Sunday, July 22, 2007

Chúa Nhật 16 Thường Niên (Luke 10:38-42)

Bài Đọc I: Genesis 18:1-10 II: Col 1:24-28
Phúc Âm Luca 10:38-42
38 Trong khi Thầy trò đi đường, Đức Giêsu vào làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà.39 Cô có người em gái tên là Maria. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy.40 Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!"41 Chúa đáp: "Mácta! Mácta ơi! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá!42 Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi".
Chi Tiết Hay
Câu chuyện xảy ra trong chuyến đi lên Jerusalem lần cuối cùng. Đây là thành Bethany nơi ông Lazarô sống với hai người chị là Martha và Maria.
(c.38) Trong văn hóa Địa Trung Hải, người phụ nữ là sở hữu chủ của nhà cửa. Người mẹ sẽ truyền gia sản lại cho người con gái lớn nhất. Trong nhiều bản dịch dựa trên bản tự Hy-lạp như Kinh Thánh Tân Ước 1994, câu "nhà của bà" được bỏ đi.
(c.39) Maria là người xức dầu và lau chân Chúa Giêsu bằng tóc của mình (Ga 12:1-3).
Vì Chúa Giêsu được dân chúng ưa chuộng vào những ngày cuối cùng của Ngài, rất có thể là có những người khác trong nhà lúc đó. Các môn đệ có thể đi theo Ngài vào nhà. Người Địa Trung Hải có lối sống đại gia đình như người Á Đông, nên trong nhà thế nào cũng có bà con của hai bà. Hơn nữa truyền thống khiến ông Lazarô phải có mặt với Chúa Giêsu để bảo vệ danh dự của 2 chị mình trong sự hiện diện của một người đàn ông không cùng họ hàng (Ga 11).
Nếu theo truyền thống phân chia vị trí theo nam nữ, thì Maria đang ngồi với Chúa Giêsu ở chổ dành riêng cho đàn ông.
Hành động của Maria nhấn mạnh đến tình yêu Thiên Chúa, trong khi hành động của người Samari trong dụ ngôn người Samari Tốt Lành (Lc 10:29-37) nhấn mạnh đến tình yêu đồng loại.
Một Điểm Chính: Phục vụ vì yêu mến Thiên Chúa, chớ không phải vì yêu thích công việc làm ấy.
Suy Niệm
1. Công việc phục vụ của tôi có đem tôi lại gần Thiên Chúa hơn không? Khi làm, chủ tâm của tôi là công việc, hay chủ tâm của tôi là làm để danh của Thiên Chúa được vinh quang?
2. Nhìn lại lòng nhân từ của tôi. Nhiều lần tôi sẵn sàng tỏ lòng nhân từ với người khác, nhưng chỉ khi nào chương trình của tôi không bị ảnh hưởng đến. Tôi muốn thương người, nhưng theo cách của riêng tôi.
3. Suy niệm bối cảnh của câu chuyện này. Vài ngày trước khi tử nạn, Chúa Giêsu đã ngang dọc khắp nơi giảng dạy. Ngài mệt mỏi. Tim Ngài nặng trĩu vì hình ảnh thập giá càng ngày càng rõ ràng. Ngài đã đến nhà tôi, người mà Ngài coi như bạn. Ngài đến để tìm gì? Ngài muốn một bữa cơm thịnh soạn? Hay là Ngài đến là vì tâm tình của tôi, vì tôi thương Ngài? Ngài cần con tim của tôi để an ủi và lắng nghe? Nếu tôi thương Ngài thì tôi sẽ làm sao? Tôi có trìu mến cầm tay Ngài và nói: Thầy ơi, con nghe đây. Con sẵn sàng chia sẽ những ưu tư, những đau khổ của Thầy? Lắng nghe Chúa Giêsu và để lòng mình dẫn dắt, chiêm niệm tâm tình của Chúa Giêsu chia sẽ với tôi.
--------------------------------------------
16th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Genesis 18:1-10 II: Col 1:24-28
Gospel Luke 10:38-42
38 Now as they went on their way, he entered a village; and a woman named Martha received him into her house.39 And she had a sister called Mary, who sat at the Lord's feet and listened to his teaching.40 But Martha was distracted with much serving; and she went to him and said, "Lord, do you not care that my sister has left me to serve alone? Tell her then to help me."41 But the Lord answered her, "Martha, Martha, you are anxious and troubled about many things;42 one thing is needful. Mary has chosen the good portion, which shall not be taken away from her."
Interesting Details
This was on Jesus' last journey to Jerusalem. The town is Bethany where Lazarus and his two older sisters Martha and Mary lived.
(v.38) In the ancient Mediterranean culture, the woman of the family owns the house, not the man. The oldest daughter will inherit the house when the mother dies. In some translations based on Greek manuscripts, i.e., 1986 New American Bible, the phrase "her house" is omitted.
(v.39) Maria is the one who anointed with perfumed oil and dried the feet of Jesus with her hair (Jn 12:1-3).
Given the popularity of Jesus during His last days, it is quite possible that Jesus was not alone with Martha and Maria. It is likely that some of His disciples accompanied Him into the house. Mediterranean homes are the dwelling place of extended families; other relatives of Martha and Maria could be in the room. In the tradition of the time, their brother Lazarus would feel compelled to chaperone his unmarried sisters at the presence of an unrelated man (Jn 11).
In a culture where spaces were defined by gender, Maria definitely was seated with Jesus in a place reserved for men.
The action of Mary emphasizes the love of God, whereas the action of the Samaritan in the parable of the Good Samaritan (Lk 10:25-37) emphasizes the love of neighbor.
One Main Point: Perform service for the love of God, not for the love of the work itself.
Reflections
1. Are our works bringing us closer to God? Are we paying attention to the works themselves, or do we do these works so that the name of God can be glorified?
2. Reflect on our kindness. Many times, we are so willing to be kind to other people, but only if it will not interfere with our plans for other things. We want to be kind to people, but in our own way.
3. Contemplate the context of this story. A few days before His passion, Jesus had been in many places preaching. He is exhausted. His heart is probably heavy with the gradually revealing of the image of the cross. He comes to your house because He considers you as his friend. What does he seek? A seven course dinner? Or is it your love that He seeks? Would He want your heart to comfort and listen to Him? If you are kind and you love Him, what would you do? Would you gently hold His hand and tell him: Lord I am listening to you. I am ready to share the pain in your heart. Listen to Him and let your love for Him guide you, meditate on the feeling that He shares with you.

