cay đắng buông ra không kịp kềm hãm. Tạ ơn cho những khuôn mặt tươi cười ngọt ngào, và những giận hờn nước mắt tuôn rơi. Tạ ơn cho những quây quần xum họp, và ngay cả những lúc không ai nhìn ai. Tạ ơn cho những lần cửa phòng rộng mở, và cũng tạ ơn cho những lần cửa đóng then cài.
Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng tháng ngược xuôi mang tiền về nuôi chồng, nuôi vợ, và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu. Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ sớm chiều lặn lội thân cò khi quãng vắng, kiếm gạo nuôi chồng nuôi vợ nuôi con. Tạ ơn cho những thiên đàng đã được tạo ra trong căn phòng khách, và ngay cả những ngọn lửa vẫn còn đang âm ỷ cháy. Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những hạt nước mắt rớt xuống dập tắt đi mầm lửa của giận và của hờn.
Tạ ơn cho tình thương, tình thương mến vô điều kiện. Không phải bởi học giỏi, đỗ đạt vinh quy, tình thương mới được trao ban gửi tặng. Không phải! Không phải bởi nói tiếng Việt, hay tiếng Anh, hay tiếng Pháp, hay tiếng Đức giỏi, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ. Không phải! Không phải bởi biết đối đáp, biết ăn biết nói, biết làm ăn buôn bán, biết giao tiếp lanh lẹ, tình thương mới được trao ban. Không phải! Không phải bởi cao lớn lực lưỡng, tóc dài đen mượt, khuôn mặt xinh đẹp, nụ cười tươi thắm, dịu dàng thướt tha, da mầu trắng ngà, hay da mầu rám nắng, tình thương mới bộc phát. Không phải! Không phải bởi lương cao, nhà cửa thênh thang, 5 hoặc 6 phòng, bởi học thành tài, có bằng cử nhân, văn bằng bác sĩ, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ trên đầu lưỡi. Không phải! Không phải bởi vì điều kiện này điều kiện kia, tình thương mới lấp ló nơi khóe miệng. Không phải! Mà bởi vì bố là bố, mẹ là mẹ, chị là chị, anh là anh, em là em. Bởi vì bố là bố của con, bởi vì mẹ là mẹ của con, bởi vì em là em của anh, bởi vì em là em của chị, cho nên lúc nào tình thương cũng tràn đầy tuôn đổ trên hai bàn tay; và khi cần đến, tình thương ngọt ngào tuôn đổ, tình thương sung mãn, tình thương thánh thót, tình thương ngập tràn, tình thương lai láng, tình thương viên mãn, tình thương tuôn rơi.
Tạ ơn cho những sức khỏe sung mãn trong gia đình. Tạ ơn cho những đau ốm liệt giường, sụt sùi cảm cúm. Tạ ơn cho những giấc mơ chưa đạt tới, và không biết bao giờ mới đạt tới. Tạ ơn cho những lần không trở thành gánh nặng cho chính mình và cho những người thân chung quanh. Tạ ơn cho những vết thương tâm hồn từ bao lâu nay đã thôi không sưng đỏ, đã chịu lên da non.
Tạ ơn cho những khuôn mặt trong gia đình đang dần dần biến dạng trở nên cằn cỗi, và tạ ơn cho những khuôn mặt vẫn còn đang căng tràn nhựa sống. Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia.
Tạ ơn cho những người tình của gia đình. Tạ ơn cho những khuôn mặt mới thường xuyên xuất hiện trong căn phòng khách đợi chờ những khuôn mặt cũ. Tạ ơn cho những người thanh niên kiên nhẫn ngồi im lìm đọc báo coi TV đợi chờ trong căn phòng khách trong khi những người con gái vẫn đang đi tới đi lui trước gương. Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc, và cũng tạ ơn cho những căn nhà bắt đầu nóng, nóng như lửa.
Tạ ơn cho những buổi lễ Tạ Ơn với thịt gà tây chiên vàng theo kiểu Văn Lang. Tạ ơn cho những bữa tiệc Giáng Sinh với khăn bàn đỏ rực, với những ly rượu đỏ nồng, và những khuôn mặt đỏ thắm. Tạ ơn cho những cây thông mọc trong căn phòng khách với đèn trắng, đèn xanh, đèn đỏ, đèn tím, đèn vàng, đèn sáng chưng, đèn lấp lánh bên những gói quà Giáng Sinh chất cao, cao ngất. Tạ ơn cho những đêm Giao Thừa im lìm trên vùng đất mới với không pháo đỏ hồng, không quần áo mới. Tạ ơn cho những đêm Trung Thu trăng tròn rực rỡ, không đèn con thỏ, không đèn con cá, không đèn kéo quân, cả nhà ngồi sau vườn ngắm trăng với trà ướp sen, trà hoa lài, và với bánh nướng, bánh dẻo.
Tạ ơn cho những buổi kinh tối, cả gia đình quây quần đọc kinh Mân Côi. Tạ ơn cho những con thuyền, những chuyến bay đã mang gia đình tới đất mới, trời mới. Tạ ơn cho những lần thất nghiệp đi ra đi vào chẳng biết làm chi khác hơn ngoài luyện chưởng. Tạ ơn cho bầu không khí lành lạnh mát dịu của một ngày cuối tháng Mười Một. Tạ ơn cho Mùa Vọng, cho Lễ Giáng Sinh. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bay thơm lừng nguyên cả một khu phố có người Hoa Kỳ gốc Văn Lang quây quần xum họp. Tạ ơn cho Bún Bò Huế, Bún Vịt Sáo Măng, Bún Mọc, Cháo Gà, Cháo Vịt, Cháo Lòng Heo và Phở. Tạ ơn cho Bánh Cuốn, Bánh Bèo, Bánh Đúc, Bánh Phồng Tôm. Có rất nhiều điều để Tạ Ơn. Có muốn kể ra, kể ra cũng không hết.
Tạ ơn cho một ngày Lễ Tạ Ơn, một ngày người thân nhớ tới người thân, một ngày gia đình quây quần xum họp tạ ơn trời cao.
Tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ông Trời cho một năm vừa trôi qua, trôi qua trong hạnh phúc, trôi qua trong thanh bình, trôi qua trong an lạc, trôi qua trong hồng ân.
LM Nguyễn Trung Tây, SVD (theo VietCatholic News)

Tuesday, June 24, 2008

MỪNG LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ!

MỘT CON TRẺ LẠ LÙNG
Việc lạ lùng của Gioan Tẩy Giả đã được đánh dấu ngay từ lúc cha mẹ của Gioan đặt tên cho ông. Thường dân Do Thái tên của người cha, tên của họ hàng nội phải được đặt tên cho đứa bé mới sinh ra. Ở đây, cái huyền diệu, linh thánh đã xẩy ra ngay lúc cắt bì cho con trẻ. Lúc cắt bì cũng là lúc đặt tên cho đứa bé. Mọi người cứ tưởng lấy tên cha Giacaria đặt tên cho bé, nhưng bà Êlisabét lên tiếng: “Không, phải đặt tên cháu là Gioan” (Lc 1,60). Đây là cái tên do chính Thiên thần đã báo trước cho Giacaria biết ông và vợ ông sẽ sinh được một cháu trai dù hai ông bà đã luống tuổi, cao niên không thể nào sinh con nếu không có bàn tay Thiên Chúa can thiệp…
CON TRẺ GIOAN TẨY GIẢ LÀ VỊ NGÔN SỨ DUY NHẤT CHỈ CHO NHÂN LOẠI THẤY ĐẤNG CỨU THẾ: Mở đầu Tin Mừng thứ tư, thánh Gioan viết: “Có một người Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đến để làm chứng cho ánh sáng và chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa” (Ga 1,6-7). Địa vị và vai trò của Gioan Tẩy Giả rất quan trọng và lớn lao trong hàng ngũ các ngôn sứ của lịch sử dân Chúa. Bởi vì việc mang thai con trong lúc tuổi già của vợ chồng ông Giacaria và Eâlisabét đã nói lên việc kỳ diệu của Thiên Chúa nơi con trẻ Gioan. Tên con trẻ trong ngôn ngữ Do Thái là “Jehohanan”. Chữ này có nghĩa “Thiên Chúa là ân sủng”. Vì con trẻ là hồng ân nhưng không, cao vời Thiên Chúa dành cho Gioan Tẩy Giả, cho toàn dân và cho ông bà Giacaria, nên ai nấy đều bỡ ngỡ (Lc 1,63). Sau khi đứa trẻ được đặt tên, Giacaria dâng lên Thiên Chúa một lời ngợi khen tuyệt vời, Ông đã dâng con ông cho Thiên Chúa và nói: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,76-77). Tới tuổi trưởng thành, khôn lớn Gioan Tẩy Giả từ giã gia đình đi vào hoang địa, đi vào rừng vắng để ăn chay cầu nguyện, chuẩn bị sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Tin Mừng thuật lại, đời sống của Gioan Tẩy Giả rất khổ hạnh: “Thức ăn của Người là châu chấu và mật ong rừng”. Tuy thân xác khổ hạnh, nhưng tinh thần của Người tràn đầy niềm vui. Do đó, Gioan Tẩy Giả quả thực nắm một vai trò rất quan trọng trong lịch sử dân Chúa.
SỨ MẠNG DỌN ĐƯỜNG CỦA GIOAN TẨY GIẢ: Mình Gioan được đặc ân dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Gioan Tẩy Giả đã trình bày và giới thiệu Chúa Cứu Thế như là hồng ân cao quí tuyệt vời Thiên Chúa ban tặng nhưng không cho nhân loại, cho con người, cho mỗi người chúng ta. Chúa là chiên Thiên Chúa và là Đấng xóa tội gian trần. Tin Mừng viết: “Năm thứ mười lăm dưới triều Hòang Đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philipphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít… có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Giacaria là ông Gioan trong hoang địa… rao giảng,kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội và sửa soạn cho ngày Đấng Cứu Thế tới” (Lc 3,1-6). Mọi người dân Do Thái tuôn đến để nghe Gioan rao giảng và tin vào Người nhưng Gioan đã vội minh xác: “Tôi không phải là Đấng Cứu Thế, sẽ có một người đến sau tôi và tôi không xứng đáng cởi dây giầy Người” (Lc 3,16). Chính Chúa Giêsu cũng tới xin Gioan làm phép rửa cho mình. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nhận ra Chúa Giêsu và chỉ cho các môn đệ của mình biết Đấng Cứu Thế. Thánh nhân đã đề cao vai trò cứu thế của Chúa: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Thánh Gioan Tẩy Giả đã thi hành sứ mạng dọn đường rất nghiêm ngặt và công minh. Ngài không sợ thế gian, nên Ngài đã quở trách nặng lời Hêrôđê vì vua đã lấy vợ em mình. Ngài đã bị tống giam vào ngục và bị chém đầu vì một lời hứa khờ dại của vua Hêrôđê.
Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Gioan Tẩy Giả đến chuẩn bị cho dân Chúa sẵn sàng đón Đức Kitô. Xin rộng ban cho các tín hữu được đầy tràn niềm vui của Thánh Thần, và xin hướng dẫn họ bước vào con đường cứu độ và bình an. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
LM Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Monday, November 26, 2007

Truyền thống và ý nghĩa Lễ Tạ Ơn - Thanksgiving...

Thanksgiving được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau và nhất là Tạ Ơn Chúa đã ban cho vụ mùa màng được sinh hoa kết trái, lương thực đồi dào và dùng đủ, và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình. Năm nay (2007) tuy dù xăng nhớt và vé máy bay đắt đỏ, nhưng trong cuối này có tới 40 triệu ngưởi Hoa Kỳ sẽ di chuyển trong vòng từ 75 cây số trở lên để về ăn Lễ Tạ Ơn với gia đình.

Tại Mỹ, ngày lễ này được tổ chức vào thứ 5, tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm. Người ta thường được nghỉ 4 ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần Lễ Tạ ơn. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo).

