Friday, May 18, 2007

Chúa Nhật 7 Phục Sinh - 7th Sunday of Easter (John 17:20-26)

Bài Đọc I: Acts 7:55-60 II: Rev 22:12-14,16-17,20
Phúc Âm Gioan 17:20-26
20 Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con,21 để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.22 Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một:23 Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.24 Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành.25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con.26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa".
Chi Tiết Hay
+ Bài đọc Phúc Âm hôm nay là một phần trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly (17:1-26) và là đoạn kết của Diễn Từ Cáo Biệt - lời cầu nguyện của Ngài trước khi chịu khổ nạn và chịu chết.
+ Những ý tưởng lập đi lập lại:
- "Cha" được dùng tất cả sáu lần (cc.1,5,11,21,24,25) - Kết hiệp hoàn toàn với Cha nên một, Đức Giêsu luôn chứng tỏ là người Con yêu thương và vâng lời Cha.
- "sai" (cc.3,8,21,25) - Tin rằng Đức Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến là chấp nhận sự thật rằng Ngài là một cùng Cha.
- "Thế gian" được dùng mười bảy lần - là thế gian của không tin tưởng vào Thiên Chúa, của thù hận, đối nghịch với lối sống của một Kitô hữu.
- "yêu thương", trong câu 23,24,26 - Giáo Hội là một cộng đoàn tình thương, là dấu chỉ sống động của tình Cha Con yêu thương nhau.
- "tôn vinh", trong câu 1,4,5,10,22,24 - tột đỉnh của sự hiệp nhất là được chia sẻ vinh quang của Đức Giêsu với Cha Ngài.
- "ban cho"
-- c.22a "Con đã ban cho họ vinh quang": trở nên rõ nghiã hơn trong câu 26b dưới đây.
-- c.24 "Cha đã ban cho con": chúng ta là quà tặng của Chúa Cha cho Đức Kitô chứ không phải gánh nặng hoặc sự đau khổ mà Đức Kitô phải gánh chịu.
-- c.26b "để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa": Đức Giêsu ban cho chúng ta một quà tặng độc đáo đó là tình thương của Chúa Cha và của chính Ngài. Trong Cựu Ước, Chúa ở với dân Ngài nơi Hòm Bia Thiên Chúa. Qua sự ban tặng của Đức Giêsu, Chúa đến ngự ngay trong lòng chúng ta.
- "hiệp nhất", sự song song trong các câu sau đây cho thấy rõ hơn nội dung lời cầu nguyện của Đức Giêsu: đó là sự hiệp nhất của các tín hữu.
-- 21a. để tất cả nên một
-- 21b. như Cha ở trong con và con ở trong Cha
-- 21c. để họ cũng ở trong chúng ta
-- 21d. như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con
-- 22b. để họ được nên một
-- 22c-23a như chúng ta là một, con ở trong họ và Cha ở trong con
-- 23b. để họ được hoàn toàn nên một
-- 23c. như vậy thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con. Cặp câu 1 và 3: mục đích là sự hiệp nhất nơi các tín hữu.Cặp câu 2: gương mẫu của sự hiệp nhất là giữa Cha và Đức Giêsu.Cặp câu 4: ảnh hưởng của sự hiệp nhất các tín hữu trên thế gian.
Một Điểm Chính: Cộng đoàn tín hữu của Đức Giêsu phải hiệp nhất giống như sự hiệp nhất giữa Đúc Giêsu và Cha Ngài.
Suy Niệm
1. Tình thương và sự hiệp nhất liên hệ với nhau như thế nàỏ Có thể nào chỉ có một trong hai mà thôi chăng?
2. Cộng đoàn (hoặc nhóm) của tôi hiệp nhất ra sao? Làm sao để gia tăng sự hiệp nhất này?
----------------------------------------------
7th Sunday of Easter
Reading I: Acts 7:55-60 II: Rev 22:12-14,16-17,20
Gospel John 17:20-26
20 "I do not pray for these only, but also for those who believe in me through their word,21 that they may all be one; even as thou, Father, art in me, and I in thee, that they also may be in us, so that the world may believe that thou hast sent me.22 The glory which thou hast given me I have given to them, that they may be one even as we are one,23 I in them and thou in me, that they may become perfectly one, so that the world may know that thou hast sent me and hast loved them even as thou hast loved me.24 Father, I desire that they also, whom thou hast given me, may be with me where I am, to behold my glory which thou hast given me in thy love for me before the foundation of the world.25 O righteous Father, the world has not known thee, but I have known thee; and these know that thou hast sent me.26 I made known to them thy name, and I will make it known, that the love with which thou hast loved me may be in them, and I in them."
Interesting Details
+ Today's passage is from Jesus' prayer at the Last Supper(17:1-26) and the conclusion of the Last Discourse - the prayer immediately before his passion and death.
+ Recurring themes:
- "Father" is found six times (vv. 1,5,11,21,24,25) - Perfectly joined to the Father in oneness, Jesus remains at all times the obedient and loving Son.
- "sent me", in vv. 3,8,21,25 - Belief that Jesus is sent by the Father is acceptance of the truth that the Son is one with the Father.
- "the world" is mentioned seventeen times - The world of disbelief and hatred and unlove, the contrast to what Christian living should be.
- "love", in vv. 23,24,26 - The church should be a community of love, the living sign of the mutual love of Father and Son.
- "glory", in vv. 1,4,5,10,22,24 - The culmination of the unity would be sharing the glory that Jesus had with the Father from the beginning.
"gift"
-- v. 22a. "I have given to them the glory which you have given me" this will become clearer in v. 26b below.
-- v. 24. "they are your gift to me": we are Father's gift to Jesus! Not pain and burden, but gift!
-- the final verse, v. 26b: "so that the love you had for me may be in them and I may be in them": Jesus gives us a magnificent gift-- the love of the Father and Jesus himself! In the Old Testament, God came to dwell in the Tabernacle among the people. In this gift of Jesus, God comes to dwell right in us.
- "unity", the parallel between the two following passages makes clear the content of Jesus' prayer, namely the unity of Jesus' believers:
-- 21a. that they all may be one
-- 21b. just as you, Father, in me and I in you
-- 21c. that they also may be one in us
-- 21d. thus the world may believe that you sent me
-- 22b. that they may be one
-- 22c-23a. just as we are one, I in them and you in me
-- 23b. that they may be brought to completion as one
-- 23c. thus the world may come to know that you sent me. The first and third pairs: the goal is the unity of believers;The second pair: the model of the unity is between union between the Father and Jesus;The fourth pair: the effect of the followers' unity on the world.
One Main Point: The community of believers in Jesus have to strive for unity like that which exists between Jesus and the Father.
Reflections
1. What relationship is there between love and unity? Can either exist without the other?
2. How united is my community (or group)? How can it become more unified?