Sunday, July 15, 2007

Chúa Nhật 15 Thường Niên (Luke 10:25-37)


Bài Đọc I: Dt 30:10-14 II: Col 1:15-20
Phúc Âm Luca 10:25-37
25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"26 Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?"27 Ông ấy thưa: "Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình".28 Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống".29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?"30 Đức Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi.32 Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác".36 Vậỉy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?"37 Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".
Chi Tiết Hay
(cc.25-28) Luật sĩ là người giảng dạy về luật Do Thái. Thay vì trả lời câu hỏi của người luật sĩ, Đức Giêsu đã hỏi ngược lại để ông ta tự trả lời.
(c.29) Theo sách Lêvi, người thân cận là người cùng thuộc dân Do thái. Trong dụ ngôn này, người thân cận dùng để chỉ thái độ của một người đối với những người khác, chứ không nhất thiết phải là họ hàng, bè bạn, hay hàng xóm lân cận.
(c.30) Đường từ Giêrusalem đến Jericho là một đọan đường gập ghềnh khúc khuỵu và đổ dốc trên 3,000 bộ từ những ngọn đồi xanh chung quanh Giêrusalem xuống tới vùng sa mạc thấp hơn mặt biển ở Jericho. Đoạn đường quanh co này được bao bọc bởi những tảng đá lớn, cộng thêm những hang động gần đó đã là nơi thích hợp để bọn ăn cướp mai phục và tấn công.
(c.32) Người Lêvi phụ giúp thày thượng tế những công việc nơi thờ phượng, như trông coi các đồvật nơi cung thánh, hướng dẫn lễ nhạc, sắp chỗ, và phụ giảng. Khởi đầu họ thuộc chi tộc Lêvi, là một trong những người con trai của Giacóp, và được giao cho việc trông coi nhà thờ tổ.
(c.33) Người Samaritan là dân cư ở Samaria, là vùng nằm giữa Galilê và Giuđêa. Họ không còn là nguyên gốc Do thái nữa vì đã kết hôn với nhiềi giống dân khác. Ngoài ra họ còn có đền thờ riêng trên đồi Gerizim chứ không chịu quy thuận về đền thánh Giêrusalem. Vì những lý do này mà người Do Thái không muốn liên hệ với người Samaritan.
(cc.34-37) Trong khi người luật sĩ muốn biết ai là người thân cận của mình trước rồi mới tuân theo luật mà thương yêu kẻ đó, người Samaritan trong dụ ngôn của Đức Giêsu lại làm ngược lại. Vùng Giuđêa không phải là nơi để người Samaritan lai vãng tới, và ông có thể bị coi là thủ phạm nếu bị bắt quả tang đang ở bên cạnh nạn nhân. Vậy mà ông đã can đảm làm những điều trái với sự suy nghĩ bình thường.
Một Điểm Chính: Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người Samaritan để lưu lại một sứ điệp hùng hồn: hãy yêu thương tất cả, và phục vụ những ai đang thiếu thốn, ngay cả những người mà bình thường ta không muốn giao tiếp, dù cho có thể bị trái luật hoặc có thể bị bắt lỗi thay vì được ngợi khen.
Suy Niệm
1. Có nhiều người mà bình thường tôi tránh không tiếp xúc (những người khác với tôi về chính kiến, màu da, hạng hút sách, hạng lãnh dạo kém đức dộ, những người kém thân thiện, v.v...). Có phải vì tôi sợ bị họ khước từ, bị mất thể diện, hay bị họ lợi dụng? Hay tôi sợ bị người khác hiểu lầm và coi thường khi tôi gần gũi nhữngngười này?
2. Tôi có sẵn sàng can đảm để cố gắng tìm đến với mọi người và săn sóc những người đang cần được giúp đỡ?
---------------------------------------------------
15th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Dt 30:10-14 II: Col 1:15-20
Gospel Luke 10:25-37
25 And behold, a lawyer stood up to put him to the test, saying, "Teacher, what shall I do to inherit eternal life?"26 He said to him, "What is written in the law? How do you read?"27 And he answered, "You shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul, and with all your strength, and with all your mind; and your neighbor as yourself."28 And he said to him, "You have answered right; do this, and you will live."29 But he, desiring to justify himself, said to Jesus, "And who is my neighbor?"30 Jesus replied, "A man was going down from Jerusalem to Jericho, and he fell among robbers, who stripped him and beat him, and departed, leaving him half dead.31 Now by chance a priest was going down that road; and when he saw him he passed by on the other side.32 So likewise a Levite, when he came to the place and saw him, passed by on the other side.33 But a Samaritan, as he journeyed, came to where he was; and when he saw him, he had compassion,34 and went to him and bound up his wounds, pouring on oil and wine; then he set him on his own beast and brought him to an inn, and took care of him.35 And the next day he took out two denarii and gave them to the innkeeper, saying, 'Take care of him; and whatever more you spend, I will repay you when I come back.'36 Which of these three, do you think, proved neighbor to the man who fell among the robbers?"37 He said, "The one who showed mercy on him." And Jesus said to him, "Go and do likewise."
Interesting Details
(vv.25-28) A lawyer was a person who interpreted and taught the Jewish law. Instead answering the lawyer, Jesus turned the question back for the inquirer's own answer.
(v.29) According to the Leviticus text, the neighbor is one's fellow Israelite. In this parable, 'neighbor' is the attitude a person has toward others rather than the blood or social bonding, or physical closeness in locality.
(v.30) The route from Jerusalem to Jericho was a crooked trail descending over 3,000 feet from the green hills around Jerusalem to the desert wilderness below sea level at Jericho. The winding road surrounded by many huge boulders and nearby caves made it a likely place for ambushes by robbers.
(v.32) A Levite assisted the priest in the place of service, taking care of the altarware and providing musical leadership, ushering, and teaching. Originally, the Levites were descendants of Levi, one of the sons of Jacob, and were charged with the care of the sanctuary.
(v.33) The Samaritans were residents of the district of Samaria, located between Galilee and Judea. Because of intermarriages with other nationalities, they were not of pure Jewish blood. They also had a rival place of worship to the Temple in Jerusalem on Mount Gerizim. For these reasons, the Jewish had no dealings with the Samaritans.
(vv.34-37) While the lawyer wants to know who was his neighbor before he loves that person, the Samaritan did just the opposite. Being a Samaritan in Judea, he is in the wrong place and might become the suspect if caught near a victim, and yet he did the unexpected.
One Main Point: Jesus uses this parable to send His powerful message: love all and serve anyone who is in need. This action should not exclude those we are not normally associated with, it may appear to be against the law and we might be blamed for instead of being praised.
Reflections
1. There are certain people that I would normally avoid being in contact with (people with different political viewpoints, other races, drug users, unkind leaders, unfriendly people, etc.)? Is it because of my fear of being rejected or defeated, or taken advantage of by them, or fear of being misjudged and disrespected by others when I am around these people?
2. Am I ready to have courage in trying to reach out to everyone and care for those who need help?