Nguồn gốc Lễ Thanksgiving đầu tiên:

Chuyện kể rằng những người di dân 102 người hầu hết là thuộc Thanh giáo, họ rời Anh quốc vào tháng 9 năm 1920 trên chuyến tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Đầu tiên, họ đến Leyde thuộc Hòa Lan, nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng. Do đó nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân thế giới, họ muốn tạo dựng một "một thành Jérusalem mới" ở Hoa Kỳ.

Trên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, lo sợ và nguy khốn... Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, Sàn tầu bằng gỗ, có lần đốt lửa xẩy ra tai nạn, nên sau đó họ phải ăn thức ăn lạnh. Nhiều người ngà bệnh. Cuộc hành trình này có 1 thủy thủ và 1 hành khách chết. Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus (có nghĩa là “Đại Dương”).

Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1mile = 1,852km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts). Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là "người hành hương"). Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag). Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.

Họ tới Plymouth Rock, Massachusetts, ngày 11 tháng 12 năm 1620. Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng không quan trọng lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower, Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người). Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.

Nhưng mùa gặt của năm 1621 lại là một mùa tốt đẹp. Những người còn sống sót quyết định làm tiệc ăn mừng có sự tham gia của 91 thổ dân da đỏ - những người đã giúp họ sống sót trong năm đầu vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng... Đoàn di dân tin rằng họ không thể tồn tại được nếu không có người da đỏ giúp đỡ. Buổi tiệc được tiến hành theo phong tục cổ truyền mừng mùa màng của Anh chứ không đơn thuần chỉ là “tạ ơn” và kéo dài suốt 3 ngày.

Lúc đó, người đứng đầu cai quản vùng đất này - Thống đốc William Bradford đã cử 4 người vào rừng để săn chim, gà và ngỗng cho buổi tiệc. Không biết rõ gà rừng có phải là một phần chính cho bữa tiệc hay không nhưng chắc chắn là họ dùng thịt của một loài lông vũ. Danh từ “turkey” từ đó được những người di dân dùng cho những giống chim rừng.

Sang năm tiếp theo, 1662, Lễ Tạ ơn không được tổ chức. Nhưng vào năm 1623 sau nhiều lần hạn hán những người di dân của các thuộc địa cùng nhau tụ tập lại cầu nguyện cho mưa xuống. Sau khi mưa liên tiếp trút xuống mấy ngày, Thống Đốc Bradford tuyên bố một ngày Tạ ơn nữa, và họ lại mời những người bạn da đỏ.

Những Lễ Thanksgiving tiếp theo sau...

Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ, Hội đồng các thuộc địa đã định ra thêm một vài ngày Tạ ơn trong năm (trừ năm 1777).

George Washington với tư cách là chỉ huy lực lượng giải phóng đã tuyên bố ngày Tạ ơn trong tháng 12/1777 là ngày lễ mừng chiến thắng lính Anh tại Saratoga. Hội đồng thuộc địa công bố ngày lễ Tạ ơn vào tháng 12 từ năm 1777 đến 1783 (trừ năm 1782).

Sau khi trở thành Tổng thống, George Washington đã tuyên bố ngày lễ Tạ ơn quốc gia năm 1789 và 1795 dù gặp phải vài sự phản đối. Tổng thống John Adams tuyên bố ngày Tạ ơn vào năm 1798 và 1799. Tổng thống Madison cũng dành ra một ngày gọi là để Tạ ơn vào cuối cuộc chiến năm 1812.

Sau đó, nhờ Sarah Josepha Hale, chủ bút của một tờ báo cố gắng thuyết phục mọi người công nhận lễ Tạ ơn bằng những bài viết của bà trên tờ Boston Ladies’ Magazine và Godey’s Lady’s Book kèm theo thư từ cho các thống đốc và các tổng thống, cuối cùng vào năm 1863, Tổng thống Lincoln tuyên bố ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là ngày lễ Tạ ơn và là ngày nghỉ hàng năm. Các đời Tổng thống kế tiếp cũng làm theo tiền lệ này.

Năm 1939, Tổng thống Franklin Delano Roosevelt tuyên bố lễ Tạ ơn sẽ diễn ra vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 3 trong tháng 11, tạo điều kiện giúp giới kinh doanh thuận lợi trong việc bán hàng trước lễ Giáng Sinh. Song tuyên bố của ông Roosevelt không có hiệu lực vì bị nhiều bang phản đối.

Đến năm 1941, Quốc hội Mỹ đã đạt được sự đồng thuận và định ra ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 sẽ là ngày Tạ ơn trên toàn quốc. Ngày 26/11/1941, Tổng thống Roosevelt chính thức ký thông qua đạo luật này.

Bữa tối mừng Lễ Tạ Ơn

Món chủ đạo trong bữa Tạ ơn tại Mỹ và Canada là thịt gà tây nướng. Vì gà tây là món ăn phổ biến nhất trong bữa tối mừng Lễ Tạ ơn, nên đôi khi ngày Tạ ơn còn được gọi là Ngày Gà Tây. Tổ chức USDA từng thống kê năm 2006 có trên 300 triệu con gà tây được nuôi và khoảng 1/6 trong số này dành phục vụ lễ Tạ ơn.

Thời kỉ đầu, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ "turkey" lúc bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ... Cho dù những người di dân đầu tiên có ăn gà tây hay không vào dịp lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây luôn luôn được gắn liền với lễ này.

Cùng với gà tây là món Bí đỏ (pumpkin) truyền thống, đây là loại thức ăn đã cứu sống những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây. Món ăn bí đỏ luộc, và làm bánh chiên bằng bột ngô. Một số thực phẩm khác cũng xuất hiện trên bàn tiệc như: nước sốt chanh, nước sốt thịt, khoai tây nghiền, khoai lang ướp đường, đậu xanh. Lúc đó trên bàn cũng không có sữa, nước táo, khoai tây hay bơ như sau này, vì họ chưa nuôi được bò để có sữa. Nhưng bữa tiệc cũng thêm phần thịnh soạn vì có thêm cá, trái dâu, rau cải soong, tôm hùm, thịt chim rừng, trái cây khô và trái mận tươi.

Các món tráng miệng cũng được bổ sung trên bàn ăn, bao gồm một số loại bánh nướng nhất là bánh bí ngô, bánh nướng nhân dâu tây, bánh nhân hồ đào.

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ, khách có thể mang theo món ăn, nhưng không mang theo quà cáp.

Những hoạt động trong ngày Tạ ơn tại Hoa Kỳ

Một hoạt động không thể thiếu vào dịp Tạ ơn là mua sắm. Ngày thứ Sáu sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ. Bắt đầu từ những năm 1930, mùa mua sắm nhân dịp Giáng sinh bắt đầu khi lễ Tạ ơn kết thúc.

Tại thành phố New York, cuộc diễu hành nhân ngày Tạ ơn của Tập đoàn Macy's được tổ chức hàng năm tại khu trung tâm Manhattan. Cuộc tuần hành được tổ chức theo các chủ đề đặc biệt nào đó, hoặc mô phỏng các cảnh trong những vở kịch trên sân khấu Broadway kèm theo những chùm bóng lớn vẽ nhiều nhân vật hoạt hình hoặc diễn viên truyền hình nổi tiếng. Diễu hành nhân dịp Tạ ơn cũng diễn ra ở một số thành phố khác như Plymouth, Los Angeles, Houston, PhiladelphiaDetroit...

Một hoạt động chính khác trong dịp lễ Tạ ơn tại Mỹ là đá bóng (American football). Nó được coi là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn. Theo truyền thống, hai đội chuyên nghiệp sẽ giao đấu vào ngày Tạ ơn, song đến gần đây, các trận bóng được tổ chức vào ngày trong tuần, không phải vào Chúa Nhật. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.

Riêng tại Canada, lễ Tạ ơn diễn ra trong 3 ngày cuối tuần và không được coi trọng như ở Mỹ. Vào dịp này, các gia đình Canada khó có thể tụ họp với nhau, thay vì thế họ coi ngày Noel là dịp để thành viên trong gia đình đoàn tụ. Thêm vào đó, lễ Tạ ơn tại Canada lại rơi vào ngày thứ 2, tuần lễ thứ 2 trong tháng 10, nên người Canada có thể ăn bữa tối Tạ ơn vào bất kỳ ngày nào trong số 3 ngày cuối tuần trước đó. Điều này có nghĩa, họ sẽ ăn tối cùng một nhóm họ hàng trong 1 ngày và một bữa khác với nhóm khác vào ngày hôm sau.

(Theo VietCatholic News)

Thursday, November 22, 2007

Và lễ Tạ Ơn tới...