Sunday, May 13, 2007

Chúa Nhật 6 Phục Sinh - 6th Sunday of Easter (John 14:23-29)

Bài Đọc I: Acts 15:1-2,22-29 II: Rev 21:10-14,22-23
Phúc Âm Gioan 14:23-29
23 Đức Giêsu đáp: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.24 Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Thầy.25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em,26 Nhưng khi Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.28 Anh em đã nghe Thầy bảo: 'Thầy ra đi và đến cùng anh em'. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đến cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để anh em tin khi sự ấy xảy ra.
Chi Tiết Hay
+ Đoạn Thánh Kinh trên là câu trả lời của Đức Giêsu sau khi một môn đệ hỏi (c. 22): "Thưa Thày, tại sao Thày chỉ tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình cho thế gian?". Người đã trả lời câu này trong Mt 5:8, "Phúc cho những kẻ có lòng thanh sạch, vì họ sẽ được xem thấy Chúa!" Ở đây Đức Giêsu giải thích thêm.
+ (cc.23-24) Đức Giêsu gọi những người tuân giữ lời Người là môn đệ (người yêu mến Chúa). Những người thuộc về thế gian thì không giữ lời Chúa và không yêu mến Người. Và Đức Giêsu nói đến phần thưởng cho những người trong chúng ta đang tuân giữ lời Chúa:
1. (c.23) Ngôi Cha và Ngôi Con sẽ ở với chúng ta; đền thờ của Chúa sẽ là chính chúng ta.
2. (c.26) Chúa Thánh Thần sẽ đến với chúng ta. Ý của câu 26 là Chúa Thánh Thần sẽ không dạy những gì ngoài mạc khải trong Chúa Kitô. Có nghĩa là Chúa Thánh Thần giúp chúng ta hiểu về những điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm.
3. (c.27) Chúng ta sẽ có bình an, không phải bình an "như thế gian ban", mà là bình an đến từ sự hiện diện của ba Ngôi trong lòng chúng ta.
Một Điểm Chính: Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần sẽ ở cùng chúng ta, dạy dỗ chúng ta, và ban cho chúng ta bình an.
Suy Niệm
1. Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mến Thày, thì tuân giữ lời Thày". Tôi xin cho tình yêu của mình đối với Chúa Giêsu thúc đẩy tôi học hỏi lời Chúa, cho lời Người đâm rễ sâu trong tâm hồn tôi, và để tôi thực hành lời Chúa trong cuộc sống của tôi.
2. Bình an có thể là không có chiến tranh, không có xung đột. Hay tôi cũng có thể có bình an ngay trong chiến tranh. Bình an nào tôi đang tìm kiếm, và làm sao để tôi có được bình an?
----------------------------------------------------------
6th Sunday of Easter
Reading I: Acts 15:1-2,22-29 II: Rev 21:10-14,22-23
Gospel John 14:23-29
23Jesus answered him, "If a man loves me, he will keep my word, and my Father will love him, and we will come to him and make our home with him.24He who does not love me does not keep my words; and the word which you hear is not mine but the Father's who sent me.25"These things I have spoken to you, while I am still with you.26But the Counselor, the Holy Spirit, whom the Father will send in my name, he will teach you all things, and bring to your remembrance all that I have said to you.27Peace I leave with you; my peace I give to you; not as the world gives do I give to you. Let not your hearts be troubled, neither let them be afraid.28You heard me say to you, 'I go away, and I will come to you.' If you loved me, you would have rejoiced, because I go to the Father; for the Father is greater than I.29And now I have told you before it takes place, so that when it does take place, you may believe.
Interesting Details
+ This section is Jesus' answer to a disciple's question(v. 22): "Lord, how can it be that you will reveal yourself to us and not to the world ?" Jesus had touched on the answer previously in the Beautitudes(Mt 5:8)-- Blessed are the pure of heart, for they shall see God! Here, Jesus explains further.
+ (vv.23-24) Jesus identifies his disciples (the ones who love him) as those who keep his words. He further identifies the world (those who do not love him) as the ones who do not keep his word. The reward for those of us who keep his word includes:
1. (v.23) The Father and the Son will make a dwelling in us; God's temple will be within us, that is, spiritual rather than physical.
2. (v.26) The Holy Spirit will come to us. Verse 26 makes it clear that the Holy Spirit does not bring teaching that is independent of the revelation in Jesus. Rather, the Holy Spirit gives us understanding of what Jesus had taught and done. Jesus calls the Holy Spirit a "Paraclete", which means "an advocate", who will guide us.
3. (v.27) We will have peace: " not as the word gives peace" , but an inner peace that comes from the indwelling presence of God.
One Main Point: The Father, Son, and Holy Spirit make their dwelling in us, teach us, and give us peace.
Reflections
1. Jesus said, "if anyone loves me, he will keep my word". I pray that my love of Jesus wil push me to meditate on his words, letting his words take root in my soul, and putting his words into practice in my life.
2. Peace can mean no war, no conflicts. Or peace can be despite wars and conficts. Which type of peace do I want ? How do I reach this state?