Sunday, July 08, 2007

Chúa Nhật 14 Thường Niên (Luke 10:1-12,17-20)

Bài Đọc I: Isaiah 66;10-14 II: Galatians 6:14-18
Phúc Âm Luca 10:1-12,17-20
1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!"6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông".10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói:11 "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần".12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó".17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỵ cũng phải khuất phục chúng con".18 Đức Giêsu bảo các ông: "Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống.19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỵ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời".
Chi Tiết Hay
(c.1) "Sau đó": sau khi vào làng Sa-ma-ri và bị dân làng từ chối tiếp đón (9:51-53), Đức Giêsu tiếp tục cuộc hành trình của Ngài lên Giêrusalem để chịu nạn, chịu chết, được phục sinh và lên trời.
"bảy mươi hai": theo sự giảng dạy của Do Thái giáo có bảy mươi hai quốc gia trên thế giới (Kh 10:2-31). Luca có thể muốn ám chỉ sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội cho toàn thể nhân loại sau khi Đức Giêsu ra đi.
"từng hai người một": Các môn đệ được sai đi từng hai người một để giúp đỡ nhau và cũng để làm chứng lẫn cho nhau về những gì họ kể lại (Đnl 19:15, Mt 18:16).
(c.3) "chiên con giữa bầy sói": cho thấy trước các thừa sai sẽ không có phương tiện tự vệ khi gặp những sự hung dữ nơi các xứ xa lạ, và cũng nhắc lại lời tiên tri của Isaia rằng chiên con sẽ nằm bên sói dữ (Is. 11:6, 65:25)
(c.4) Vì sự cấp bách, các thừa sai của Đức Giêsu phải tự do với của cải vật chất, không đem theo gì cả, và cũng không để bị chi phối bởi những tục lệ chào hỏi thông thường.
(c 17) "ma quỉ": nhắc lại quyền năng của Đức Giêsu trên ma quỉ tại Galilê (8:26-39). Đức Giêsu trao cho bảy mươi hai môn đệ quyền trừ ma quỉ tương tự như đã cho Nhóm Mười Hai (9:1-2).
(c.19) "rắn rết, bọ cạp": là những hiện thực của sự dữ trong cuộc sống Palestine (Cvtđ 28:1-6)
(c.20) "tên anh em được ghi trên trời": các môn đệ đã được lãnh nhận phần thưởng cứu chuộc.
Một Điểm Chính: Các môn đệ đã thành công trong sứ mệnh đi rao giảng vì họ là khí cụ của ân sủng Thiên Chúa. Đó là lý do thực sự để các ông vui mừng.
Suy Niệm
Đức Giêsu mời tôi rao giảng Tin Mừng của Ngài như thế nào trong thế giới ngày hôm nay? Đâu là những trở ngại tôi đang gặp? Tôi cần những gì để vượt thắng những trở ngại này?
Đã bao giờ tôi cảm thấy như một chiên non đi giữa sói dữ chưa? Tôi đã học được kinh nghiệm gì chăng?
------------------------------------------------
14th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Isaiah 66:10-14 II: Galatians 6:14-18
Gospel Luke 10:1-12,17-20
1 After this the Lord appointed seventy-two others and sent them two by two ahead of him to every town and place where he was about to go.2 He told them, "The harvest is plentiful, but the workers are few. Ask the Lord of the harvest, therefore, to send out workers into his harvest field. 3 Go! I am sending you out like lambs among wolves.4 Do not take a purse or bag or sandals; and do not greet anyone on the road.5 "When you enter a house, first say, `Peace to this house.'6 If a man of peace is there, your peace will rest on him; if not, it will return to you.7 Stay in that house, eating and drinking whatever they give you, for the worker deserves his wages. Do not move around from house to house.8 "When you enter a town and are welcomed, eat what is set before you.9 Heal the sick who are there and tell them, `The kingdom of God is near you.'10 But when you enter a town and are not welcomed, go into its streets and say,11 `Even the dust of your town that sticks to our feet we wipe off against you. Yet be sure of this: The kingdom of God is near.'12 I tell you, it will be more bearable on that day for Sodom than for that town.17 The seventy-two returned with joy and said, "Lord, even the demons submit to us in your name."18 He replied, "I saw Satan fall like lightning from heaven.19 I have given you authority to trample on snakes and scorpions and to overcome all the power of the enemy; nothing will harm you.20 However, do not rejoice that the spirits submit to you, but rejoice that your names are written in heaven."
Interesting Details
(v.1) "After this": after entering a Samaritan village and being rejected by the Samaritans (9:51-53), Jesus continues His journey to Jerusalem where His exodus - suffering, death, resurrection and ascension - is to take place.
"seventy-two others": according to the rabbinic teaching there were seventy-two nations in the world (Gen10:2-31). Luke probably means the universal mission of the church after the departure of Jesus.
"Two by two": being sent in pairs, Jesus' disciples are to give each others mutual support and to bear witness to the truth of their formal testimony (Deut19:15, Mt18:16).
(v.3) "lambs in the midst of wolves": a reminder that missionaries may be defenseless before hostile peoples, it also recalls the prophecy of Isaiah that the lamb will lie down with the wolf. (Is 11:6, 65:25).
(v.4) "carry no purse ...salute no one on the road": because of the urgency of the mission, the missionaries are to be detached from material possessions, not to take anything along, not even be distracted by the customary greetings.
(v.17)"demons": recall Jesus' power over the demons in Galilee (8:26-39). Jesus gave the seventy-two disciples the same power that was given the Twelve (9:1-2).
(v.19) "serpents and scorpions": were the sources of physical evil in Palestinian life and the forces of destruction (Acts 28:1-6).
(v.20) "your names are written in heaven": the disciples themselves have received the gift of salvation.
One Main Point: The disciples are successful because they are instruments of God's grace. That is the real reason for rejoicing.
Reflections
How does Jesus ask you to spread the Gospel in the world today? What obstacles do you see in your path? What do you need to overcome these obstacles?
Have you ever felt like a lamb walking among wolves? What did you learn from those experiences?

