Tuesday, May 01, 2007

NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (1)

“Tôi không biết”(Lc 1, 34)
Giá trị của sự bất tri
Bản tính của con người luôn ham biết, ham tìm tòi. Tâm trí con người có khuynh hướng vươn lên không ngừng về mọi lãnh vực. Nhưng trong Đạo đức kinh, ở chương 20 Lão tử lại chủ trương “Tuyệt học vô ưu”: ‘dứt hẳn cái học thì khỏi phải lo lắng’. Hơn nữa, ở chương 38 lại có câu:“Tiền thức giả, Đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy”: ‘tri thức chỉ là đồ trang điểm của Đạo, là khởi thủy của sai lầm’. Ông còn nói tiếp: “Tri giả bất bác, bác giả bất tri”: ‘người biết không phải là thông, người thông thường lại không biết’. Cho nên cái biết của thánh nhân nhiều khi khác cái biết của thường nhân: “Biết được cái không biết là cao. Không biết cái biết là bệnh. Biết đó là bệnh thì không bệnh nữa”. Cái biết không ưa tranh luận ồn ào, vì người biết không nói, mà người nói thì không biết: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.
Nói thế, Lão tử cố ý đưa ta vào con đường nội tâm sâu thẳm. Những cái học biết bên ngoài thêm vào cho trí óc không thể là bản thể của tri thức được. Còn cái hiểu biết đích thực là cái nảy nở do chính tâm hồn. Vì thế, cần giữ tâm hồn vô tư, vô sự để có thể thấu đạt được mọi lý lẽ, căn cơ của cuộc đời. Bởi thế, có những người biết rất nhiều, hiểu rất rộng, uyên bác mọi sách vở nhưng tâm hồn vẫn trống rỗng, trí óc vẫn mông lung, cuộc sống vẫn gian tà. Điều cần là giữ tâm hồn thanh tịnh, không nên biết những gì không cần biết, để cho những cảm nghĩ của tâm hồn được tự do triển nở như những cánh hoa rạng rỡ dưới ánh bình minh.
Hướng nhìn về Đức Maria
Dựa trên nền tâm học của Lão tử, ta mới khám phá ra tâm hồn kỳ diệu của Đức Maria. Khi nghe con mình từ trên thập giá thốt lên hai tiếng “không biết” ["Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." ](Lc 23, 34), thì không biết Đức Mẹ có nhớ mình cũng đã thốt ra hai tiếng “không biết” trong lời nói đầu tiên khi Thiên thần truyền tin không ? ["Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến đàn ông" ](Lc 1, 31-34). Lạ thay, hai tiếng “không biết” gặp nhau giữa Mẹ và Con trong giây phút linh thiêng nhất. Dưới chân thánh giá Đức Giêsu, Đức mẹ đứng vào hàng ngũ những tội nhân mặc dù Mẹ vô tội, như đang cầu bầu cho kẻ có tội. Vì Đức Mẹ vô tội nên “không biết”, vì họ “không biết” nên vô tội. Cho dù sự tương-biệt này rất khác nhau, một cái ở đầu nguồn ân sủng, một cái ở cuối đoạn thứ tha, nhưng lại gặp nhau ở một chữ “vô” hay một chữ “không”. Những lời này của Đức Giêsu và Đức Mẹ có vẻ gợi ý rằng: bất tri đôi khi lại là khôn ngoan.
Ở đây bất tri không phải là không biết, mà là biết điều mình không biết được coi như là một ân phúc. Điều này có vẻ va chạm tự ái con người thời nay, nhất là những người suy tôn trí thức, nhưng lại không nhận định rằng khôn ngoan có thứ thật, thứ giả. Khôn ngoan không phải là biết hết mọi thứ, nhưng có những thứ không cần biết và không nên biết. Có những cái biết khiến người ta mất không ngoan. Có những cái khôn mà khôn = dại; có những cái dại mà dại = khôn. Thánh Phaolô gọi sự không ngoan thế tục là sự ngu dại. Đức Giêsu cũng tạ ơn Cha vì đã không mạc khải sự khôn ngoan trên trời cho những bậc hiền triết thế gian (x. Lc 10, 21).
Bất tri ở đây không phải là bất tri chân lý, mà là bất tri tội phạm. Đó là sự bất tri của những kẻ hành hình Đức Giêsu. Họ có thể được tha thứ, vì họ không hiểu rõ tội ác ghê ghớm của họ. Chính sự bất tri đã cứu vãn được họ. Cũng như Thánh Phêrô đã nói trong ngày Hiện xuống: “Tôi đã biết rõ các người đã hành động ngu xuẩn như bọn tài phán của các người” (CV3, 17). Cũng vậy, chúng ta được ơn tha thứ là vì không thấy rõ hết hậu quả của nó. Còn các thiên thần đã bị kết án thì thấu suốt nguyên ủy sự việc, không còn cách nào sửa lại được. Họ bị tuyên phạt đời đời là vì vậy. Như thế, chúng ta mới biết trách nhiệm về tri thức đáng sợ chừng nào. Người biết chân lý, bao giờ cũng bị xử đoán nghiêm ngặt hơn người không biết : “Giả như Thầy không đến và không nói với họ, họ đã chẳng có tội” (Ga 15, 22).