Và lễ Tạ Ơn tới. Bây giờ đang là một ngày lễ, một ngày lễ Tạ Ơn. Lễ Tạ Ơn tới, có rất nhiều điều để mà tạ ơn.
Tạ ơn cho lá xanh đậm và bầu không khí nóng hừng hực khi mùa hè tới với những con số 100 đỏ chói trên hàn thử biểu. Tạ ơn cho làn gió êm dịu khi mùa thu về, lá đổi màu rực rỡ trên hàng cây. Tạ ơn cho tuyết trắng, tuyết trắng buông rơi thả nhẹ, tuyết trắng bám chặt cây khô bơ vơ trụi lá. Tạ ơn cho những nụ hoa đâm chồi nẩy lộc trong sân vườn lún phún mầu xanh, mầu xanh xanh mới, mầu xanh hy vọng. Tạ ơn cho gió nóng và gió lạnh. Tạ ơn cho gió hè và gió thu. Tạ ơn cho bốn mùa, bốn mùa luân phiên thay đổi.
Tạ ơn cho những thăng trầm trôi nổi trong một năm vừa qua. Tạ ơn cho hạnh phúc. Tạ ơn cho thanh bình. Tạ ơn cho bầu không khí đầm ấm trong căn nhà mới tinh, kiếng cửa sổ còn bóng lộn. Tạ ơn cho chiếc xe mới nằm trong nhà xe còn đang thơm mùi sơn mới. Tạ ơn cho tiếng cười tiếng nói trong những căn phòng khách sang trọng thơm tho mùi thảm mới với màn ảnh TV Plasma nằm chễm chệ chiếm gọn một góc nhà. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai và em gái.
Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của những đứa con, con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con, con gái, ngày nào tóc còn ngắn ngang vai, giờ này tóc dài đen nhánh êm đềm bước đi những gót hài sen đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của đẹp, đẹp rực rỡ, đẹp huy hoàng.
Tạ ơn cho những người chị, người anh, người em, em trai và em gái. Tạ ơn cho những lời ngon ngọt rì rào anh chị em thủ thỉ với nhau, và cũng tạ ơn cho những lời cay đắng buông ra không kịp kềm hãm. Tạ ơn cho những khuôn mặt tươi cười ngọt ngào, và những giận hờn nước mắt tuôn rơi. Tạ ơn cho những quây quần xum họp, và ngay cả những lúc không ai nhìn ai. Tạ ơn cho những lần cửa phòng rộng mở, và cũng tạ ơn cho những lần cửa đóng then cài.
Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng tháng ngược xuôi mang tiền về nuôi chồng, nuôi vợ, và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu. Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ sớm chiều lặn lội thân cò khi quãng vắng, kiếm gạo nuôi chồng nuôi vợ nuôi con. Tạ ơn cho những thiên đàng đã được tạo ra trong căn phòng khách, và ngay cả những ngọn lửa vẫn còn đang âm ỷ cháy. Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những hạt nước mắt rớt xuống dập tắt đi mầm lửa của giận và của hờn.
Tạ ơn cho tình thương, tình thương mến vô điều kiện. Không phải bởi học giỏi, đỗ đạt vinh quy, tình thương mới được trao ban gửi tặng. Không phải! Không phải bởi nói tiếng Việt, hay tiếng Anh, hay tiếng Pháp, hay tiếng Đức giỏi, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ. Không phải! Không phải bởi biết đối đáp, biết ăn biết nói, biết làm ăn buôn bán, biết giao tiếp lanh lẹ, tình thương mới được trao ban. Không phải! Không phải bởi cao lớn lực lưỡng, tóc dài đen mượt, khuôn mặt xinh đẹp, nụ cười tươi thắm, dịu dàng thướt tha, da mầu trắng ngà, hay da mầu rám nắng, tình thương mới bộc phát. Không phải! Không phải bởi lương cao, nhà cửa thênh thang, 5 hoặc 6 phòng, bởi học thành tài, có bằng cử nhân, văn bằng bác sĩ, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ trên đầu lưỡi. Không phải! Không phải bởi vì điều kiện này điều kiện kia, tình thương mới lấp ló nơi khóe miệng. Không phải! Mà bởi vì bố là bố, mẹ là mẹ, chị là chị, anh là anh, em là em. Bởi vì bố là bố của con, bởi vì mẹ là mẹ của con, bởi vì em là em của anh, bởi vì em là em của chị, cho nên lúc nào tình thương cũng tràn đầy tuôn đổ trên hai bàn tay; và khi cần đến, tình thương ngọt ngào tuôn đổ, tình thương sung mãn, tình thương thánh thót, tình thương ngập tràn, tình thương lai láng, tình thương viên mãn, tình thương tuôn rơi.
Tạ ơn cho những sức khỏe sung mãn trong gia đình. Tạ ơn cho những đau ốm liệt giường, sụt sùi cảm cúm. Tạ ơn cho những giấc mơ chưa đạt tới, và không biết bao giờ mới đạt tới. Tạ ơn cho những lần không trở thành gánh nặng cho chính mình và cho những người thân chung quanh. Tạ ơn cho những vết thương tâm hồn từ bao lâu nay đã thôi không sưng đỏ, đã chịu lên da non.
Tạ ơn cho những khuôn mặt trong gia đình đang dần dần biến dạng trở nên cằn cỗi, và tạ ơn cho những khuôn mặt vẫn còn đang căng tràn nhựa sống. Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia.
Tạ ơn cho những người tình của gia đình. Tạ ơn cho những khuôn mặt mới thường xuyên xuất hiện trong căn phòng khách đợi chờ những khuôn mặt cũ. Tạ ơn cho những người thanh niên kiên nhẫn ngồi im lìm đọc báo coi TV đợi chờ trong căn phòng khách trong khi những người con gái vẫn đang đi tới đi lui trước gương. Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc, và cũng tạ ơn cho những căn nhà bắt đầu nóng, nóng như lửa.
Tạ ơn cho những buổi lễ Tạ Ơn với thịt gà tây chiên vàng theo kiểu Văn Lang. Tạ ơn cho những bữa tiệc Giáng Sinh với khăn bàn đỏ rực, với những ly rượu đỏ nồng, và những khuôn mặt đỏ thắm. Tạ ơn cho những cây thông mọc trong căn phòng khách với đèn trắng, đèn xanh, đèn đỏ, đèn tím, đèn vàng, đèn sáng chưng, đèn lấp lánh bên những gói quà Giáng Sinh chất cao, cao ngất. Tạ ơn cho những đêm Giao Thừa im lìm trên vùng đất mới với không pháo đỏ hồng, không quần áo mới. Tạ ơn cho những đêm Trung Thu trăng tròn rực rỡ, không đèn con thỏ, không đèn con cá, không đèn kéo quân, cả nhà ngồi sau vườn ngắm trăng với trà ướp sen, trà hoa lài, và với bánh nướng, bánh dẻo.
Tạ ơn cho những buổi kinh tối, cả gia đình quây quần đọc kinh Mân Côi. Tạ ơn cho những con thuyền, những chuyến bay đã mang gia đình tới đất mới, trời mới. Tạ ơn cho những lần thất nghiệp đi ra đi vào chẳng biết làm chi khác hơn ngoài luyện chưởng. Tạ ơn cho bầu không khí lành lạnh mát dịu của một ngày cuối tháng Mười Một. Tạ ơn cho Mùa Vọng, cho Lễ Giáng Sinh. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bay thơm lừng nguyên cả một khu phố có người Hoa Kỳ gốc Văn Lang quây quần xum họp. Tạ ơn cho Bún Bò Huế, Bún Vịt Sáo Măng, Bún Mọc, Cháo Gà, Cháo Vịt, Cháo Lòng Heo và Phở. Tạ ơn cho Bánh Cuốn, Bánh Bèo, Bánh Đúc, Bánh Phồng Tôm. Có rất nhiều điều để Tạ Ơn. Có muốn kể ra, kể ra cũng không hết.
Tạ ơn cho một ngày Lễ Tạ Ơn, một ngày người thân nhớ tới người thân, một ngày gia đình quây quần xum họp tạ ơn trời cao.
Tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ông Trời cho một năm vừa trôi qua, trôi qua trong hạnh phúc, trôi qua trong thanh bình, trôi qua trong an lạc, trôi qua trong hồng ân.
LM Nguyễn Trung Tây, SVD

Friday, June 29, 2007

Hai vì sao sáng: Phêrô và Phaolô

Bài ca nhập lễ vang lên hùng tráng trong ngày Lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô:
Hai vì sao sáng chói, lấp lánh trên bầu trời, ngời sáng đêm trường, rực rỡ soi đường sưởi ấm yêu thương. Hai tình yêu chiến thắng, ngất ngây trong cuộc đời, từ trái tim nồng dòng máu anh hùng ngời sáng muôn trùng.
Phêrô, Phaolô hai vì sao sáng ngời chiếu toả ánh sáng Chúa Kitô cho nhân loại.
Hai Thánh Tông đồ là hai con người xuất thân khác nhau, tính cách khác nhau nhưng cùng một niềm tin, cùng một sứ mạng và cùng một vinh quang được đội triều thiên vinh hiển để trở thành hai vì sao sáng cho Giáo hội.
Còn nhớ hôm nào người ba lần chối Giêsu. Còn nhớ ngày nào người bắt Chúa trong căm thù. Lời ca ngắn đúc kết phần một trong cuộc đời hai Ngài : chối Thầy, bắt Thầy. Nhưng cuộc đời phần hai đã viết nên những trang hào hùng oanh liệt. Nhờ tình yêu Chúa dẫn lối, hai Ngài cầm đuốc Tông đồ rao truyền Tin mừng Chúa Giêsu Kitô cho thế giới.
Đọc lại cuộc đời của hai Thánh Tông đồ để nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.
1. Thánh Phêrô
Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi. Gồm lại những sôi nổi, ta có thể chia đời ông ra làm hai : cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy; phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Roma.
Trong cuộc đời phần một của Phêrô, ông đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.Cuối đời của Chúa,Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14,66-72)
Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô, ta thấy mãnh đời của ông có nét chân dung thế này :Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.
- Mắng lần đầu tiên : Quân yếu tin ( Mt 14,31)
- Lần thứ hai : Ngu tối ( Mt 15,16)
- Lần thứ ba : Satan ( Mc 8,33)
Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy 3 lần. Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường chạy trốn.Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông oà khóc nức nở như một đứa bé với dòng lệ sám hối. Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mảnh, giữa trọn vẹn và dang dỡ, giữa xa và gần, giữa trời và đất. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần một của người môn đệ này vẫn có một tâm hồn chân thành.
Phần hai cuộc đời ông là một thiên anh hùng ca.Thiên anh hùng ca được mở đầu bằng những lời chứng của Gioan(Ga 21,2-3). Lời chứng nói về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria, rồi đưa đời ông từ đếm đen mờ mịt ấy về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.
Sứ mạng theo Đức Kitrô khởi đầu từ đây khi bảy anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì. Đức Giêsu Phục sinh đến với họ ban cho họ mẻ cá lạ lùng.Chính Đấng Phục sinh đã hỏi Ông : Phêrô, con có yêu mến thầy không ? Phêrô đáp : Thưa Thầy,Thầy biềt rõ mọi sự, thầy biết con yêu mên Thầy. Sau khi Phêrô trả lời câu hỏi ấy với tất cả chọn lựa cân nhắc, Chúa nói với ông rằng : Thầy bảo cho anh biết lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tuỳ ý.Nhưng khi đã về già,anh đã phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn. Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là : Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào.Thế rồi Chúa bảo ông : hãy theo Thầy. Chỉ chờ đợi lời mời gọi này, Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.Từ đây trên tảng đá này Thầy xây Giáo hội của Thầy, cửa hoả ngục sẽ không thắng được.Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.
2. Thánh Phaolô
Đọc Công vụ Tông tồ từ chương 8 trở đi, chúng ta bắt gặp một Saolô, ở Tac-xô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Ga-ma-li-ên ở Giê-ru-sa-lem. Cuộc đời phần một của Phaolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Tê-pha-nô và trên đường Đa-mát truy lùng các Kitô hữu.
Được ơn trở lại trên đường Đa-Mat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô,Tông Đồ dân ngoại. Cuộc đời phần hai của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca.
Sách Công vụ tông đồ kể lại : trên đường Đa-mat, Phaolô rong ruổi trên yên ngựa hăng say truy bắt các Kitô hữu thì thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông. Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó.Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô.Từ đó trở đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể.
Khi đã biết Chúa Kitô thì “những gì xưa kia tôi cho là có lợi,thì nay,vì Đức Kitô,tôi cho là thiệt thòi.Hơn nữa tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi,so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa của tôi.Vì Ngài, tôi đành mất hết,và tôi coi tất cả như đồ bỏ,để được Đức kitô và được kết hợp với Người.Được như vậy,không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại,nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu( Pl 3,7-9). Từ đó trở đi Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất, sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người :” Vì anh em,phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô,thì đã được mặc lấy Đức Kitô: không còn Do thái hay Hy lạp;không còn nô lệ hay tự do;không còn nam hay nữ;vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu (Gal 3,27-28).Vì Đức Kitô là “tất cả mọi sự và trong mọi người” ( Col 3,11). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô.Các mối phúc thật được kết tinh nơi cuộc đời Phaolô. Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cor 9,3-18; 2Cor11,8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô. Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những”… lao tù đòn vọt,bao lần suýt chết, năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi “phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố,trong sa mạc, ngoài biển khơi,nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng ( 2 Cor 11 23-27). Phaolô ra vào tù thường xuyên, có lần Ngài viết từ ngục thất cho Ti-mô-thê, người môn đệ, có khi không khỏi nao núng:” anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta,cũng đừng hổ thẹn vì tôi, là kẻ bị tù vì Ngài”. Phaolô không hổ thẹn” vì tôi biết tôi đã tin vào ai …” (2 Tim 1,8-12). Vì Đức Kitô “tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi,nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” (2Tim 2,9). Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2 Cor 12,9). Không gì có thể làm nao núng lòng tin mãnh liệt ấy” chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp; hoang mang nhưng không tuyêt vọng; bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt” (2cor 4,8-9)
Vị Tông đồ dân ngoại đã nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức ”Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1Cor 5,14). Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài ” tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”( Gal 2,20).
Vì Đức Kitô và vì Tin mừng thánh nhân đã sống và chết cho sứ mạng. Cuộc sống buôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn ”Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ, đói khát,trần truồng, nguy hiểm,gươm giáo?…
Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ ( Rm 8,35-39).
3. Phêrô và Phaolô, tượng đài hiệp nhất.
Giáo hội mừng kính hai thánh Tông đồ, hai cột trụ Giáo hội cùng chung một ngày. Hai con ngưòi khác nhau từ cá tính đến thân thế nhưng cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô, cùng chung một niềm tin vào Chúa Kitô, chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó và cuối đời cùng chịu tử đạo vì Chúa Kitô tại Roma. Cùng chia sẽ một niềm tin, cùng thi hành một sứ mạng, Chúa Kitô đã đã đưa hai Ngài đến một cùng đích, một vinh quang đội triều thiên khải hoàn. Hai con người khác biệt ấy lại có những điểm tương đồng lạ lùng. Chúa Kitô đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người.
Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nổ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô, hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô đã nên hai vì sao sáng ngời, trở nên nền tảng hiệp nhất. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An (Theo Việt Catholic News)