Sunday, July 01, 2007

Chúa Nhật 13 Thường Niên - 13th Sunday in Ordinary Time (Luke 9:51-62)

Bài Đọc I: 1Kings 19:16,19-21 II: Galatians 5:1,13-18
Phúc Âm Luca 9:51-62
51 Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem.52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến.53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem.54 Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?"55 Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông.56 Rồi Thầy trò đi sang làng khác.57 Thầy trò còn đang đi trên đường, thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo".58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".59 Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã".60 Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã".62 Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
Chi Tiết Hay
Đoạn Phúc Âm này khởi đầu cuộc hành trình của Đức Giêsu về Giêrusalem. Trong cuộc hành trình này (9:51-19:27), Thánh Luca diễn tả một hình ảnh rất lôi cuốn về Đức Giêsu, người con trung thành và nhất quyết, qua lời nói và qua hành động dạy chúng ta con đường dẫn đến cuộc sống với Thiên Chúa.
(c.51) Trong đoạn Phúc Âm Đức Giêsu biến hình (9:31), Ngài đã trò chuyện với Môsê và Elia về cuộc xuất hành, tức là về sự chết, sự sống lại và lên trời, mà Người sẽ hoàn tất ở Giêrusalem. Trong trang nghiêm, Đức Giêsu bắt đầu cuộc hành trình đi Giêrusalem, thành phố biểu tượng cho sự liên tục giữa cũ và mới trong chương trình của Thiên Chúa, và cũng từ đó lời Chúa sẽ được rao giảng cho mọi dân nước (24:27).
(cc.52-53) Samaria là vùng đất ở giữa Giudêa và Galilê. Cuộc hành trình từ Galilê tới Giêrusalem thuộc Giudêa buộc phải đi ngang Samaria. Vì lý do sắc tộc và lịch sử, người Samaria không thân thiện với người Do thái (như trong Gioan 4:9, Đức Giêsu và người phụ nữ Samaria bên bờ giếng), nhất là đối với những người Do thái phải băng qua xứ của người Samaria trên đường đi đất thánh Giêrusalem. Cho tới bây giờ, người Samaria vẫn tin là phải thờ phượng Chúa ở núi Gerizim, còn Giêrusalem tượng trưng cho tà giáo.
(c.54) "Lửa từ trời xuống" như trong 2Kings 1:10-12, tiên tri Êlia đã hai lần gọi lửa từ trời xuống tiêu diệt kẻ thù. (c.55) Nhưng Đức Giêsu đã hành động như lời Người dạy là không trả thù kẻ thù địch mình.
(cc.59-60) "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ" thường được hiểu là những kẻ không dáp trả lời Chúa sẽ bị chết về mặt thiêng liêng, họ còn thời giờ để đi chôn người chết về thể lý. Đòi hỏi của Đức Giêsu còn hơn cả nghĩa vụ hiếu thảo quan trọng nhất của người Do thái là chôn cất tiêm tất cho người cha của mình. Vào thời đó, người con trai cả phải ở với cha mẹ, lo ruộng vườn và lo chôn cất cho cha mẹ. Làm như vậy cũng mất ngót 30 năm. Đức Giêsu thách thức dân chúng đi theo Ngài ngay bây giờ chứ không phải đợi hết bao nhiêu năm sau.
(c.61) Trong 1Kings 19:19-21, Êlia cho phép môn đệ của mình là Êlisa thời giờ để giã biệt những người trong gia đình, nhưng lời gọi về nước Thiên Chúa còn khẩn thiết hơn.
(c.62) Phương pháp canh nông thời đó còn rất thô thiển, người nhà nông dùng một tay để giữ cày, còn tay kia để điều khiển trâu. Nếu anh ta quay lại thì luống cày sẽ không được thẳng.
Một Điểm Chính
Là người theo Đức Giêsu, điều ưu tiên nhất luôn là Nước Trời. Nó phải vượt trên đời sống thoải mái và mọi liên hệ gia đình không chút do dự hoặc hối tiếc.
Suy Niệm
Phản ứng của tôi thế nào khi tôi bị chối từ trong một nhóm, trong một xã hội hay một quốc gia mới? Tôi làm gì để trung dung trong một xã hội đa chủng? Cảm nghiệm sự khó chịu của Giacôbê và Gioan, nhưng hãy lắng nghe lời nói và hành động của Đức Giêsu lúc ấy.
Hãy tưởng tượng cuộc hành trình của Đức Giêsu từ Galilêa tới Giêrusalem là cuộc hành trình của cuộc đời. Tôi có cùng đích không? Nếu có, cùng đích đó là gì? Ưu tiên trong cuộc sống hiện tại của tôi là gì? Tôi phải đi theo con đường này thế nào?
------------------------------------------
13th Sunday in Ordinary Time
Reading I: 1 Kgs 19:16b, 19-21 II: Galatians 5;1,13-18
Gospel Luke 9:51-62
51 When the days drew near for him to be received up, he set his face to go to Jerusalem.52 And he sent messengers ahead of him, who went and entered a village of the Samaritans, to make ready for him;53 but the people would not receive him, because his face was set toward Jerusalem.54 And when his disciples James and John saw it, they said, "Lord, do you want us to bid fire come down from heaven and consume them?"55 But he turned and rebuked them.56 And they went on to another village.57 As they were going along the road, a man said to him, "I will follow you wherever you go."58 And Jesus said to him, "Foxes have holes, and birds of the air have nests; but the Son of man has nowhere to lay his head."59 To another he said, "Follow me." But he said, "Lord, let me first go and bury my father."60 But he said to him, "Leave the dead to bury their own dead; but as for you, go and proclaim the kingdom of God."61 Another said, "I will follow you, Lord; but let me first say farewell to those at my home."62 Jesus said to him, "No one who puts his hand to the plow and looks back is fit for the kingdom of God."
Interesting Details
This passage begins the journey that leads Jesus to Jerusalem. Luke's journey narrative (9:51-19:27) presents a captivating portrait of Jesus, the faithful and the resolute Son (9:35), who in word and deed teaches the way that leads to life with God.
(v.51) At the transfiguration, Jesus conversed with Moses and Elijah about his exodus, a reference to the death, resurrection and ascension that he was to fulfill in Jerusalem (9:31). With great solemnity, Jesus now sets out on his journey to Jerusalem, the city that symbolizes the continuity between the old and the new in God's plan; and from there the words will be preached to all the nations (24:47).
(vv.52-53) Samaria was the territory between Judea and Galilee. The journey from Galilee to Jerusalem in Judea must pass through Samaria. For ethnic and historic reasons, Samaritans were not friendly to the Jews (Jn 4:9), especially when the Jews were passing through their territory on the way to the holy city, Jerusalem. The Samaritans to this day believe that God should be worship on Mount Gerizim and Jerusalem represents a heresy.
(v.54) "Fire from heaven" alludes to 2Kings 1:10-12 where the prophet Elijah twice called down fire from to destroy his enemies. (v.55) Jesus lives out in deed his teaching about non-retaliation against enemies.
(vv.59-60) "Let the dead bury their dead" is commonly interpreted as those who do not respond to the Gospel will be spiritually dead; they will have time to bury the physically dead. Jesus' demand even overrides the most important filial obligation to the Jews, which is to bury one's father. At that time the eldest son would stay with his parents, manage their properties, and bury them. This may take almost 30 years. Jesus challenged the people to follow him now, not years later.
(v.61) Elijah gave permission to his disciple Elisha to bid good-bye to his family (1Kgs 19:19-21), but the call of the reign of God is more urgent.
(v.62) The farming practice at that time was very primitive. A farmer guided a plow by one hand while his other hand drove the unruly oxen. If he looked back, the new furrow became crooked.
One Main Point
To be a follower of Jesus, the priority is always the kingdom of God. It supercedes a comfortable life and family relationships without hesitation or regret.
Reflections
What is my reaction when I feel unwelcome in a group, a society or a new land? How do I tolerate diversity? Feel the anger of James and John, but listen to the words and the deed from Jesus.
Imagine the journey of Jesus from Galilee to Jerusalem as the journey of my life. Do I have a destination? What is it? What is my priority in life? How do I follow the way?