Friday, May 11, 2007

Lần “Chuỗi Thương Xót”...

Thị Nghè, 08.05.2007
Các bạn thân mến,
Trước hết, Yến xin gửi đến các bạn lời chúc sức khỏe và bình an trong Đức Giêsu Kitô. Nguyện xin cho Thánh Thần luôn là ánh sáng và là nguồn cảm hứng cho các bạn trong từng giây phút cuộc sống. Yến tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Yến món quà rất quý giá là chính các bạn. Tạ ơn Thiên Chúa vì sự hiện diện của từng bạn. Yến vẫn luôn nhớ đến các bạn trong lời cầu nguyện.
Yến được biết rằng các bạn đã nghe cha Đaminh Nguyễn Đức Thông chia sẻ về chị Têrêsa Phạm Thị Phượng (giáo phận Xuân Lộc). Nhưng Yến cũng xin chia sẻ một chút để có thể có bạn nào đó chưa được biết, hoặc chưa rõ lắm. Cách đây 4 năm, chị Phượng bị một nhóm người Công Giáo thuê một thầy bùa để “thư” (bỏ ngải) chị, vì chị đã phát hiện ra những việc làm sai trái của họ (có thể nói là tội lỗi). Từ đó cho đến giờ, suốt 4 năm nay, chị vẫn phải chịu những cơn đau đớn, hành hạ thân xác đến rợn người. Đinh, lưỡi lam, kéo, móc câu, cóc nhái, gà, vịt cứ từ trong người chị chui ra. Có khi chị đang tham dự Thánh lễ, máu trong người chị chảy ra ồ ạt khiến chị phải bỏ Thánh lễ mà về. Chị không thể ăn uống gì được vì cứ cho bất cứ thứ gì vào đều bị nôn ra, ngoại trừ uống nước phép. Chỉ cần chị đến xin lỗi nhóm người kia, đồng ý theo họ, hoặc đi tìm một thầy bùa “cao tay hơn” thì chị sẽ hết. Tạ ơn Thiên Chúa chị đã không làm như vậy. Mặc dù đau đớn về thể xác, chị vẫn luôn tin tưởng vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa trên chị.
Khi Yến đang viết lá thư này, thì cha Thông đem đến chiếu lên màn hình cho cộng đoàn Yến xem những hình ảnh và đoạn phim cha đã quay tại chỗ, ngay lúc đinh, lưỡi lam đang rớt ra từ trong người chị. Nhìn chị đau đớn, vật vã mà Yến đau xót quá, khủng khiếp quá! Yến cảm thấy thật bức xúc, thật cấp bách. Các bạn có thể nói gì, làm gì qua biến cố này? Hình ảnh tháp Babel ngày xưa (tháp của sự kiêu ngạo) đang được tái hiện lại. Tội tổ tông xưa được lập lại. Con người chối bỏ Thiên Chúa, khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Vì muốn có quyền năng ngang bằng Thiên Chúa, muốn điều khiển cả vũ trụ này theo ý mình, nên con người đã bắt tay và làm nô lệ cho Satan, cho sự dữ. Chuyện này kéo dài suốt 4 năm nay, ắt hẳn không phải là Thiên Chúa bất lực nhưng là Người đang muốn gì qua biến cố này? Phải chăng Người muốn thức tỉnh những con người đang sống trong tội lỗi? Phải chăng con người đang dần xa lìa Thiên Chúa mà tiến về phía sự dữ?
Phải sám hối, ăn chay và cầu nguyện, các bạn ạ, vì “giống quỷ ấy chỉ trừ được bằng việc ăn chay và lời cầu nguyện thôi” (Mc 9, 29). Lời Chúa đang thúc bách, mời gọi mỗi người chúng ta:
“Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng” (1 Pr 2, 4-5a).
Xác tín vào sức mạnh của sự cầu nguyện hiệp thông, Yến mời gọi các bạn và xin được gợi ý những việc ăn chay, cầu nguyện sau, để cầu nguyện cho chị Maria Phượng và gia đình chị, cho các cha đang trực tiếp giúp chị Phượng, cho giới tu sĩ nam nữ, cho mỗi người chúng ta, cho những người đang hại chị biết hoán cải quay trở về với Chúa :