Sunday, June 24, 2007

Sinh Nhật thánh Gioan Tẩy Giả (Luke 1:57-66,80)

Bài Đọc I: Is 49:1-6 II: Cv 13:22-26
Phúc Âm Luca 1:57-66,80
57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Êlisabét sinh hạ một con trai.58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Dacaria mà đặt cho em.60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: "Không, phải đặt tên cháu là Gioan".61 Họ bảo bà: "Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả".62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì.63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: "Tên cháu là Gioan". Ai nấy đều bỡ ngỡ.64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa.65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giuđê.66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: "Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đâỵ" Và quả thật có bàn tay Chúa phù hộ em. 80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ítraen.
Chi Tiết Hay
Trong năm phụng vụ, Giáo Hội chỉ mừng sinh nhật của ba người: Đức Giêsu (25 tháng 12), thánh Gioan Tẩy Giả (24 tháng 6) và Đức Trinh Nữ Maria (8 tháng 9)
(c 59) Cha mẹ của Gioan cho con chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám theo luật Lêvi 12:3.
(c 60) "Tên cháu là Gioan". Theo tiếng Do Thái "Yehohanan" hoặc "Yohanan" nghĩa là "Giavê nhân từ". Tương tự như Đức Giêsu (Mt 1:21), Gioan Tẩy Giả cũng được đặt tên do Thiên sứ Gabriel báo cho cha mẹ. (Lk 1:13)
(c 64) miệng mở ... Suốt thời gian Isave mang thai và sinh con, Dacaria hoàn toàn câm. Lời đầu tiên ông nói được là để ca ngợi Chúa.
(c 66) Có những điểm tương đồng khi Luca giới thiệu Gioan và Đức Kitộ Cả hai cùng được sinh ra do sự can thiệp của Thiên Chúa. Mỗi người có một sứ vụ riêng để thi hành
Một Điểm Chính: Gioan là dấu chỉ "Giavê nhân từ". Thiên Chúa nhân từ khi ban cho ông bà Dacaria một người con. Thiên Chúa còn nhân từ hơn nữa khi ban chính Con Một của mình cứu chuộc chúng ta.
Suy Niệm
Hãy nhớ lại một lần trong đời bạn đã mạnh dạn mở miệng ra, như Dacaria, để ca ngợi Thiên Chúa.
"Bàn tay Chúa" thể hiện qua cuộc đời Gioan thế nàỏ và "Bàn tay Chúa" cũng đã thể hiện qua cuộc sống của tôi thế nào?
Tôi có sống như một "dấu chỉ của Thiên Chúa nhân từ" cho anh chị em chăng?
---------------------------------------------------------
Solemnity of the Nativity of St. John the Baptist
Reading I: Is 49:1-6 II: Acts 13:22-26
Gospel Luke 1:57-66,80
57 When the time arrived for Elizabeth to have her child she gave birth to a son. 58 Her neighbors and relatives heard that the Lord had shown his great mercy toward her, and they rejoiced with her. 59 When they came on the eighth day to circumcise the child, they were going to call him Zechariah after his father, 60 but his mother said in reply, "No. He will be called John." 61 But they answered her, "There is no one among your relatives who has this name." 62 So they made signs, asking his father what he wished him to be called. 63 He asked for a tablet and wrote, "John is his name," and all were amazed. 64 Immediately his mouth was opened, his tongue freed, and he spoke blessing God. 65 Then fear came upon all their neighbors, and all these matters were discussed throughout the hill country of Judea. 66 All who heard these things took them to heart, saying, "What, then, will this child be?" For surely the hand of the Lord was with him. 80 The child grew and became strong in spirit, and he was in the desert until the day of his manifestation to Israel.
Interesting Details
Liturgical note: During the liturgical year, the Church celebrates only three birthdays celebrated in a liturgical year: that of Jesus (Dec 25), of John the Baptist (June 24), and of the Blessed Virgin Mary (Sept 8).
(v. 59) On the eighth day: The parents of John have him circumcise according to the regulation of the Laws in Lev 12:3.
(v. 60) He will be called John: In Hebrew, "Yehohanan" or "Yohanan" means "Yahweh is gracious." Like Jesus (Mt 1:21), the name of John was given to his parents by the angel Gabriel before he was born (Lk 1:13).
(v. 64) His mouth was opened, his tongue is freed: During Elizabeth's pregnancy and childbirth, Zechariah was silent the entire time. The first word he could utter was praising God.
(v. 66) And the hand of the Lord is with him: Luke presents John as a parallel to Jesus. Both were born by God's intervention; both have a respective mission to fulfill.
One Main Point: The Lord is gracious in granting Zechariah a son, and most gracious in sending us His Son to bring "salvation to the ends of the earth".
Reflections
Describe a time when you like Zachariah, took a step of faith and beginning speaking, praising God.
How was "the hand of the Lord" seen in John's life? In your life?

Saturday, June 23, 2007

SIÊU SAO SA MẠC (Lc 1:57-66.80)