Friday, June 29, 2007

Hai vì sao sáng: Phêrô và Phaolô

Bài ca nhập lễ vang lên hùng tráng trong ngày Lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô:
Hai vì sao sáng chói, lấp lánh trên bầu trời, ngời sáng đêm trường, rực rỡ soi đường sưởi ấm yêu thương. Hai tình yêu chiến thắng, ngất ngây trong cuộc đời, từ trái tim nồng dòng máu anh hùng ngời sáng muôn trùng.
Phêrô, Phaolô hai vì sao sáng ngời chiếu toả ánh sáng Chúa Kitô cho nhân loại.
Hai Thánh Tông đồ là hai con người xuất thân khác nhau, tính cách khác nhau nhưng cùng một niềm tin, cùng một sứ mạng và cùng một vinh quang được đội triều thiên vinh hiển để trở thành hai vì sao sáng cho Giáo hội.
Còn nhớ hôm nào người ba lần chối Giêsu. Còn nhớ ngày nào người bắt Chúa trong căm thù. Lời ca ngắn đúc kết phần một trong cuộc đời hai Ngài : chối Thầy, bắt Thầy. Nhưng cuộc đời phần hai đã viết nên những trang hào hùng oanh liệt. Nhờ tình yêu Chúa dẫn lối, hai Ngài cầm đuốc Tông đồ rao truyền Tin mừng Chúa Giêsu Kitô cho thế giới.
Đọc lại cuộc đời của hai Thánh Tông đồ để nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.
1. Thánh Phêrô
Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi. Gồm lại những sôi nổi, ta có thể chia đời ông ra làm hai : cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy; phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Roma.
Trong cuộc đời phần một của Phêrô, ông đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.Cuối đời của Chúa,Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14,66-72)
Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô, ta thấy mãnh đời của ông có nét chân dung thế này :Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.
- Mắng lần đầu tiên : Quân yếu tin ( Mt 14,31)
- Lần thứ hai : Ngu tối ( Mt 15,16)
- Lần thứ ba : Satan ( Mc 8,33)
Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy 3 lần. Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường chạy trốn.Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông oà khóc nức nở như một đứa bé với dòng lệ sám hối. Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mảnh, giữa trọn vẹn và dang dỡ, giữa xa và gần, giữa trời và đất. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần một của người môn đệ này vẫn có một tâm hồn chân thành.
Phần hai cuộc đời ông là một thiên anh hùng ca.Thiên anh hùng ca được mở đầu bằng những lời chứng của Gioan(Ga 21,2-3). Lời chứng nói về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria, rồi đưa đời ông từ đếm đen mờ mịt ấy về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.
Sứ mạng theo Đức Kitrô khởi đầu từ đây khi bảy anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì. Đức Giêsu Phục sinh đến với họ ban cho họ mẻ cá lạ lùng.Chính Đấng Phục sinh đã hỏi Ông : Phêrô, con có yêu mến thầy không ? Phêrô đáp : Thưa Thầy,Thầy biềt rõ mọi sự, thầy biết con yêu mên Thầy. Sau khi Phêrô trả lời câu hỏi ấy với tất cả chọn lựa cân nhắc, Chúa nói với ông rằng : Thầy bảo cho anh biết lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tuỳ ý.Nhưng khi đã về già,anh đã phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn. Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là : Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào.Thế rồi Chúa bảo ông : hãy theo Thầy. Chỉ chờ đợi lời mời gọi này, Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.Từ đây trên tảng đá này Thầy xây Giáo hội của Thầy, cửa hoả ngục sẽ không thắng được.Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.
2. Thánh Phaolô
Đọc Công vụ Tông tồ từ chương 8 trở đi, chúng ta bắt gặp một Saolô, ở Tac-xô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Ga-ma-li-ên ở Giê-ru-sa-lem. Cuộc đời phần một của Phaolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Tê-pha-nô và trên đường Đa-mát truy lùng các Kitô hữu.
Được ơn trở lại trên đường Đa-Mat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô,Tông Đồ dân ngoại. Cuộc đời phần hai của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca.
Sách Công vụ tông đồ kể lại : trên đường Đa-mat, Phaolô rong ruổi trên yên ngựa hăng say truy bắt các Kitô hữu thì thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông. Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó.Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô.Từ đó trở đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể.
Khi đã biết Chúa Kitô thì “những gì xưa kia tôi cho là có lợi,thì nay,vì Đức Kitô,tôi cho là thiệt thòi.Hơn nữa tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi,so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa của tôi.Vì Ngài, tôi đành mất hết,và tôi coi tất cả như đồ bỏ,để được Đức kitô và được kết hợp với Người.Được như vậy,không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại,nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu( Pl 3,7-9). Từ đó trở đi Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất, sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người :” Vì anh em,phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô,thì đã được mặc lấy Đức Kitô: không còn Do thái hay Hy lạp;không còn nô lệ hay tự do;không còn nam hay nữ;vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu (Gal 3,27-28).Vì Đức Kitô là “tất cả mọi sự và trong mọi người” ( Col 3,11). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô.Các mối phúc thật được kết tinh nơi cuộc đời Phaolô. Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cor 9,3-18; 2Cor11,8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô. Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những”… lao tù đòn vọt,bao lần suýt chết, năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi “phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố,trong sa mạc, ngoài biển khơi,nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng ( 2 Cor 11 23-27). Phaolô ra vào tù thường xuyên, có lần Ngài viết từ ngục thất cho Ti-mô-thê, người môn đệ, có khi không khỏi nao núng:” anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta,cũng đừng hổ thẹn vì tôi, là kẻ bị tù vì Ngài”. Phaolô không hổ thẹn” vì tôi biết tôi đã tin vào ai …” (2 Tim 1,8-12). Vì Đức Kitô “tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi,nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” (2Tim 2,9). Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2 Cor 12,9). Không gì có thể làm nao núng lòng tin mãnh liệt ấy” chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp; hoang mang nhưng không tuyêt vọng; bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt” (2cor 4,8-9)
Vị Tông đồ dân ngoại đã nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức ”Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1Cor 5,14). Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài ” tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”( Gal 2,20).
Vì Đức Kitô và vì Tin mừng thánh nhân đã sống và chết cho sứ mạng. Cuộc sống buôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn ”Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ, đói khát,trần truồng, nguy hiểm,gươm giáo?…
Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ ( Rm 8,35-39).
3. Phêrô và Phaolô, tượng đài hiệp nhất.
Giáo hội mừng kính hai thánh Tông đồ, hai cột trụ Giáo hội cùng chung một ngày. Hai con ngưòi khác nhau từ cá tính đến thân thế nhưng cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô, cùng chung một niềm tin vào Chúa Kitô, chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó và cuối đời cùng chịu tử đạo vì Chúa Kitô tại Roma. Cùng chia sẽ một niềm tin, cùng thi hành một sứ mạng, Chúa Kitô đã đã đưa hai Ngài đến một cùng đích, một vinh quang đội triều thiên khải hoàn. Hai con người khác biệt ấy lại có những điểm tương đồng lạ lùng. Chúa Kitô đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người.
Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nổ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô, hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô đã nên hai vì sao sáng ngời, trở nên nền tảng hiệp nhất. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An (Theo Việt Catholic News)