- Cầu nguyện theo chương trình 18 tuần
- Làm việc hy sinh, hãm mình (bao nhiêu có thể)
- Dâng những lời nguyện tắt
- Lần “Chuỗi Thương Xót” vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày
- Trong nhóm, các bạn liên kết với nhau lần “Chuỗi Mân Côi sống”
- Ăn chay Thứ Sáu hàng tuần (cách thức tùy mỗi người)
- Chầu Thánh Thể bất cứ lúc nào có thể được
Các bạn có thể chọn những gợi ý trên để thực hiện (càng nhiều càng tốt). Nếu các bạn có thể thực hiện hết tất cả những điều đó thì thật tốt và ý nghĩa biết chừng nào! Các bạn cần kiên trì, trung thành và xin ơn Chúa thật nhiều. Vì các bạn ơi, chị Phượng đang gánh chịu những đau đớn thay cho mỗi người chúng ta đấy. Chị rất cần lời cầu nguyện và những việc làm có ý nghĩa của các bạn, của tất cả mọi người. Chị nói: “Con chịu đau đớn gấp đôi thế này cũng được, chỉ xin cho họ biết thức tỉnh, hoán cải mà quay trở về với Chúa”.
Thứ Bảy, ngày 12.05.2007, chúng ta bắt đầu nhé! Xin Thiên Chúa chúc lành cho những cố gắng thiện chí và từng việc các bạn làm. Xin Thánh Thần liên kết chúng ta trong tình yêu của Người. Xin Mẹ Maria, thánh Cả Giuse và các thánh nam nữ trên trời đồng hành với chúng ta.
Thân mến,
MARIA PHAN YẾN, Rndm
--------------------------------------------
P/S:
Mình là JB Ngô Hoàng… nhận được thông tin trên cũng là một điều bất ngờ… hơi sock… Nhìn lại bản thân thấy mình cũng có phần khô khan lâu nay… cho nên nhân dịp Tháng Hoa Đức Mẹ, Hoàng cũng hiệp ý và mời gọi các bạn cùng nhau cầ nguyện cho những ý nguyện của tác giả bức thư, cũng như qua đây là cơ hội để chúng ta hâm nóng tâm hồn băng giá về đạo của chúng ta lâu nay…
Vậy mạo muội để nghị xin các bạn chúng ta có thể hiệp ý như sau, cho phù hơp với “hoàn cảnh của những người trẻ khô khan”:
- Mỗi sáng thức dậy, hãy tập lại thói quen nhớ đến Chúa như thờ thơ ấu, đơn giản nhất có thể là 3 Kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh…
- Cố gắng thu xếp tham dự Thánh Lễ hàng ngày trong tuần, càng nhiều càng tốt, thay vì lâu nay chỉ là Chúa Nhật…
- Buổi tối trước khi ngủ chúng ta cũng cố gắng dâng lên Đức Mẹ ít nhất là 10 Kinh Kính Mừng…
Ước mong sao các bạn trẻ biết tận dụng cơ hội này để chúng ta biết yêu mến Thiên Chúa và Mẹ Maria hơn, cũng như bác ái hơn trong cuộc sống. Amen.
Thân ái trong Giêsu.
JB Hoàng Ngô
Mọi liên lạc chia sẻ vui lòng gửi qua email: minhoago@yahoo.com

LIFE IS SHORT. PRAY HARD!


The LORD is my shepherd...


The LORD is my shepherd, I shall not be in want.
He makes me lie down in green pastures,
he leads me beside quiet waters, he restores my soul.
He guides me in paths of righteousness for his name's sake.
Even though I walk through the valley of the shadow of death,
I will fear no evil, for you are with me;
your rod and your staff, they comfort me.
You prepare a table before me in the presence of my enemies.
You anoint my head with oil; my cup overflows.
Surely goodness and love will follow me all the days of my life,
and I will dwell in the house of the LORD forever.