Trong các lãnh vực điện ảnh, nghệ thuật, thương mại v.v., giới trẻ đang tôn thờ các siêu sao. Siêu sao có thể là động lực giúp giới trẻ vươn tới. Nhưng siêu sao cũng có thể tạo nên những khủng hoảng trong xã hội và gia đình hôm nay.
Ðã đến lúc phải về tận nguồn để tìm một siêu sao đích thực, có sức cải biến xã hội và ảnh hưởng tốt đến cuộc sống của giới trẻ hôm nay.
Siêu sao đó chính là thánh Gioan Tẩy giả. Nếu là một vị thánh tầm thường, chắc chắn thánh Gioan đã không chiếm được ngày lễ Chúa Nhật trong năm Phụng vụ. Bởi thế, cần dành ít phút để xem thân thế, sự nghiệp và sứ điệp siêu sao Gioan gởi thời đại chúng ta. Sứ điệp ấy không phải chỉ qua lời giảng, nhưng nằm ngay trong lối sống, con người và những giá trị cuộc đời Gioan, một mẫu gương tuyệt vời cho Kitô hữu.
NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Hôm đó là một ngày rộn rã tiếng cười. Từ nhà trong tới nhà ngoài, gia đình Giacaria tất bật đón tiếp mọi thân hữu khắp nơi đến chia vui. Niềm hân hoan lên tới tột độ, vì niềm vui đến với gia đình ông thật bất ngờ và quá lớn lao. Chính vì thế, mọi người tuốn cả về đây. Không thể diễn tả được tất cả nỗi kinh ngạc của mỗi người khi thấy những điềm lạ trong ngày Gioan sinh ra. Trong ngày vui lớn lao như mở hội đó, chắc phải có mặt Ðức Maria, Thân Mẫu Ðức Giêsu.
Ngày Gioan sinh ra làm cho mọi người biết ngày Ðức Giêsu ngự đến. Tin Mừng Luca đã cố tình song chiếu việc Gioan và Ðức Giêsu sinh ra. Người phụ nữ hiếm muộn và trinh nữ đều đòi phải có Thiên Chúa can thiệp mới có thể sinh con. Thiên sứ Gabrien hiện ra loan báo “tin mừng” cho ông Giacaria về người con ông sẽ sinh ra. Một thiên thần đã loan báo cho Ðức Maria về việc sinh một con trai. Cả hai đều kèm theo những lời ngôn sứ tiên báo về danh hiệu và sứ mạng của các con trẻ. Cả Ðức Maria và ông Giacaria đều thắc mắc làm sao thực hiện lời truyền tin đó lúc chưa kết hôn và trong khi già yếu. Nhưng tất cả đã xảy ra ngoài dự tính của mọi người để lịch sử Dân Chúa được hoàn thành tốt đẹp.
Nếu không có một vai trò cực kỳ quan trọng trong lịch sử Dân Chúa, ngày sinh của Gioan Tẩy giả đã không được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng. Sau khi sinh ra, Gioan Tẩy Giả cần được sát nhập vào dân Chúa. Lễ Cắt Bì làm cho giấc mơ đó thành hiện thực. Ðó là dấu chỉ giao ước (St 17:1-12). Khi trình bày ngày lễ cắt bì cho Gioan Tẩy Giả, Luca cho thấy muốn đóng một vai trò quan trọng trong thời kỳ khai sinh Kitô giáo, Gioan phải là thành phần hoàn toàn thuộc về dân Israel. Nếu không, Gioan không thể nắm vai trò gì trong lịch sử Dân Chúa.
Nhưng đó chỉ là thủ tục để chuẩn bị cho Gioan trở thành tiền hô của Ðấng Cứu thế. Bước đường chuẩn bị còn dài và cam go hơn nhiều. Nếu việc đặt tên cho Gioan đã gây kinh ngạc cho mọi người thân thuộc, thì phải nói sao khi con người đó “ra mắt dân Israel” (Lc 1:80) để kêu gọi toàn dân sám hối đón nhận Nước Thiên Chúa ? Hàng chục năm chôn mình trong hoang địa, ông đã làm gì ? Sống xa mọi ồn ào và giao dịch, chắc ông phải nghe tiếng Chúa rõ hơn mọi người. Chính vì thế, ông mới nhìn thấy rõ dung nhan của Ðấng Thiên Sai và mới có đủ năng lực làm chứng cho Chúa. Ông trở thành vị Tiền Hô cho Ðấng Cứu thế.
SỨ MỆNH TRỌNG ÐẠI
Ðóng vai ngôn sứ đã là khó. Còn hơn một ngôn sứ, Gioan Tẩy giả là vị Tiền Hô cho Ðấng Cứu Thế. “Chúa Giêsu nhìn nhận rằng nơi bản thân ông cũng như trong sứ điệp của ông, là tất cả tinh hoa của Cựu Ước.” Chính vì thế, ông có đủ tư cách để giới thiệu Chúa Giêsu cho muôn dân : “Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xó bỏ tội trần gian.” (Ga 1:29.36) Ðó là lời chứng cao cả nhất phát xuất từ một tâm hồn khiêm cung sâu thẳm nhất. Phải có bản lãnh cao cường lắm mới có thể làm chứng về Chúa một cách quyết liệt như vậy. Nhờ những năm thinh lặng trong hoang địa, ông mới đón nhận mạc khải và sứ mệnh Tiền Hô cao cả đó.
Sứ mệnh đó rất cam go. Thật vậy, giữa lúc danh vọng lên cao tột độ, phải thắng vượt chính mình, ông mới có thể can đảm phủ nhận những vinh hoa bao quanh. Thời ấy ai cũng coi ông là nhân vật quan trọng nhất. Các môn đệ càng cố dành giựt và hoạt động để tôn vinh ông như Thiên Sai. Nhưng ông biết rõ mình là ai. Ông chấp nhận. Ông biết mình không phải là Thiên Sai muôn dân trông đợi (x. Cv 13:25). Ông biết mình phải nhường bước cho Chúa Cứu thế, dù ông đã lên tới tột đỉnh vinh quang, trong khi chưa ai biết Ðức Giêsu là ai. Có ngôn sứ nào có đủ khiêm tốn nói được như ông : “Tôi không đáng cởi dép cho Người.” (Cv 13:25) Lời thú nhận này đã đẩy ông lên tới địa vị cao cả hơn tất cả phàm nhân, nhưng đồng thời cũng đưa Ðức Giêsu ra ánh sáng.
Tuy thế, ông không phủ nhận đến biến mình ra hư không. Trái lại, ông nhìn nhận mình là một tiếng kêu trong hoang địa (“Hãy dọn đường cho Chúa đến !”), tiền hô của Ðấng Thiên Sai, tôi tớ Chúa, ánh sáng cho muôn dân. Hoàn thành được những sứ mệnh đó, ông có thể an tâm vì đã đóng xong vai trò của mình trong lịch sử Dân Chúa. Tất cả vinh quang đích thực của ông đều bắt nguồn từ những vai trò đó.
Giả sử Gioan nghe lời xúi bẩy của các môn đệ và xu hướng quần chúng, chuyện gì sẽ xảy ra ? Chắc chắn ông sẽ đánh mất luôn căn tính của mình và cả những vinh quang đích thực phát xuất từ Thiên Chúa. Ơn gọi và sứ mệnh cũng tiêu tan. Các môn đệ không khiêm tốn sâu thẳm, nên không thể thấy sự thật như ông. Ðây là một giá trị quan trọng nhất và ảnh hưởng lớn nhất tới sự lựa chọn và quyết định của ông. Sự thật phát xuất từ Lời Chúa, giúp ông đối đầu với nếp sống vô đạo. Sự thật giúp ông nhận ra Chúa là trung tâm cuộc sống : “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.” Nếu không có ánh sáng của sự thật, ông không thể chỉ dẫn dân chúng con đường sám hối. Ông kêu gọi mọi người canh tân cuộc sống và hoán cải nội tâm.
Sự thật giải thoát ông khỏi cái tôi, một trở ngại lớn nhất trên con đường làm chứng. Sống trong sự thật, ông được giải thoát cả trong tâm hồn lẫn ngoài thể xác. Kết quả là một lối sống rất đơn giản và khắc khổ. Mục đích nhằm giúp ông rao giảng, gặp gỡ và ảnh hưởng đến quần chúng dễ dàng hơn. Ðó là lý do tại sao mọi người đều tuốn đến với ông. Cuộc sống hàng ngày luôn theo một mẫu mực khác biệt đến đối kháng với kiểu sống và văn hóa thời đại. Bằng chứng, ông đã phản kháng lối sống sa đọa của vua Hêrôđê, điểm mặt những con mãng xà đang núp bóng trong các tổ chức đạo đời và nhất quyết không chiều theo thị hiếu nhất thời của quần chúng. Cuối cùng, ông đã tử đạo vì sự thật để nêu gương trung thành cho muôn thế hệ. Làm sao ông có một nghị lực lớn lao như thế?
TỪ HOANG ÐỊA ÐẾN ÐÔ HỘI
Câu trả lời nằm trong thời gian ở hoang địa. Thời gian thinh lặng đầy ý nghĩa và hữu ích. Không phải thinh lặng nào cũng có ý nghĩa như nhau. Có những thinh lặng hoàn toàn trống rỗng. Chỉ có sự thinh lặng tràn ngập ân sủng và chân lý mới thực sự có lợi ích mà thôi. Ân sủng và chân lý hoàn toàn tùy thuộc vào việc lắng nghe Lời Chúa. Không biết lắng nghe, không thể sống trong thinh lặng. Không biết thinh lặng, không thể lắng nghe.
Cũng như Gioan Tẩy giả, chúng ta phải trình bày và sống những giá trị hòa nhập với Chân lý. Giá trị văn hóa ngày nay giả tạo, sai lầm và do đó trống rỗng. Ngụp lặn trong văn hóa trống rỗng đó, nhiều bạn trẻ hôm nay không tìm được lối thoát. Bởi thế, họ hoàn toàn thất vọng và buông thả. Còn gì lãng phí hơn ? Cuộc sống đáng lẽ có ý nghĩa hơn nhiều nếu nghe theo tiếng gọi lương tâm hay dõi theo ánh sáng Thánh Linh để nhận ra mình là ai và có thể làm gì cho chính mình và tha nhân. Mỗi người là một con người được Thiên Chúa yêu mến và ban tặng sự sống ngay từ khi mới thụ thai. Mỗi người đều có phẩm vị và giá trị vô song, không phải vì chúng ta đã làm gì, nhưng vì chúng ta là ai. Con người được thánh hiến trong bí tích Thanh Tẩy, được chia sẻ sự sống thần linh của Thiên Chúa và được gọi làm môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Dù có những điểm mạnh và điểm yếu, mỗi người đều được mời gọi sám hối và trở nên thánh mỗi ngày. Như Gioan Tẩy giả, mỗi người chúng ta phải sống trung thực với mình. Ðiều này thật khác với văn hóa đầy hiếu động và tự lừa dối mình hôm nay.
Noi gương Gioan Tẩy giả, chúng ta phải tạo một nếp sống sao cho mọi người dễ lắng nghe, gặp gỡ, và chấp nhận Tin Mừng. Cuộc sống như thế khác hẳn với nền văn hóa tập trung vào cái tôi và lối sống bất chính.
Ðã đến lúc chúng ta phải thực sự sống làm Kitô hữu trong toàn thể cuộc sống, chứ không chỉ trong phụng vụ Chúa nhật mà thôi. Chúng ta được kêu gọi dùng hành động hơn lời nói để công bố “Ðức Giêsu là Chúa.” Ðó là điều ông Gioan Tẩy giả đã làm. Chúng ta cũng cố gắng làm cho Chúa Kitô sống lại trong cuộc đời chúng ta.
Dù có im lặng lâu năm trên hoang địa, Gioan Tẩy giả vẫn lên tiếng khi gặp cảnh bất công xã hội và suy đồi luân lý. Nhìn quanh một vòng xã hội hôm nay, nhiều ngôn sứ cũng đang bước theo con đường làm chứng của Gioan Tẩy Giả. Ví dụ, nhân kỷ niệm 10 năm ngày hội nhập lãnh thổ Trung quốc, ÐHY Giuse Trần Nhật Quân, Giám Mục Hồng Kông, đã kêu gọi dân chúng tại đây tham gia cuộc biểu tình đòi dân chủ khổng lồ được tổ chức vào ngày 1/7 tới đây. Dù đang sống trong chế độ Cộng sản, ÐHY vẫn mạnh mẽ tố cáo tình trạng của những người yếu thế và về nhiều mặt, những người nghèo tại Hồng Kông còn tối tăm hơn trước khi tái hội nhập với Trung quốc. Chính vì thế, người Công Giáo cần phải tham gia cuộc biểu tình vào ngày 1/7 tới đây để bày tỏ nguyện vọng tổng tuyển cử.
Mặt khác, “hôm 18/6/2007, Thư ký Bộ Quan Hệ Với Các Quốc Gia của Tòa Thánh, Đức Ông Pietro Parolin, cho biết trong cuộc họp diễn ra tuần qua, Tòa Thánh đã nêu vấn đề cha Tađêô Nguyễn Văn Lý thuộc tổng giáo phận Huế với phía Việt Nam. Tòa Thánh bầy tỏ sự bất bình về bản án tù 8 năm với những sự kiện bất thường trong tiến trình xét xử kéo dài không tới một ngày.”
Thật là can đảm và chính xác !
Muốn noi theo những mẫu gương can đảm đó, cần phải vào hoang địa với Gioan Tẩy giả. Vào hoang địa, chúng ta mới có thể tìm thấy Chúa là trung tâm cuộc đời và lối thoát cho những bế tắc hôm nay.
Lạy Chúa, xin cho con biết lắng nghe Lời Chúa và can đảm hành động cho mọi người biết đến Chúa và môi trường xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Amen.
Đỗ Lực (Theo SIMONHOADALAT)

Monday, March 26, 2007

Trong cung lòng Đức Mẹ Maria.

Ngoài bờ biển, nơi bờ sông thường có những vỏ con sò nằm rải rác lẫn trong sỏi cát. Vỏ sò cứng, có mầu trắng đục ngà ngà.
Cũng có nhiều nơi người ta kết vỏ sò thành dây trang trí đeo cổ. Vỏ sò là Logo của nơi hành hương Thánh Giacôbê bên Santiago de Compostela bên Tây ban nha.
Xưa nay người ta thường truyền tụng xuống biển mò bắt sò về cạy ra lấy ngọc trai bên trong. Như thế nhìn con sò, nhìn vỏ sò ta liên tưởng ngay tới vật ngọc trai qúy giá đã thành hình trong lòng con sò.
Viên ngọc trai thành như thế nào trong lòng con sò?
Thời xa xưa người ta tin rằng, con sò tiếp nhận cưu mang ngọc trai do tia chớp xuyên vào trong con sò.
Thánh Clêmentê thành Alịchsơn (+215) đã dùng hình ảnh này nói về cung lòng đức mẹ Maria: “Chúa Giêsu như viên ngọc quý đã được sinh ra từ cung lòng đức mẹ Maria đồng trinh, do làn sáng tia chớp từ Thiên Chúa.”
Ngày nay, người ta biết rõ hơn về ngọc trai thành hình trong con sò như thế nào: Một hạt cát nhỏ theo sóng nước tràn vào miệng con sò. Và rồi con sò nuốt hạt cát đó vào bụng. Một quá trình làm đau đớn do hạt cát gây ra trong lòng con sò.
Nhả ra không được, nên con sò tiết ra một chất từ thân thể nó bao bọc hạt cát, để những mong hạt cát không còn sắc bén làm đau đớn, gây lợn cợn trong thân thể nó nữa. Từng lớp thịt sò bao phủ hạt cát, kéo dài hằng chục năm. Hạt cát dần dà không còn là hạt cát ngày xưa nữa. Nhưng đã to dần biến thành viên ngọc trai do thân thể con sò bao phủ trong lòng vỏ sò.
Cũng tương tự như vậy, thiếu nữ Maria đã bối rối, lo âu sợ hãi trước một quyết định quan trọng. Sau khi bày tỏ thắc mắc của mình với Thiên Thần, và được giải đáp thỏa đáng, Maria đã nói lời ưng thuận chấp nhận ý Chúa muốn thực hiện nơi mình. Chỉ trong sự tin tưởng vào Chúa, Maria đã bằng lòng nhận cưu mang Chúa Giêsu trong cung lòng mình. Và từ đó chương trình cứu chuộc con người khỏi hình phạt tội lỗi thành hiện thực.
Trong Phúc âm (Mt 13,45) nước trời được ví như viên ngọc trai quý giá. Để tìm được viên ngọc trai quý đó, người ta phải trải qua một quãng thời gian dài, phải đi qua những ngõ đường hẹp nhỏ (Mt 7,14).
Trong đời sống làm người, để có được ngọc trai qúy gía, ai cũng phải trải qua những giai đoạn chiến đấu vất vả dài đằng đẵng. Ngọc trai qúy giá đó là một tâm hồn có đời sống kính trọng Đấng dựng nên mình, sống tình liên đới với con người trong xã hội, sống làm đầy đủ bổn phận là một người cha gia đình, một người mẹ đàn con, một người học sinh, một linh mục tu sĩ…
Những hạt trong chuỗi kinh mân côi giúp người cầu nguyện xoay quanh đời sống Chúa Giêsu. Những lời kinh mân côi giúp ta can đảm theo lốt chân Chúa Giêsu đã sống trải qua. Chỉ nơi cổng thành Giêrusalem trên trời mới chấm dứt cuộc hành trình đời sống trên trần gian. Những cổng thành thành này được xây bằng những hạt ngọc trai quý giá (Kh 21,21).
Nơi cung lòng đức mẹ Maria viên ngọc trai quý giá Giêsu đã hình thành làm người ở giữa trần gian.
Lm. Nguyễn ngọc Long (Theo Sống Đức Tin )