Thursday, June 28, 2007

Hàng chục năm sau tôi mới thấu hiểu...

Đầu tháng 6 này, Chủ tịch Microsoft Bill Gates đã quay lại Đại học Harvard để phát biểu tại lễ tốt nghiệp của các sinh viên và nhận bằng Tiến sỹ danh dự Harvard. Tại đây, có khoảng 30.000 người đã trực tiếp theo dõi sự kiện này. Dân trí xin giới thiệu phần chính bài phát biểu ấy.
Thưa toàn thể quý vị!
Tôi đã từng đợi giây phút này 30 năm qua, giây phút mà tôi có thể nói với cha mình rằng: “Cha ạ, con đã hứa với cha rằng rồi con sẽ quay lại trường và nhận bằng mà!”
Vâng, tôi muốn cảm ơn Harvard trong khoảnh khắc vinh dự này. Tôi sẽ “chuyển việc” trong năm tới, và thật tuyệt là cuối cùng tôi cũng có một tấm bằng cho bản sơ yếu lí lịch của mình.
Tôi hoan nghênh những sinh viên tốt nghiệp hôm nay trong việc chuyên tâm học hành để có được tấm bằng. Về phần mình, tôi thật hạnh phúc khi có người nói tôi là “Người thành công nhất trong số những kẻ rời bỏ Harvard”. Chắc vì thế mà tôi là đại diện cho họ trong buổi lễ này.
Harvard đúng là một trải nghiệm tuyệt vời với tôi. Cuộc sống hàn lâm quyến rũ. Tôi thường ngồi vào nhiều tiết học ở các lớp khác hẳn với ngành học của tôi. Và cuộc sống kí túc thì “hay” một cách khủng khiếp. Tôi ở khu Currier House. Lúc nào cũng có nhiều người đến phòng tôi bàn luận đủ thứ suốt đêm, bởi vì mọi người biết rằng tôi đã chẳng phải lo dậy đi học vào sáng hôm sau.
Điều ấn tượng nhất ở Harvard là vào tháng giêng năm 1975, khi tôi gọi từ kí túc tới một công ty ở Albuquerque (công ty này chế tạo những máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới.) Tôi đề xuất bán cho họ phần mềm. Tôi lo rằng họ nhận ra mình chỉ là một cậu sinh viên ký túc và từ chối tôi. May quá khi họ đã trả lời rằng họ chưa chuẩn bị kịp, hãy gặp lại sau một tháng nữa. Thú thực là lúc đó tôi liều thôi, chứ đã viết được dòng lệnh nào đâu. Nhưng ngay sau đó, tôi cày cuốc ngày đêm trong dự án nhỏ xíu đó, đánh dấu kết thúc chặng đường học hành và bắt đầu kỉ nguyên mới tại Microsoft.
Điều mà tôi ghi nhận đặc biệt ở Harvard là việc đắm mình trong niềm phấn khích và trí tuệ dồi dào. Nơi đây tràn trề thử thách và rất rất hấp dẫn tôi. Tuy tôi bỏ đi sớm, nhưng những năm tháng đáng nhớ tại đây, với các bạn bè thân hữu, những ý tưởng đa dạng, đã giúp tôi trưởng thành lên nhiều.
Nhưng, hãy nhìn lại một cách nghiêm túc thì, có một điều mà tôi rất lấy làm tiếc.
Tôi rời Harvard mà không có sự ý thức thực sự về những sự bất bình đẳng kinh khủng trên thế giới này - những sự cách biệt lớn về chăm sóc y tế và sở hữu tài sản, cũng như cơ hội giải thoát hàng triệu người đang sống trong tuyệt vọng.
Tôi học nhiều ở Harvard về những ý tưởng mới trong kinh tế học, chính trị và những tiến bộ vượt bậc trong khoa học
Nhưng sự tiến bộ vĩ đại nhất của loài người không phải trong những khám phá ấy, mà trong việc tìm tòi các cách để giảm bớt sự bất bình đẳng.
Tôi rời khỏi nơi đây trong khi biết rất ít về hàng triệu đứa trẻ không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn ngay tại nước Mỹ này. Tôi cũng chẳng biết gì về hàng triệu sinh linh tại những nước đang phát triển, họ đang sống trong nghèo khổ tới mức không còn từ nào để diễn tả nổi.
Hàng chục năm sau tôi mới thấu hiểu điều đó.
Giờ đây các bạn biết nhiều hơn chúng tôi thời ấy về những sự bất bình đẳng đang xảy ra khắp nơi trên thế giới. Trong những năm tháng tại đây, ở một thời điểm công nghệ bùng nổ thế này, tôi hy vọng các bạn có nhiều cơ hội để nghĩ về cách để giải tỏa những bất bình đẳng ấy.
Hãy thử hình dung, bạn có vài giờ một tuần và vài đô la một tháng để làm việc thiện nào đó - và bạn muốn cống hiến một cách hiệu quả nhất – bạn sẽ làm gì, ở đâu?
Melinda và tôi cũng chung thách thức ấy : Làm cách nào chúng tôi có thể giúp nhiều người nhất với nguồn lực mà chúng tôi có.
Trong quá trình tìm hiểu, Melinda và tôi thấy rằng hàng triệu trẻ em đang chết mỗi năm ở những nước nghèo bởi những bệnh mà từ lâu đã bị vô hiệu hóa tại Mỹ: Bệnh sởi, bệnh sốt rét, viêm phổi, bệnh viêm gan B. Một căn bệnh mà tôi chưa bao giờ thậm chí được nghe thấy tên: “Rotavirus”, đang giết chết nửa triệu trẻ em mỗi năm- trong số ấy không em nào ở Mỹ.
Chúng tôi sốc nặng. Giá mà hàng triệu em ấy được cứu sống, như vậy thì đáng ra thế giới phải ưu tiên để khám phá và mang thuốc thang tới cứu các em. Nhưng không, điều đó đã không diễn ra .
Nếu bạn tin rằng mỗi sinh mệnh có giá trị như nhau, thì thật hổ thẹn khi thấy rằng trong cuộc sống dường như một số người có “mạng sống” cao giá hơn, đáng cứu hơn những người khác. Điều ấy thôi thúc chúng tôi chú tâm đặc biệt vào việc thiện nguyện.
Chúng tôi băn khoăn : "Thế giới này sao lại để những đứa trẻ tội nghiệp ấy chết?”
Câu trả lời đơn giản, và thô ráp. Thị trường “vô cảm” trước cái chết của các em, một số chính phủ không để tâm tới. Vì thế các em chết bởi bố mẹ các em không có sức mạnh trên thị trường và chẳng có tiếng nói nào trong xã hội.
Nhưng bạn và tôi có cả hai!
Chúng ta có thể tạo động lực cho thị trường mang lại nhiều lợi ích hơn cho người nghèo, nếu chúng ta có thể phát triển thể chế thị trường sáng tạo hơn. Chúng ta cũng có thể đề nghị các chính phủ trên khắp thế giới dùng tiền thuế của người dân vào những việc giá trị hơn nhằm giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo ấy.