Sunday, May 06, 2007

Chúa Nhật 5 Phục Sinh - 5th Sunday of Easter (John 13:31-35)

Bài Đọc I: Acts 14:21-27 II: Rev 21:1-5
Phúc Âm Gioan 13:31-35
(31) Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người, (32) Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. (33) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Dothái: 'Nơi tôi đi, các người không thể đến được', bấy giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. (34) Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (35) Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau".
Chi Tiết Hay
+ Đoạn văn hôm nay là một phần của lời giã biệt Đức Giêsu nói với các môn đệ trong bữa tiệc ly. Giuđa đã ra đi vào màn đêm đen tối (13:30), còn Đức Giêsu thì bắt đầu cuộc hành trình vinh quang về với Cha của Người.
+ (c.31) "Giờ đây" - Đức Giêsu thấy đây là giờ Người được tôn vinh, bắt đầu ngay từ lúc Giuđa ra đi để phản bội Người.
+ (c.33) "những người con bé nhỏ" - Đây là lời của Cha nói với các con. Và đúng như vậy, khi Đức Giêsu nói thì chính là Chúa Cha nói qua miệng của Người, vì Người và Cha là một (10:30).
+ (c.34) "điều răn mới" - Yêu thương cũng là một giới luật trong sách Cựu Ước, tuy nhiên chỉ bắt buộc yêu thương những người cùng tín ngưỡng với mình mà thôi. Yêu thương theo điều răn mới của Đức Giêsu thì không trừ một ai. Tình yêu tha nhân phải tức thời, không tính toán, không kỳ thị những người tội lỗi và bất xứng.
Một Điểm Chính: Chúng ta phải yêu thương vì Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.
Suy Niệm
1. Các môn đệ của Đức Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của họ cho những người ngoại giáo bằng cách chấp nhận các cực hình và ngay cả hiến mạng sống của mình để rao giảng Tin Mừng. Còn tôi, tình yêu của tôi đã được thử thách chưa?
2. Đức Giêsu muốn tôi phải yêu thương ai? và yêu thương như thế nào?
3. Cộng đoàn (hay Nhóm) của bạn có rõ ràng là một cộng đoàn tình thương trong Đức Giêsu chăng?
------------------------------------------------------------
5th Sunday of Easter
Reading I: Acts 14:21-27 II: Rev 21:1-5
Gospel John 13:31-35
(31) When Judas had gone out, Jesus said, "Now is the Son of man glorified, and in him God is glorified; (32) if God is glorified in him, God will also glorify him in himself, and glorify him at once. (33) Little children, yet a little while I am with you. You will seek me; and as I said to the Jews so now I say to you, 'Where I am going you cannot come.' (34) A new commandment I give to you, that you love one another; even as I have loved you, that you also love one another. (35) By this all men will know that you are my disciples, if you have love for one another."
Interesting Details
+ These verses are part of Jesus' last discourse to His disciples at the Last Supper. Judas has departed into the darkness (13:30) and Jesus begins His journey into the light of the Father's glory.
+ (v.31) "now" - Jesus sees His "glorification" as already present. It has actually begun with the betrayal of Judas. + (v.33) "children" - It is a phrase that the Father could use. On the lips of Jesus, it is precisely that, a phrase the Father speaks through the Son, for the Father and the Son are one (10:30).
+ (v.34) "a new commandment" - Love was also commanded in the Old Testament, but it was restricted to other members of the inner circle, the fellow-Jews. The new love commanded by Jesus has to extend to all mankind. It must be spontaneous, unmotivated, directed to sinners and others unworthy of love as well.
One Main Point: We are to love because Christ has loved us and as Christ loved us.
Reflections
1. Jesus' disciples have proven their love for their non-Christian fellows by enduring the hardships and even death while bringing the Gospel to Jews and Gentiles. Has my love for others been tested?
2. Who does Jesus command me to love, and how?
3. Is your community of faith (or group) clearly a community of love in Christ?

Tuesday, May 01, 2007

NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (1)