Monday, March 19, 2007

Thánh Giuse và Ba Con Đường

Thánh Giuse là con người thinh lặng. Nhưng Ngài là thầy dạy nhiều nhân đức.
Năm nay, mừng lễ Ngài tại Việt Nam trong tình hình mới, tôi cùng với những kẻ mến Ngài cùng nhau cầu nguyện và suy nghĩ. Chúng tôi khẩn khoản xin Ngài chỉ bảo cho biết điều gì, mà Ngài thấy là cần để ý nhất cho cuộc sống đạo hôm nay.
Tôi gẫm suy và giờ đây tôi mạo muội chia sẻ.
Tôi thấy cuộc sống thánh Giuse được chi phối bởi ba con đường.
Cuộc sống của thánh Giuse với ba con đường
1/ Con đường sinh sống của thánh Giuse
Đọc Phúc Âm, chúng ta nhận ra phần nào hình ảnh sinh sống của thánh Giuse.
Ngài đã sinh sống đúng như một người lao động bình thường. Ngài kiếm sống một cách cần cù với nghề thợ mộc. Ngài hoà nhã với xóm làng. Ngài giữ luật Nước đi về Belem để đăng ký. Theo lệnh Chúa, Ngài mau lẹ đưa gia đình sang Ai Cập để lánh nạn. Cũng theo lệnh Chúa, Ngài đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trở về Galilê, định cư tại thành Nadarét. Ở đó Ngài lo cho gia đình một cuộc sống tương đối đầy đủ. Ngài được mọi người đồng hương coi là một người công chính.
Như vậy, con đường sinh sống của thánh Giuse kể là ổn định, bảo đảm được nhân cách cho tất cả gia đình.
2/ Con đường giữ đạo của thánh Giuse
Thánh Giuse đã thực hiện mọi điều luật đạo bấy giờ truyền dạy. Ngài để Chúa Hài Đồng chịu phép cắt bì, đúng ngày, đúng cách. Ngài đem Chúa Hài Đồng lên Giêrusalem để tiến dâng lên Thiên Chúa. Hằng năm Ngài cùng với Đức Mẹ và Chúa Giêsu trẩy hội đến đền Giêrusalem mừng lễ Vượt qua.
Con đường giữ đạo của thánh Giuse được coi là đúng đắn, trọn vẹn theo luật đạo.
Ngài kính trọng các hình thức luật đạo. Trong mọi hình thức đó, Ngài dâng lên Chúa tất cả tấm lòng tin cậy mến, tôn thờ tạ ơn Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân.
3/ Con đường thiêng liêng của thánh Giuse
Tôi gọi con đường thiêng liêng của thánh Giuse là sự Ngài tin tuyệt đối Chúa Giêsu chính là con đường cứu độ nhân loại. Niềm tin này đưa Ngài vào sự sống mới. Ngài gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha. Sự sống mới không ngừng thôi thúc Ngài từ bỏ mình, sẵn sàng chịu mọi sự khốn khó, để cộng tác vào chương trình cứu thế của Chúa Giêsu.
Con đường thiêng liêng này rất âm thầm, nhưng biến đổi toàn diện đời Ngài. Ngài sống cho ơn gọi đó. Hạnh phúc của Ngài là được đi trên con đường thiêng liêng cao cả ấy. Ngài biết con đường thiêng liêng này đòi Ngài phải tỉnh thức lắng nghe ý Chúa, khiêm tốn thực thi ý Chúa trong mọi sự, can đảm bỏ ý riêng. Nhưng nhờ ơn Chúa, Ngài đã trung thành với con đường này từng giây từng phút suốt trọn đời Ngài.
Cuộc sống thánh Giuse là đã đi theo ba con đường trên đây một cách hài hoà, với nhiều tỉnh thức và khôn ngoan, nhất là với đức ái quên mình.
Bây giờ, chúng ta thử nhìn vào chính mình và cộng đoàn ta, để xem cuộc sống hiện nay của ta có giống cuộc sống của thánh Giuse không.
Cuộc sống của chúng ta với những con đường
1/ Con đường sinh sống của ta
Ta phải sống. Nên ta lo chọn một con đường để sinh sống, sao cho an cư lạc nghiệp. Nỗi lo đó là chính đáng. Nhưng trên thực tế hôm nay, đang xảy ra nhiều điều đáng ngại. Có những người lười biếng, không phấn đấu làm ăn lương thiện. Lại có những người chạy theo con đường sinh sống với nhiều tham vọng không chính đáng. Được cái này lại muốn thêm cái kia. Ngày đêm bơi lội trong những bận tâm về của cải và danh vọng.
Phong trào hưởng thụ và cạnh tranh kinh tế đang thúc đẩy con người dốc hết sức mình vào hiệu năng vật chất. Xa xỉ kéo theo xa xỉ. Phí phạm đòi thêm phí phạm.
Tham vọng không biên giới. Hưởng thụ không có chỗ dừng. Nhiều điều lừa dối ta. Nhưng lại nói là để phục vụ cuộc sống. Do đó, rất nhiều người không còn để tâm đến việc đạo.
2/ Con đường giữ đạo của ta
Thực ra, phần đông còn giữ đạo. Nhưng biết bao người giữ đạo cho có lệ. An tâm với hình thức. Bỏ nhiều điều căn bản. Nhất là lỗi phạm đức ái một cách ngon lành.
Đáng ngại nhất là người trong đạo bị dụng-cụ-hoá, để cho ma quỷ tự do lôi kéo vào những chương trình đen tối, gây nên gương mù gương xấu.
3/ Con đường thiêng liêng của ta
Nếu tôi không lầm, thì con đường thiêng liêng hiện nay đang bị nhiều cộng đoàn coi rất nhẹ. Con đường thiêng liêng, mà thánh Giuse đã tha thiết trung thành là sống mật thiết với Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Con đường ấy trước đây đã được nhiều giáo dân, nhất là nhiều tu sĩ giáo sĩ nêu gương. Nhưng nay mẫu gương đời sống khó nghèo, chiêm niệm, cầu nguyện, hy sinh, khổ hạnh đang có nguy cơ trở nên khan hiếm.
Hiện nay, cơ sở đạo ta được mở mang hơn. Tổ chức đạo ta được tưng bừng hơn. Nhân sự đạo ta được tăng số hơn. Thiết tưởng, tất cả sẽ tốt hơn, nếu con đường thiêng liêng cũng được phát triển sâu rộng, nhất là nơi những người tu, đặc biệt là nơi các đấng bậc trong đạo.
Phần đông chúng ta tưởng rằng: Vấn đề giải phóng con người tuỳ thuộc ở vấn đề tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ chế xã hội, tự do tín ngưỡng. Thiết nghĩ đó chỉ đúng một phần. Theo tôi, yếu tố quan trọng để cứu độ con người và thế giới vẫn là con đường thiêng liêng. Thánh Kinh dạy như thế. Kinh nghiệm lịch sử minh chứng điều đó. Tại Việt Nam, nhiều nơi đạo coi như đang lên, nhưng thực sự đang xuống, vì bỏ con đường thiêng liêng.
Xin thánh Giuse thương dẫn dắt mỗi người chúng ta đi đúng những con đường mà Chúa muốn, nhất là biết tha thiết với con đường thiêng liêng cứu độ, mà xưa Ngài đã gắn bó.
Xin thánh Giuse chia sẻ đức ái của Ngài một cách đặc biệt cho các gia trưởng, và một cách đặc biệt hơn nữa cho các mục tử tại Việt Nam hôm nay.
+GM JB Bùi Tuần (Vietcatholic News)

Monday, February 05, 2007

LƯƠNG TÂM

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
"Lương tâm không bằng lương tháng": đó là đầu đề một bài báo mới đây đưa tin về giám đốc và trưởng kế toán công ty Xổ Số của tỉnh Ninh Thuận hưởng lương người thì 53 triệu, người kia 44 triệu đồng/ tháng. Dĩ nhiên số tiền lương cao ngất này là do họ tự cho mình, hoàn toàn không có gì tương xứng với công lao khó nhọc của họ đối với công ty -(vả lại có loại giám đốc nào làm ăn "khỏe re" như giám đốc một công ty xổ số!). Ngoài ra, những người này còn cho người nhà mình mở nhiều đại lý vé số cấp I để hưởng lợi nữa. Bài báo không quên lưu ý rằng Ninh Thận là một trong những tỉnh nghèo nhất nước. Thật không tin nổi làm sao có thể có những con người vô đạo đức, vô lương tâm đến mức ấy mà không biết xấu hổ! Nhưng mẩu tin sau đây mới lạ đời lam sao: ban giám hiệu một trường trung học phổ thông ở Cà Mau đã dùng số tiền 22 triệu đồng của học sinh đóng góp mua nước tinh khiết để nhậu!
Trong Thư mục vụ năm 2006 mang tựa đề Sống Đạo Hôm Nay (8-9-2006), các giám mục chúng ta viết: "Trước những thay đổi hiện thời của xã hội làm ảnh hưởng không nhỏ đến cách nghĩ và lối sống của nhiều người, nhất là người trẻ, chúng tôi đề nghị một lộ trình sống đạo khởi đi từ việc đổi mới bản thân. Điểm căn bản trong việc xây dựng con người mới này là làm sao để bản thân mỗi người ý thức và sống đúng phẩm giá của mình; bởi lẽ phẩm giá con người là quà tặng Thiên Chúa ban (...). Ngoài ra, mỗi người cũng cần được huấn luyện để có lương tâm ngay chính. Thật vậy, một trong những điều cấp thiết người công giáo phải nêu gương là tìm hiểu giá trị của lương tâm và thực hành theo tiếng nói lương tâm của mình" (số 5)
Tại sao phải quan tâm cách riêng tới vấn đề lương tâm? Hội đồng Giám mục trả lời: "Trong xã hội hiện nay, đôi khi nhu cầu sinh sống và phát triển đã kéo theo những hệ lụy làm cho lương tâm con người bị sai lệch hoặc bị mất phương hướng" (số 5). Nhận định của các giám mục thật đúng, nhưng có lẽ còn nhẹ nhàng và không muốn đi sâu xa hơn. Trong một bài suy nghĩ thêm như tôi đang cố gắng làm đây, có lẽ phải nói mạnh hơn rằng tình trạng suy thoái lương tâm hay ý thức đạo đức là rất nghiêm trọng. Con người ở đâu và thời nào cũng có kẻ tốt người xấu, nhưng khi cái xấu không những tìm cách lấn át cái tốt mà còn "chương mặt" ra khắp nơi như chuyện bình thường thì vấn đề là vô cùng nghiêm trọng.
Tôi thấy ý thức đạo đức không những méo mó mà hình như không còn nữa trong ba loại biểu hiện phổ biến hiện nay: tham nhũng thối nát, dối trá và thiếu ý thức công dân. Tham nhũng thối nát thường gắn với quyền lực. Cái gì cũng đòi ăn, cái gì cũng ăn được. Đến như tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt, tiền trợ cấp người nghèo khổ cũng ăn chận. Tham nhũng là bệnh của kẻ có chức có quyền, nhưng nó cũng tác động tiêu cực trên người dân, vì như người ta quen nói, cán bộ "có làm khó mới ló đồng tiền", còn nhân dân thì "không bôi trơn làm sao chạy việc?". Đây chỉ nói tới những chuyện nho nhỏ "thường ngày ở huyện" mà thôi. Nhiều khi muốn vào một cơ quan, muốn nhờ chuyển một tờ đơn thôi, cũng phải "biết điều" với anh gác cổng, anh cán bộ nhận văn thư, đơn từ. Không làm không được. Riết rồi quen. Còn dối trá cũng thế, nó tràn lan hầu như trong mọi lãnh vực đời sống xã hội, kể cả nơi "trồng người" là ngành giáo dục đào tạo, như mọi người đều biết. Ở bẩn lâu ngày cũng quen, hơn nữa có khi còn lấy cái bẩn làm sạch, coi cái sạch là bẩn! Nói dối thường xuyên cũng vậy. Trả lời một cuộc phỏng vấn báo Thanh Niên, ông Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội thẳng thắn nói: "Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Nói dối đã trở thành thói quen hằng ngày của xã hội Việt Nam. Thói quen đó lặp đi lặp lại nhiều lần thành 'đạo đức', mà cái 'đạo đức' đó là rất mất đạo đức. Đó là một cái nguy nhưng tôi thấy ít người quan tâm."
Sau cùng, tôi cho rằng ý thức công dân rất kém hiện nay cũng là một biểu hiện của ý thức đạo đức đã cùn mòn. Người ta coi thường công ích, coi thường những qui định liên quan tới lợi ích chung, tới quyền lợi của kẻ khác và trật tự công cọng, tiêu biểu nhất là hiện tượng vô kỷ luật trong giao thông trong các thành phố. Ai cũng dạy con cái phải ngoan ngoãn, chăm chỉ cả khi không có cha mẹ, thầy cô bên cạnh mình, nhưng khi lái xe ngoài đường, ai cũng ngó trước ngó sau, nếu thấy cảnh sát thì tuân hành luật lệ nghiêm túc, nếu không thì mạnh ai nấy chạy bát nháo. Trong xã hội ta, rất nhiều người đã đánh mất lòng tự trọng và không còn biết xấu hổ khi làm điều sai quấy. Đó là một bằng chứng về việc không còn ý thức đạo đức nữa.
Chúng ta đang cố chạy nhanh trên con đường phát triển kinh tế, nhưng rất chậm chạp trong việc xây dựng con người "đạo đức". Đạo đức "làm người" chứ không phải đạo đức chính trị mà thôi. Chính trị nhiều khi có thể ngược với "đạo đức". Nói cho cùng, phát triển tinh thần, phát triển đạo đức còn quan trọng hơn phát triển vật chất, phát triển kinh tế. Nếu ý thức đạo đức mà cứ tụt dốc như thế này thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có ý nghĩa gì, ích lợi gì thực sự cho dân tộc?
Đối với người công giáo, rèn luyện lương tâm và nhất là sống theo lương tâm ngay chính là một bổn phận thường xuyên bất kể ở đâu, hoàn cảnh nào, lúc nào. Vì tiếng nói lương tâm là tiếng nói của Chúa. Tiếng nói đó bảo chúng ta phải yêu mến và làm điều lành lánh điều dữ. Nó còn chỉ cho biết trong từng trường hợp cụ thể, phải làm điều gì và tránh điều gì. Lương tâm là lề luật chính Chúa ghi khắc vào trong trái tim con người, không phải con người tự đặt ra cho mình để rồi có thể muốn theo hay không, muốn duy trì hay loại bỏ tùy ý (x. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng của công đồng Vaticanô II, số 16). Chúng ta nghe theo lương tâm không chỉ vì sợ luật pháp, sợ bị trừng phạt nhưng vì kính sợ và yêu mến Chúa. Lương tâm ngay chính là lương tâm được chi phối bởi cái lề luật được Chúa ghi khắc vào lòng ta, không phải chỉ bởi những quy định tương đối, tạm thời và có thể thay đổi của các tập thể xã hội loài người. Chúa ghi khắc bằng cách nào? Bằng hai cách: qua con đường tạo dựng, vì thế trí khôn tự nhiên có thể khám phá ra (lề luật tự nhiên) và qua con đường mặc khải siêu nhiên mà đức tin đón nhận. Người ta nói: lương tâm là con đẻ của Chúa và là con nuôi của xã hội. Nói "con đẻ" là nói nguồn cội, còn nói "con nuôi" là nói tới vai trò cần thiết của giáo dục trong gia đình và xã hội.
Đối với người Kitô hữu Việt Nam, việc rèn luyện lương tâm và thực hiện lương tâm ngay chính không những là một bổn phận thường xuyên, mà còn là một đòi hỏi của sứ mạng làm chứng cho Chúa trong tình hình xã hội suy thoái về đạo đức hiện nay nữa. Các giám mục dạy: Anh chị em hãy "nêu gương sáng ... ngay chính tại gia đình cũng như giữa nới mình sống" (Thư chung 2006, số 5).