Nhiệm vụ này luôn rộng mở và chưa bao giờ kết thúc. Nhưng mỗi nỗ lực có ý thức để trả lời thách thức này đều góp phần làm thay đổi thế giới.
Tôi lạc quan khi nghĩ rằng chúng ta có thể làm điều này. Nhưng một số kẻ hoài nghi nói "Sự bất bình đẳng là tất nhiên, luôn song hành với đời sống con người, đến nỗi mọi người chẳng thiết quan tâm đến chuyện này nữa.” Tôi cực lực phản đối họ.
Tất cả chúng ta ở đây trên sân trường này, đã thấy những bi kịch giằng xé tim ta, và chưa làm gì cả- không phải bởi vì chúng ta đã không quan tâm, mà bởi chúng ta chẳng biết phải làm thế nào. Nếu biết điều ấy, chúng ta có thể hành động.
Ngay cả khi với Internet và các bản tin thời sự cập nhật 24/24, nhân loại vẫn bị “nhiễu” thông tin. Khi một máy bay rơi, những viên chức ngay lập tức tổ chức họp báo. Họ hứa điều tra, xác định nguyên nhân, và ngăn ngừa những sự cố tương tự trong tương lai.
Nhưng nếu những viên chức ấy chính trực, họ sẽ phát biểu trước ống kính thế này: " Trong tổng số người chết trên thế giới ngày hôm nay bởi những nguyên nhân đáng tiếc có thể tránh được, nửa phần trăm ở trên chuyến bay này. Chúng tôi quyết tâm làm mọi điều có thể để giải quyết những vấn đề ảnh hưởng tới sự sống của một nửa một phần trăm ấy.".
Vấn đề lớn hơn không là sự cố máy bay, mà ở chỗ triệu triệu cái chết khác đang diễn ra trong khi chúng ta hoàn toàn có thể ra tay phòng tránh được.
Chúng ta không được đọc nhiều về những cái chết này. Phương tiện truyền thông bao giờ cũng tôn vinh cái MỚI - và hàng triệu cái chết đói khát kia chẳng có gì mới mẻ cả. Vì thế nó ở những vị trí quá khiêm tốn, ít có tác dụng đánh động lương tâm mọi người.
Nhưng nếu khi lương tâm bạn được đánh thức, hãy vượt qua mọi trở ngại để tìm ra giải pháp. Và khi có giải pháp thì hãy hành động; không một sự quan tâm chia sẻ nào là phí phạm cả.
Bệnh AIDS là một ví dụ. Mục tiêu, tất nhiên, là chặn đứng căn bệnh này. Vì thế các chính phủ, các công ty thuốc và các Quỹ đang cấp vốn nghiên cứu vacxin phòng chống. Nhưng công việc của họ có khả năng mất hàng thập niên, vì vậy trong khi chờ đợi, chúng ta phải hành động, phải xắn tay ngay để giúp con người tránh những hiểm họa trước khi nó tới. Thế kỷ 20 chúng ta đã chiến thắng sốt rét và bệnh lao, và chúng ta tiếp tục không ngừng suy nghĩ và hành động để đối phó với các nạn dịch mới hiện nay.
Và, sau khi tìm ra giải pháp và hành động, bạn hãy chia sẻ những thành công và cả thất bại của bạn để giúp người khác có thể rút kinh nghiệm được từ những nỗ lực ấy.
Những thành viên của Gia đình Harvard thân mến: Ở đây, trong sân trường này đang hiện hữu “bộ sưu tập” lớn những trí thức tài năng đẳng cấp thế giới.
Nhưng để làm gì?
Không ai phủ nhận rằng các giáo viên, các cựu sinh viên, các sinh viên đang theo học và tất cả những người liên quan ở đây, đã làm nhiều cách để dùng những sức mạnh trí tuệ ấy vào việc cải thiện cuộc sống của con người trên toàn thế giới.
Nhưng chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa không? Harvard có thể cống hiến hơn nữa trí tuệ của mình để cải thiện cuộc sống của những người mà thậm chí chưa bao giờ chúng ta từng thấy mặt?
Cho phép tôi có một yêu cầu tới các trưởng khoa và giáo sư- những lãnh đạo trí thức Harvard: Trong khi bạn tuyển giảng viên mới, xét trao giải thưởng, rà soát hồ sơ sinh viên cũng như chấm duyệt bằng cấp và chương trình đào tạo, vui lòng hãy tự hỏi chính mình:
Những bộ óc tuyệt vời nhất của chúng ta có được dành cho giải quyết những vấn đề lớn nhất của nhân loại không? Harvard có nên khích lệ các giảng viên khoa góp phần xóa bỏ những bất bình đẳng tồi tệ nhất thế giới hay không? Sinh viên Harvard có được học sâu về tình trạng đói, nghèo, thiếu nước sạch trên toàn cầu, hay được biết về hàng triệu trẻ em chết bởi những bệnh chúng ta có thể điều trị?
Những kẻ nhiều “đặc ân” nhất thế giới có nên học về cuộc sống của những người ít “đặc ân” nhất thế giới hay không?
Đây là không phải câu hỏi hùng biện- bạn hãy trả lời tùy cách nghĩ của mình.
Mẹ tôi, người đã vui mừng khôn xiết ngày tôi đỗ vào đây, luôn dặn tôi phải làm nhiều việc thiện cho những người khác. Thậm chí cả khi mẹ tôi lâm trọng bệnh, bà vẫn viết thư cho vợ tôi bày tỏ tâm sự “Cho đi càng nhiều càng nhận được nhiều kì vọng”.
Thật vậy, khi bạn thấy rằng những gì chúng ta có ở đây có thể cho đi - là tài năng, là đặc ân và cơ hội- vậy thì cả thế giới có quyền để kỳ vọng không giới hạn những nỗ lực từ chúng ta.
Tôi hy vọng những bạn sinh viên tốt nghiệp hôm nay sẽ trở lại sân trường Harvard này 30 năm sau để chia sẻ những gì bạn đã làm với tài năng và nhiệt huyết của mình. Tôi hy vọng mỗi người ngồi đây sẽ tự thôi thúc bản thân không chỉ vươn tới những thành tựu tuyệt đỉnh trong nghề nghiệp, mà còn là ở việc bạn đã góp phần giảm bớt bất bình đẳng trên thế giới thế nào, bạn giúp đỡ những người thiệt thòi hơn bạn thế nào, trong khi họ cũng là những sinh mệnh đáng trân trọng như chính bạn.
Chúc mọi điều may mắn!
Kim Kim (Theo DÂNTRÍ NEWS)