“Tôi không biết”(Lc 1, 34)
Giá trị của sự bất tri
Bản tính của con người luôn ham biết, ham tìm tòi. Tâm trí con người có khuynh hướng vươn lên không ngừng về mọi lãnh vực. Nhưng trong Đạo đức kinh, ở chương 20 Lão tử lại chủ trương “Tuyệt học vô ưu”: ‘dứt hẳn cái học thì khỏi phải lo lắng’. Hơn nữa, ở chương 38 lại có câu:“Tiền thức giả, Đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy”: ‘tri thức chỉ là đồ trang điểm của Đạo, là khởi thủy của sai lầm’. Ông còn nói tiếp: “Tri giả bất bác, bác giả bất tri”: ‘người biết không phải là thông, người thông thường lại không biết’. Cho nên cái biết của thánh nhân nhiều khi khác cái biết của thường nhân: “Biết được cái không biết là cao. Không biết cái biết là bệnh. Biết đó là bệnh thì không bệnh nữa”. Cái biết không ưa tranh luận ồn ào, vì người biết không nói, mà người nói thì không biết: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.
Nói thế, Lão tử cố ý đưa ta vào con đường nội tâm sâu thẳm. Những cái học biết bên ngoài thêm vào cho trí óc không thể là bản thể của tri thức được. Còn cái hiểu biết đích thực là cái nảy nở do chính tâm hồn. Vì thế, cần giữ tâm hồn vô tư, vô sự để có thể thấu đạt được mọi lý lẽ, căn cơ của cuộc đời. Bởi thế, có những người biết rất nhiều, hiểu rất rộng, uyên bác mọi sách vở nhưng tâm hồn vẫn trống rỗng, trí óc vẫn mông lung, cuộc sống vẫn gian tà. Điều cần là giữ tâm hồn thanh tịnh, không nên biết những gì không cần biết, để cho những cảm nghĩ của tâm hồn được tự do triển nở như những cánh hoa rạng rỡ dưới ánh bình minh.
Hướng nhìn về Đức Maria
Dựa trên nền tâm học của Lão tử, ta mới khám phá ra tâm hồn kỳ diệu của Đức Maria. Khi nghe con mình từ trên thập giá thốt lên hai tiếng “không biết” ["Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." ](Lc 23, 34), thì không biết Đức Mẹ có nhớ mình cũng đã thốt ra hai tiếng “không biết” trong lời nói đầu tiên khi Thiên thần truyền tin không ? ["Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến đàn ông" ](Lc 1, 31-34). Lạ thay, hai tiếng “không biết” gặp nhau giữa Mẹ và Con trong giây phút linh thiêng nhất. Dưới chân thánh giá Đức Giêsu, Đức mẹ đứng vào hàng ngũ những tội nhân mặc dù Mẹ vô tội, như đang cầu bầu cho kẻ có tội. Vì Đức Mẹ vô tội nên “không biết”, vì họ “không biết” nên vô tội. Cho dù sự tương-biệt này rất khác nhau, một cái ở đầu nguồn ân sủng, một cái ở cuối đoạn thứ tha, nhưng lại gặp nhau ở một chữ “vô” hay một chữ “không”. Những lời này của Đức Giêsu và Đức Mẹ có vẻ gợi ý rằng: bất tri đôi khi lại là khôn ngoan.
Ở đây bất tri không phải là không biết, mà là biết điều mình không biết được coi như là một ân phúc. Điều này có vẻ va chạm tự ái con người thời nay, nhất là những người suy tôn trí thức, nhưng lại không nhận định rằng khôn ngoan có thứ thật, thứ giả. Khôn ngoan không phải là biết hết mọi thứ, nhưng có những thứ không cần biết và không nên biết. Có những cái biết khiến người ta mất không ngoan. Có những cái khôn mà khôn = dại; có những cái dại mà dại = khôn. Thánh Phaolô gọi sự không ngoan thế tục là sự ngu dại. Đức Giêsu cũng tạ ơn Cha vì đã không mạc khải sự khôn ngoan trên trời cho những bậc hiền triết thế gian (x. Lc 10, 21).
Bất tri ở đây không phải là bất tri chân lý, mà là bất tri tội phạm. Đó là sự bất tri của những kẻ hành hình Đức Giêsu. Họ có thể được tha thứ, vì họ không hiểu rõ tội ác ghê ghớm của họ. Chính sự bất tri đã cứu vãn được họ. Cũng như Thánh Phêrô đã nói trong ngày Hiện xuống: “Tôi đã biết rõ các người đã hành động ngu xuẩn như bọn tài phán của các người” (CV3, 17). Cũng vậy, chúng ta được ơn tha thứ là vì không thấy rõ hết hậu quả của nó. Còn các thiên thần đã bị kết án thì thấu suốt nguyên ủy sự việc, không còn cách nào sửa lại được. Họ bị tuyên phạt đời đời là vì vậy. Như thế, chúng ta mới biết trách nhiệm về tri thức đáng sợ chừng nào. Người biết chân lý, bao giờ cũng bị xử đoán nghiêm ngặt hơn người không biết : “Giả như Thầy không đến và không nói với họ, họ đã chẳng có tội” (Ga 15, 22).