Friday, February 02, 2007

Sự tích ý nghĩa ngày 02.02.

A. Lịch sử
Ngày này trong Hội thánh công giáo là ngày lễ mừng, vẫn quen gọi là lễ Nến hay lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thờ. Tại sao lại có lễ này và gọi như vậy?
Theo luật Maisen trong kinh thánh cựu ước ( Xh 13,11-16; Lv 12,1-8; Is 88,14f;42,6) ghi chép:
1. Trẻ em sơ sinh trong thời han luật định phải mang đến đền thờ dâng hiến cho Thiên Chúa.
2. Một người phụ nữ sau khi sinh con được 40 ngày phải mang vào đền thờ Thiên Chúa lễ vật, để được thanh tẩy. Vì thời đó người ta hiểu là sau khi sinh con, người phụ nữ không còn được thanh sạch. Thanh sạch về thể xác hay tâm hồn? Trong sách luật không nói rõ.
3. Người con đầu lòng là tài sản của Thiên Chúa. Vì thế có tục lệ dâng con và lễ vật cho Thiên Chúa để chuộc. Sau khi hạ sinh Chúa Giêsu được 40 ngày Đức Mẹ và Thánh Giuse cũng làm theo luật đã ghi chép trong đạo thời đó. Nhưng lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thánh theo luật định lại trở nên cuộc gặp gỡ : Hai người đạo đức Ong gìa Simeon và Bà Hanna được hạnh phúc bồng bế haì nhi Giêsu trên tay mình. Qua cuộc gặp gỡ này họ đã nhận ra hài nhi Giêsu là “ ánh sáng cho mọi dân tộc“ ( Lc 2,22-40).
Bên Hội thánh Đông phương lễ này gọi là Lễ gặp Đấng Cứu Thế: Chúa Giêsu, vị Cứu thế vào đền thờ và gặp hai vị đại diện cho thời đạo cũ: Simeon và Hanna. Tục lệ này trở thành lễ mừng kính trong hội thánh bên Giêrusalem từ đầu thế kỷ thứ tư : 40 ngày sau khi Đức Mẹ hạ sinh Chúa Giêsu.
Bên Hội thánh tây phương lễ này là lễ kính Đức Mẹ: Đức Mẹ Maria cũng như bao người phụ nữ khác, sau khi sinh hạ con, mang lễ vật vào đền thờ, để được thanh tẩy như luật định. Bên Roma mừng kính ngày lễ này cũng vào thế kỷ thứ tư trong các thánh đường. Sau này, vào ngày lễ này nến được làm phép và mọi người rước nến cháy sáng trong nhà thờ . Vì thế lễ có tên là Lễ Nến.
Từ năm 1969 lễ ngày mùng Hai tháng Hai không còn thuần ý nghĩa lễ dành kính Đức Mẹ Maria, nhưng được đổi thành lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thờ, 40 ngày sau khi Chúa mở mắt chào đời trong hang đá Belem.
Nếu lễ Chúa giáng sinh được mừng kính ngày 25. 12., ngày lễ dâng Chúa vào đền thờ, sẽ là ngày 02 tháng hai. Nếu lễ giáng sinh được mừng kính vào ngày 06.01., ngày lễ dâng Chúa vào đền thờ sẽ vào ngày 14. tháng Hai.
B. Ý nghĩa ngày lễ mừng.
Tục lệ đạo đức lễ Nến ăn sâu trong cuộc sống người tín hữu. Ỡ nhiều nơi, giáo dân tín hữu mang nến đến nhà thờ để được làm phép trong ngày này. Họ mang nến đã làm phép về thắp lên mỗi khi đọc kinh gia đình, khấn nguyện khi có người ốm đau hoặc trẩy đi xa, trong những dịp vui mừng cưới hỏi hay tang chế.
Lễ mừng này nói lên ý nghĩa cuộc gặp gỡ:
Chúa Giêsu con Thiên Chúa được đưa vào đền thờ, một biểu hiêu trong công trình thiên nhiên. Ngài đi vào thiên nhiên gặp gỡ đời sống con người: tôn giáo và đời sông gặp gỡ nhau.
Vì thế, sau này trong bước đường rao giảng nước Thiên Chúa, Ngài hay dùng những thí dụ cụ thể trong đời sống để cắt nghĩa về nước đó: ơn kêu gọi là con Thiên Chúa và nước Thiên Chúa là quê hưong của mọi người.
Hai thế hệ con người gặp gỡ nhau. Gìa trẻ gặp gỡ nhau. Hai vị trưởng lão Simeon và Hanna gặp gỡ trẻ Giêsu. Cuộc gặp gỡ tình người này là cuộc trao đổi. Thế hệ lớn tuổi trao lại cho thế hệ trẻ kinh nghiệm sống đã thu lượm được, những gía trị đời sống, niềm hy vọng cùng lời chúc lành mong chờ trông đợi của mình. Thế hệ trẻ đón nhận những trối trăn của lớp trưởng thượng trao lại.
Thế hệ lớn tuổi qua lời ông Simeon: Giờ đây lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an. Vì mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu chuộc cho muôn dân“, biểu lộ lối sống biết nhận lãnh và cũng sẵn sàng cho đi trối lại.
Cung cách chuyển giao này gây niềm phấn khởi cho thế trẻ đang lên sẵn sàng nhận lãnh lời trối trăn như bảo vật làm nền tảng cho tương lai đời sống cùng niềm tin đạo giáo.
Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng từ trời cao, được đưa vào đền thờ như lời mời gọi mọi người cùng đến gặp gỡ nhau trong tình khoan dung tha thứ cho nhau và mang đến cho nhau niềm hy vọng.
Lễ dâng Chúa vào đền thờ ngày mùng hai tháng hai hằng năm như lời mời gọi mỗi người đón nhận Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng cho tâm hồn mình. Anh sáng Chúa Giêsu chiếu soi vào đền thờ tâm hồn con người và mang đến niềm vui cùng sự an ủi trong những giờ phút đen tối của cuộc đời.
Lm. Nguyễn ngọc Long (SỐNGĐỨCTIN De)