Wednesday, June 27, 2007

Đừng coi thường cái máy tính

Ở miền quê nghèo nhưng thấy con gái ham học, anh chị quyết định dành dụm mua cho cháu chiếc máy vi tính và nối mạng Internet, với mong muốn con thêm tri thức, học hành nên người.
Tối nào anh chị cũng thấy cháu sử dụng máy vi tính để truy cập các thông tin, cái sự học của cháu có vẻ khá hơn trước.
Nhưng rồi dần dần anh cảm thấy nhiều lúc cháu sao nhãng việc học, thức rất khuya. Sau này khi chuyện xảy đến rồi anh mới chua chát ngộ ra: Chiếc máy vi tính có khi lại trở thành kẻ phá hoại hạnh phúc của gia đình.
Chẳng biết học ở đâu, cháu bắt đầu "chat" với bạn bè. Ở vùng quê, có máy vi tính đã là oai lắm rồi, giờ còn kết nối internet, chat... lại càng ghê nữa. Lâu dần qua internet rồi qua "chát", cháu như được khám phá thêm nhiều cái mới. Trong những cái mới này, ngoài tri thức còn có cả những điều mà lứa tuổi cháu không nên tiếp cận.
Cháu kể: Qua "chat" cháu quen được nhiều bạn khác, trong đó có cả bạn trai. Một số bạn tỏ tình với cháu, rồi kể cho cháu nghe những chuyện kín đáo để kích thích sự tò mò giới tính (dù cháu chỉ mới 14 tuổi).
Rồi từ lúc nào cháu cảm thấy những cái đấy thật mới mẻ và theo lời rủ rê, cháu đi gặp những người bạn "chat". Điều gì xảy ra rồi cũng xảy ra. Mọi chuyện đau khổ nhất đều dồn lên con gái và chính gia đình anh.
Anh vứt cái máy vi tính đi và nguyền rủa nó nhưng đã muộn. Người ta trách cô con gái không biết nghe lời cha mẹ, nhưng trước hết phải trách chính anh chị. Không phải vì việc mua cho cháu chiếc máy tính hay kết nối internet, mà vì anh chị đã không quan tâm đến những biểu hiện bất thường của cháu ngay từ lúc vừa phát sinh.
Giá như lúc ấy anh chị gần gũi, trò chuyện tâm sự với cháu để cháu có chỗ dựa về tình cảm và tinh thần...
Có thể công việc mưu sinh khiến anh chị không có thời gian, cũng có thể trình độ của người làm nông khiến anh chị chẳng hiểu gì về internet, cũng có thể còn những nguyên nhân khác nữa, nhưng rõ ràng cái sự không gần gũi con cái ở tuổi chúng đang lớn đã bắt anh chị phải trả giá.
Bài học rút ra là: Đừng bao giờ coi thường cái máy tính!
Nguyễn (Theo DÂNTRÍ Net)