Chữ “không biết” của Đức Maria có giá trị vượt bực vì Mẹ đã khấn hiến trinh tiết của mình cho Chúa. Trong khi người phụ nữ nào cũng mơ ước đặc ân là Mẹ Chúa Cứu Thế thì Đức Mẹ lại từ bỏ kỳ vọng đó. Thế nhưng đặc ân lại được ban cho Đức Mẹ. Nếu phải từ bỏ lời khấn hứa để làm thân mẫu của Thiên Chúa, chắc chắn Đức Mẹ không thể chấp nhận sự từ bỏ đó. Đã khấn hứa rồi, Đức Mẹ coi việc biết đến đàn ông là điều tội lỗi, mặc dù trong những trường hợp khác chẳng tội lệ gì.
“Không biết đàn ông” là một hình thức bất tri, nhưng ở đây bất tri trở thành một ân phúc vĩ đại, đến độ trong khoảnh khắc Chúa Thánh Thần ban xuống cho Đức Mẹ tràn đầy ơn thánh hiến, trở thành “hòm bia Thiên Chúa ngự”, bình đựng Thánh Thể.
Hiểu biết và khôn ngoan của thế gian
Những người được coi là hạng Minh triết vẫn thường cho rằng, chưa biết đời thì kể như chưa biết sống, và phải nhờ kinh nghiệm sống mới có tri thức: kinh nghiệm cái tốt và cả cái xấu. Chính với luận điệu dối trá đó mà Satan đã cám dỗ Ađam-Eva. Từ ngày xảy ra sự lường gạt lớn lao ở vườn địa đàng, chưa hề có ai đã thành công trong việc nhờ thử nghiệm điều xấu mà có được tri thức tốt bao giờ. Biết bao người dở sống dở chết chỉ vì đôi phút tò mò muốn biết, muốn nếm thử, muốn có kinh nghiệm. Làm sao có thể học được sự sạch sẽ khi sống trong cống rãnh, và học biết văn hóa trong lối sống thô bỉ.
“Lỗi lầm lớn nhất của nền giáo dục hiện đại là tin tưởng rằng sự ngu dốt là căn cớ phát sinh sự xấu xa trên thế giới, cho nên cứ phải dồn thật nhiều sự hiểu biết vào đầu óc thanh thiếu niên. Nếu đúng như vậy thì phải công nhận rằng dân tộc nào càng học biết nhiều, càng đạo đức hơn. Thực tế khác hẳn, chưa bao giờ nền giáo dục được đẩy mạnh như ngày nay, nhưng chưa bao giờ người ta ít biết đến chân lý như ngày nay” (Fulton J. Sheen).
Ai cũng muốn cho mình là người hiểu biết, và luôn muốn tỏ ra sự hiểu biết của mình. Sự hiểu biết thì vô cùng vô tận, cho dù chúng ta có những hiểu biết chuyên biệt về một điều gì thôi, thì cũng giống như kênh rạch so với biển cả mênh mông trong chính điều đó. Bởi vậy nhà Hiền triết Socrates đã nói : “Đối với tôi, những điều tôi biết là những điều tôi không biết gì cả”. Chiều sâu của cuộc sống không phải là hơn thua nhau về số lượng hay chất lượng của những gì mình biết. Nhiều cái biết bên ngoài chỉ làm cho cuộc sống thêm tản mạn, và năng lực bị tản mát. Có những cái biết cần phải xóa mờ đi để những điều không biết được sáng tỏ. Hơn thế nữa, trong đời sống đức tin, người ta cũng chỉ chọn biết một điều ưu tiên giữa muôn điều không biết. Thánh Phaolô đã xác quyết “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”(1Cr 2,2).
Phải chứng thực rằng, sự ngu dốt có giá trị hơn sự sai lầm, vì lẫn lộn tri thức với trí tri (Scientia et sapeientia). Tri thức không làm cho người ta khôn ngoan nhưng chính sự khôn ngoan mới cho người ta biết tri thức. Hậu quả của nền giáo dục chỉ biết nhồi nhét sự hiểu biết làm cho giới trẻ càng nghi ngờ về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Nền giáo dục chân chính thì trái lại, giúp họ nhận ra sự hiện diện quyền năng và tình yêu của Người.
Cũng vậy, giáo dục sinh lý làm cho người ta lầm tưởng rằng, nếu con trẻ biết được hậu quả tác hại thì chúng sẽ tránh xa những hành động đó. Nhưng thực ra, sự hiểu biết đó không làm cho người ta khá hơn, mà còn có nguy cơ làm cho người ta ao ước điều xấu, nhất là khi biết được rằng, những hậu quả tác hại có thể tránh được. Điều này cho thấy không thể lẫn lộn giữa sinh lý và luân lý. Sự xấu không phát xuất do việc hiểu biết thiếu xót, nhưng do sự bất chính về hành động của con người. Cũng vậy, tính hạnh phát lộ không phải qua sự hiểu biết mà là qua sự lựa chọn. Điều quan trọng để trở thành đạo đức không phải là biết nhiều hơn nhưng là làm tốt hơn.
Mọi hiểu biết phải được thanh lọc để giúp cho cuộc sống bớt đi những cản trở và phân tán. Tri thức theo chiều rộng của lý trí phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung vào chiều sâu của tâm hồn, để tâm hồn trở nên tinh ròng hơn, có khả năng nếm hưởng những niềm vui thanh cao hơn. Không có niềm vui nào sánh kịp với niềm vui vô tội. Chính niềm vui này mới tạo nên sức mạnh làm cho cuộc sống vươn cao và tỏa sáng.