Thursday, January 25, 2007

THÁNH PHAOLÔ: BIẾN CỐ VÀ THÁNH Ý

Từ biến cố trên đường đi Damas, Ca đoàn đang ôn hát cho Lễ Thánh Phao lô tông đồ trở lại 25-01: “Thánh Ý Chúa, thật nhiệm mầu thay. Thánh Ý Chúa thật nhiệm mầu thay, Một ngày nào Sao lê hung hổ như sói, mà bây giờ, Phaolo, ngoan ngoãn như chiên. Xin thương những con người thế kỷ hôm nay, đang mong chờ một luồng sáng mới. Luồng sáng ấy chiếu trên những người từng bắt bớ Ngài. từng bỏ tù Ngài, Chúa ơi. Những con người chưa tin nơi Ngài, từng xóa tên Ngài, Ngài ơi hãy chiếu luồng sáng mới, luồng sáng của Tình Yêu nồng cháy”, lòng tôi rộn lên những suy tư:
Ngày 25-01, Lễ Thánh Phao lô tông đồ trở lại hay đúng hơn là lễ kỷ niệm việc Chúa kêu gọi Ông Sao lê trở lại làm tông đồ cho Chúa.
Saole là một phần tử hăng say trong nhóm biệt phái, đã từng tham dự cuộc ném đá Stephano, và đang trên đường bách hại những người tin Chúa Kitô. Có thể nghĩ rằng Sao lê đáng bị các tín hữu Chúa Ki tô lên án hơn là được Chúa kêu gọi trở lại, vì Sao lê tiếp tay vào việc tiếp tục đóng đinh Chúa Ki tô, cản trở việc mở rộng Tin Mừng, hành hình những tín hữu tiên khởi… Thế mà biến cố trở lại của con người ấy, Sao lê, lại được Giáo Hội trân trọng nâng lên bậc lễ kính. Thiết tưởng Giáo Hội muốn đề cao một ơn gọi đặc biệt, và tôn vinh quyền năng vô biên của Chúa: “Chúa có thể làm cho loài sỏi đá, trở thành con cái thánh Abraham”, “Với Thiên Chúa, không gì không có thể” (Lc 1,37);,. Và quả thật, Ngài đã biến Sao lê đầy lòng nhiệt thành hăng say cho ngụy tưởng, thành một Phao lô trọn nghĩa tín trung cho Chân Lý. Nhưng thiết nghĩ, việc mời gọi Sao lê trở lại để Chúa dùng Thánh Phao lô cho chương trình Loan Báo Tin Mừng của Ngài, không chỉ hoàn toàn là việc của Thiên Chúa, mà còn có sự đóng góp của chính con người Phao lô: Đó là cuộc sống công chính của Ngài. Khi chưa nhận được ánh sáng thần linh chiếu soi, Ngài vẫn một mực trung thành với Giáo Lý Truyền Thống của Đạo Do Thái. Biến cố trên đường đi Damas là cuộc trùng phùng của Trời và Đất :phút tương phùng của lòng nhân ái, tín trung; giờ giao duyên của nền hòa bình công lý. Lòng thành lớn lên từ đất thấp, công bình của trời cao ngó xuống tận dương gian (Tv 84, 11-12).
Người có đời sống công chính, có lòng khát khao chân lý là người mà thánh kinh gọi là “được nghĩa cùng Chúa”, luôn được Chúa sắp xếp vào chương trình của Chúa; như các tiên tri, như Abraham-nhận lệnh bỏ xứ lên đường (stk 12,1), như Giuse -bị bán sang Ai cập (stk 39,1-6), như Maria-nhận cưu mang Đấng Cứu Thế (Lc 1,38)…và cả mỗi người chúng ta nữa. Thật là một vinh dự được cộng tác vào công cuộc cứu thế của Chúa- cứu chính mình và cứu nhân loại. Mỗi biến cố trên đời đều ẩn chứa một Thánh Ý Thiên Chúa mà điều quan trọng là khám phá cho được Thánh Ý siêu phàm ấy. Sao lê, với lòng chân thành tự bản chất, bị một luồng sáng bao phủ, và nghe tiếng lạ:” Sao lê, sao ngươi bách hại ta?” liền hỏi “Người là ai?” Có tiếng trả lời “Ta là Giêsu mà ngươi đang tìm bắt” và Sao lê đã quy thuận ngay, đã nhập cuộc tìm kiếm Thánh Ý Thiên Chúa ngay: “Lạy Chúa Chúa muốn con làm gì?”
Đến biến cố của mỗi đời người
Hồi còn học Giáo lý về Thánh Ý Thiên Chúa, có câu thuộc lòng rằng: “Ta có thể biết được Thánh Ý của Thiên Chúa qua việc lắng nghe và thực hành lời Chúa, qua tiếng lương tâm và qua các biến cố”. Nhưng thực là khó hiểu và khó áp dụng trong đời sống thiêng liêng, nhất là việc biết được Thánh Ý Thiên Chúa “qua các biến cố”. Rồi thời gian qua đi, lớn lên vào cuộc đời, trải qua bao biến cố thăng trầm trong đời, và có thời gian để gẩm suy lại, dần dần tôi mới hiểu ra được thánh ý Thiên Chúa: Được sinh ra trong một gia đình nầy, Cha Mẹ nầy, không phải Cha Mẹ khác; được giáo dục và cho đi học, đến nơi, hoặc không đến nơi đến chốn; hoàn cảnh gia đình sung túc hay khó khăn nghèo khổ; lập gia đình với người nầy mà không phải người kia; những chuyện vui buồn xảy đến trong đời…tất tất đều mang một thánh ý của Thiên Chúa. Chỉ tiếc là ít khi chúng ta nhận ra ngay Thánh Ý của Ngài để mà đón nhận và chấp nhận. Vì thế, ít lần nói được câu “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”
Sau này tôi mới hiểu ra rằng, người có đức tin trưởng thành là người luôn sẵn sàng đón nhận các biến cố và nhận ra Thánh Ý Chúa cách sớm nhất. Và đức tin trưởng thành là sự tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa thượng trí và toàn ái. Thêm vào đó là có một nhân đức tự nhiên hổ trợ: tính điềm tĩnh. Người nóng nảy hồ đồ khó nhận ra thánh ý hơn người điềm tĩnh trầm lắng. Việc nhận ra Thánh Ý càng không phải là một khả năng tự nhiên hay biệt tài Chúa ban, mà là kết quả của việc kết hợp chân thành giữa đương sự với Thiên Chúa, với chân lý, với khát khao những gì thuộc về Thiên Chúa. Con cái càng yêu Cha Mẹ bao nhiêu, càng hiểu được ý muốn của Cha Mẹ và luôn muốn thực hiện điều làm Cha Mẹ vui lòng. Sự khiêm tốn phục thiện cũng là một yêu cầu không thể thiếu. Thiết tưởng Thánh Phao lô hội đủ các điều kiện để nhận ra được Thánh Ý Chúa ngay sau biến cố được kêu gọi làm Tông Đồ cho Chúa.
Nhiều người trong chúng ta cũng đã đạt đến sự trưởng thành về Đức Tin về Đức mến để hiểu được ý Thiên Chúa qua các biến cố trong đời. Họ chấp nhận mọi biến cố cách vui vẻ: nghèo hay giàu, khỏe mạnh hay bệnh tật, được sủng ái, khen tặng, tán dương hay bị thất sủng, bị phê phán,bị dèm pha chê cười…tất cả với họ đều không quan trọng bằng việc họ đã tín thác vào sự quan phòng và lòng yêu thương của Chúa. Nhất là những người làm việc tông đồ cho Chúa, việc “nhận ra Thánh ý Thiên Chúa” trở thành một đòi hỏi khẩn thiết và luôn luôn có tầm quan trọng, để việc tông đồ đạt hiệu quả như ý Chúa muốn.
Và đến biến cố của vũ trụ, của xã hội
Những cơn sóng thần biết nói, những cơn động đất, những ngọn núi lửa làm tiên tri…những biến động, thay đổi của các ngôi sao, của các hành tinh, và nhất là của trái đất đang thay Lời của Đấng Tạo Hóa, và gửi đến cho trần gian bao nhiêu thông điệp đầy tình yêu thương của Thiên Chúa.Cả những biến cố đậm nét chính trị trong xã hội Việt Nam cũng như thế giới, cũng không ngoài ý Chúa. Có người nói, sao ta không tạ ơn Chúa, vì Ngài đã thương gửi đến cho Giáo Hội Việt Nam một chủ nghĩa Cộng Sản vô thần. Người thất nghiệp không có việc làm, mà không nhận ra công việc Chúa gửi đến để làm việc và để tạ ơn Chúa? Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, là ông bà tiên tổ, cũng góp phần quan trọng trong công việc Chúa gửi đến cho con cháu. Nhớ ngày phong thánh, 19-6-1988, trong khi phản đối việc phong thánh, thì cũng chính là lúc mà bao nhiêu người chưa biết Chúa có cơ hội tìm hiểu thêm về Đạo Thánh Chúa. Sau hơn 30 năm, đại đa số Giáo dân Việt Nam đã sống và làm chứng cho Thiên Chúa- một cuộc làm chứng kiên trì giữa bao gian nan thử thách, thì việc Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng gặp Đức Giáo Hoàng Benedict 16, cho dù là mục đích chính trị nào, thì cũng là một tín hiệu vui mừng, theo cái nhìn đức tin giữa biến cố và Thánh Ý…
Mời quí vị tiếp dòng suy tư…
Để kết
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn tín thác vào Chúa là Thiên Chúa toàn năng, là Cha toàn ái, để chúng con biết đón nhận và chấp nhận mọi biến cố trong đời và hiểu được Tình yêu và hồng ân Chúa cho mỗi người, mỗi gia đình chúng con.
Lạy Chúa hôm nay, lễ Thánh Phaolo tông đồ trở lại, và hôm nay, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng triều yết Đức Giáo Hoàng Benedict 16 - Vị Đại Diện Tối Cao của Chúa trên trần gian; con không nghĩ đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng con muốn nghĩ ràng mọi việc Chúa Thượng Trí đã sắp xếp. Xin Ca tụng Chúa. Và xin luồng sáng ngày xưa chiếu dọi trên Sao lê, hôm nay cũng chiếu dọi trên vị Thủ tướng thân yêu của chúng con, và trên tất cả những con người chân thành khao khát chân lý mà chưa nhận ra Thiên Chúa đáng tôn thờ. Xin sức mạnh quyền năng Chúa biến đổi những con người ấy thành những tiếng loa cứu chuộc, thành bàn tay của Chúa nối dài, thành những nhà truyền giáo hăng say như thánh Phao lo, trên quê hương Việt Nam của chúng con.
Cao Huy Hoàng (Vietcatholic News)

Những điểm chính trong sứ điệp Ngày Truyền Thông Thế Giới 2007

Trong sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã nhấn mạnh đến nhu cầu hình thành thích đáng hai lãnh vực: giáo dục trẻ em và đường hướng của truyền thông.
Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội được cử hành hàng năm vào ngày 20/5. Tuy nhiên, theo truyền thống các sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội được công bố vào ngày 24/1 lễ kính Thánh Phanxicô đệ Salê, bổn mạng của giới ký giả. Việc công bố trước là để toàn thể Giáo Hội có thời gian suy tư về lãnh vực quan trọng này.
Ghi nhận sự gia tăng ảnh hưởng của truyền thông trong một xã hội giờ đây lệ thuộc nặng nề vào việc di chuyển tự do của thông tin, Đức Thánh Cha nhận định: “Thực tại, đối với nhiều người, là những gì mà truyền thông cho là thật”.
Khả năng đáng kể của truyền thông trong việc hình thành cảm nhận và niềm tin của công chúng đòi hỏi những người Kitô hữu phải đưa ra ảnh hưởng của mình bằng hai cách: giúp con người ngày nay dùng các phương tiện truyền thông cách thông minh, với một ý thức phê bình mạnh mẽ; và thúc đẩy giới truyền thông chịu trách nhiệm thích đáng trước những vấn đề của thế giới.
Tại các gia đình, trường học và giáo xứ, Đức Thánh Cha nói tiếp: “huấn luyện việc sử dụng thích hợp các phương tiện truyền thông là điều thiết yếu cho sự phát triển văn hóa, đạo đức và tinh thần của trẻ em”. Các bậc làm cha mẹ có trách nhiệm chủ yếu trong vấn đề này và “cần phải được khích lệ và trợ giúp của trường học và giáo xứ để bảo đảm rằng khía cạnh khó khăn nhưng phải được thực hiện đến nơi đến chốn của công việc phụ đạo này được sự nâng đỡ của cộng đoàn rộng lớn hơn”.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nhận định rằng việc sử dụng có trách nhiệm các phương tiện truyền thông là một “thực thi quyền tự do”. Tuy nhiên, quá thường khi, thế giới đương đại hiểu tự do không gì khác hơn là sự phóng túng không kiềm chế “trong sự tìm kiếm không mệt mỏi lạc thú hay những kinh nghiệm mới. Nhưng điều này là một bản án không phải là tự do!”. Tự do thật sự liên quan đến sự chọn lựa cố ý “những gì là thiện hảo, chân thực và đẹp đẽ”.
Trong khi các bậc cha mẹ giúp con cái họ đạt được sự tự do này, nỗ lực của họ sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu các phương tiện truyền thông tự nó đề cao phẩm giá con người. Thành ra, hoạt động để ảnh hưởng truyền thông theo các đường hướng tích cực có “một ích lợi đặc biệt và ngay cả một tính chất cấp bách” trong thời buổi này. Trong thế giới truyền thông, các nhà truyền thông phải đối diện với “những áp lực tâm lý đặc biệt và những mâu thuẫn về luân lý” nảy sinh từ những áp lực cạnh tranh, cám dỗ thêm mắm dặm muối vào các tường thuật, và đòi hỏi cho sự ly kỳ và giải trí hời hợt. Tính chất “giải trí” cung cấp bởi nhiều phương tiện truyền thông xoay quanh việc đề cao bạo lực, và sự tầm thường hóa tính dục. Những khuynh hướng này tối hậu sẽ dẫn tới “bạo lực, bóc lột, và lạm dụng”.
Đức Thánh Cha đã lên tiếng kêu gọi các nhà lãnh đạo truyền thông “bảo vệ thiện ích chung, đề cao sự thật, để bảo vệ phẩm giá cá nhân con người và đề cao sự tôn trọng các nhu cầu của gia đình”.
Đặng Tự Do (Vietcatholic News)