Chúng ta không hoàn toàn nằm trong tình trạng tội lỗi, nhưng chúng ta luôn dễ bị kềm chế bởi ảnh hưởng của tội lỗi: bởi những hiểu biết lệch lạc; bởi những nghe biết không chính xác; bởi chất chứa những thành kiến và ác cảm; bởi tình trạng tâm lý bị thất đoạt; bởi lối sống tầm thường; bởi một não trạng khô cứng; bởi những tư tưởng đã bị nhồi sọ; bởi những hành động bức xúc theo cảm tính; bởi đã có quá nhiều lạm dụng về sự hiểu biết...Tất cả những điều đó làm mất đi sự thanh tịnh và niềm vui của tâm hồn, làm bế tắc sự khôn ngoan chân chính.
Đại học “không biết” của Đức Maria
“Không biết” không phải là không biết, mà là phải biết như thế nào? Chính cái biết đó mới làm cho chúng ta hiểu được cái “không biết”. Hãy nhập vào trường Đại học của Đức Maria, một Đại học chuyên khoa về sự “không biết”, đặc biệt là sự không biết đến tội lỗi. Chính sự không biết này mới là đầu mối của mọi sự khôn ngoan. Điều làm cho tâm hồn được phong phú và cao đẹp không phải là học cao, biết nhiều, hiểu rộng, mà là biết khôn ngoan, không phải thứ khôn ngoan xác thịt, nhưng là một sự khôn ngoan đạo đức. Đó là biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình mọi nơi mọi lúc, cũng như đầy lòng kính sợ, yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự. Thiếu sự khôn ngoan này, mọi sự hiểu biết khác đều vô nghĩa, và mọi nhân đức khác đều khô cằn héo úa, không thể triển nở. Sự khôn ngoan đó làm cho mọi hiểu biết có một giá trị sâu xa. Sự khôn ngoan đó như ánh nắng, sương sa và mưa móc làm đâm chồi nẩy lộc mọi cây nhân đức khác, làm nên sự thánh thiện rạng ngời, là vẻ đẹp muôn thuở của Thiên Chúa thông ban cho Đức Mẹ. Bởi vậy, qua thánh Giêrônimô, chúng ta mới tuyên xưng “Mẹ là Tòa Khôn Ngoan”. Mặc dù Mẹ là người đàn bà quê mùa, không biết đến những văn minh tiến bộ của nhân loại, nhưng trong Mẹ có sự hiểu biết về sáng tạo, về vũ trụ và lịch sử. Sự hiểu biết đó thì tuyệt hảo hơn các triết gia cao cả nhất, hơn những lý luận của những thần học gia lớn lao nhất, và sự biệt phân tiên tri hơn mọi tiên tri. Sự khôn ngoan của Đức Mẹ phát xuất từ một tâm hồn vô tội, nên sáng suốt trong mọi lựa chọn và quyết định, luôn phù hợp với đường lối của Thiên Chúa.
Nếu tất cả nền Đạo học của Lão Tử đều xây dựng trên chữ VÔ, nhất là VÔ VI: nghĩa là Sống và làm việc theo đường lối tự nhiên của đạo, là trở về với tính đơn sơ hồn nhiên, sống thành thực với lòng mình theo cách thể hiện của trời đất, thì ta mới thấy sự khôn ngoan tuyệt hảo nơi Đức Mẹ, khi Mẹ đặt tất cả vào Thánh ý Chúa. Vô Vi như thế lại mở ra con đường muôn ngả: vô dục, vô tư, vô tranh, vô danh, vô kỷ, vô cầu. Tất vả chữ VÔ của Lão tử như là diễn tả sự lành thánh và khôn ngoan của Mẹ, để từ đó Mẹ sinh ra Đấng Thánh Thiện và Khôn Ngoan.
Như vậy Đại học “không biết” của Đức Maria cũng là Đại học “khôn ngoan” chưa từng có trên thế gian, vì đó là là sự khôn ngoan của chính Thiên Chúa, là đặc ân quí giá nhất của Thánh Thần, và là dung mạo về Đức Kitô từ trong Cựu Ước, phản ảnh ánh sáng vĩnh cửu (x. St 7, 26), Lời tạo thành của Thiên Chúa (Logos) (x. Tv 33, 9; Ga 1, 1).
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã lựa chọn sự “không biết” để sống cuộc đời mình cho Chúa. Sự “không biết” đó là không biết tìm kiếm mình; không biết thỏa mãn ý riêng mình; không biết đến sự khôn ngoan phàm tục; không biết đến danh vọng; không biết đến tranh giành ảnh hưởng, lợi lộc; không biết quy mọi cái về mình; không biết sống trỗi vượt; không biết cầu mong cho mình; không biết chỉ sống cho riêng mình; không biết hưởng lạc thú; không biết chiếm hữu; không biết mơ ước cao sang; không biết hãnh diện mình là trinh nữ vẹn toàn; không biết tỏ ra sự cao cả của mình được chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế... Có quá nhiều điều Mẹ không biết và không muốn biết trong cuộc sống nhân loại. Nhưng rồi từ đó, Chúa lại làm cho sự “không biết” của Mẹ trở thành sự khôn ngoan và thánh thiện của Người. Mẹ chọn lựa sự “không biết” để rồi được biết mọi sự, được “biết” chính Chúa, là vinh quang muôn đời của Mẹ.
Xin cho con học nơi Mẹ, biết yêu quí và thưởng thức những điều “không biết” của Mẹ để tận hiến cuộc đời mình cho Chúa. Xin cho con học biết và cố gắng nhìn xem con người, những sự vật và các biến cố như Chúa nhìn trong một tinh thần khôn ngoan đích thật. Amen.

Lm. Thái Nguyên (By Simon Hòa Dalat page)