Chữ “không biết” của Đức Maria có giá trị vượt bực vì Mẹ đã khấn hiến trinh tiết của mình cho Chúa. Trong khi người phụ nữ nào cũng mơ ước đặc ân là Mẹ Chúa Cứu Thế thì Đức Mẹ lại từ bỏ kỳ vọng đó. Thế nhưng đặc ân lại được ban cho Đức Mẹ. Nếu phải từ bỏ lời khấn hứa để làm thân mẫu của Thiên Chúa, chắc chắn Đức Mẹ không thể chấp nhận sự từ bỏ đó. Đã khấn hứa rồi, Đức Mẹ coi việc biết đến đàn ông là điều tội lỗi, mặc dù trong những trường hợp khác chẳng tội lệ gì.
“Không biết đàn ông” là một hình thức bất tri, nhưng ở đây bất tri trở thành một ân phúc vĩ đại, đến độ trong khoảnh khắc Chúa Thánh Thần ban xuống cho Đức Mẹ tràn đầy ơn thánh hiến, trở thành “hòm bia Thiên Chúa ngự”, bình đựng Thánh Thể.
Hiểu biết và khôn ngoan của thế gian
Những người được coi là hạng Minh triết vẫn thường cho rằng, chưa biết đời thì kể như chưa biết sống, và phải nhờ kinh nghiệm sống mới có tri thức: kinh nghiệm cái tốt và cả cái xấu. Chính với luận điệu dối trá đó mà Satan đã cám dỗ Ađam-Eva. Từ ngày xảy ra sự lường gạt lớn lao ở vườn địa đàng, chưa hề có ai đã thành công trong việc nhờ thử nghiệm điều xấu mà có được tri thức tốt bao giờ. Biết bao người dở sống dở chết chỉ vì đôi phút tò mò muốn biết, muốn nếm thử, muốn có kinh nghiệm. Làm sao có thể học được sự sạch sẽ khi sống trong cống rãnh, và học biết văn hóa trong lối sống thô bỉ.
“Lỗi lầm lớn nhất của nền giáo dục hiện đại là tin tưởng rằng sự ngu dốt là căn cớ phát sinh sự xấu xa trên thế giới, cho nên cứ phải dồn thật nhiều sự hiểu biết vào đầu óc thanh thiếu niên. Nếu đúng như vậy thì phải công nhận rằng dân tộc nào càng học biết nhiều, càng đạo đức hơn. Thực tế khác hẳn, chưa bao giờ nền giáo dục được đẩy mạnh như ngày nay, nhưng chưa bao giờ người ta ít biết đến chân lý như ngày nay” (Fulton J. Sheen).
Ai cũng muốn cho mình là người hiểu biết, và luôn muốn tỏ ra sự hiểu biết của mình. Sự hiểu biết thì vô cùng vô tận, cho dù chúng ta có những hiểu biết chuyên biệt về một điều gì thôi, thì cũng giống như kênh rạch so với biển cả mênh mông trong chính điều đó. Bởi vậy nhà Hiền triết Socrates đã nói : “Đối với tôi, những điều tôi biết là những điều tôi không biết gì cả”. Chiều sâu của cuộc sống không phải là hơn thua nhau về số lượng hay chất lượng của những gì mình biết. Nhiều cái biết bên ngoài chỉ làm cho cuộc sống thêm tản mạn, và năng lực bị tản mát. Có những cái biết cần phải xóa mờ đi để những điều không biết được sáng tỏ. Hơn thế nữa, trong đời sống đức tin, người ta cũng chỉ chọn biết một điều ưu tiên giữa muôn điều không biết. Thánh Phaolô đã xác quyết “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”(1Cr 2,2).
Phải chứng thực rằng, sự ngu dốt có giá trị hơn sự sai lầm, vì lẫn lộn tri thức với trí tri (Scientia et sapeientia). Tri thức không làm cho người ta khôn ngoan nhưng chính sự khôn ngoan mới cho người ta biết tri thức. Hậu quả của nền giáo dục chỉ biết nhồi nhét sự hiểu biết làm cho giới trẻ càng nghi ngờ về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Nền giáo dục chân chính thì trái lại, giúp họ nhận ra sự hiện diện quyền năng và tình yêu của Người.
Cũng vậy, giáo dục sinh lý làm cho người ta lầm tưởng rằng, nếu con trẻ biết được hậu quả tác hại thì chúng sẽ tránh xa những hành động đó. Nhưng thực ra, sự hiểu biết đó không làm cho người ta khá hơn, mà còn có nguy cơ làm cho người ta ao ước điều xấu, nhất là khi biết được rằng, những hậu quả tác hại có thể tránh được. Điều này cho thấy không thể lẫn lộn giữa sinh lý và luân lý. Sự xấu không phát xuất do việc hiểu biết thiếu xót, nhưng do sự bất chính về hành động của con người. Cũng vậy, tính hạnh phát lộ không phải qua sự hiểu biết mà là qua sự lựa chọn. Điều quan trọng để trở thành đạo đức không phải là biết nhiều hơn nhưng là làm tốt hơn.
Mọi hiểu biết phải được thanh lọc để giúp cho cuộc sống bớt đi những cản trở và phân tán. Tri thức theo chiều rộng của lý trí phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung vào chiều sâu của tâm hồn, để tâm hồn trở nên tinh ròng hơn, có khả năng nếm hưởng những niềm vui thanh cao hơn. Không có niềm vui nào sánh kịp với niềm vui vô tội. Chính niềm vui này mới tạo nên sức mạnh làm cho cuộc sống vươn cao và tỏa sáng.
Chúng ta không hoàn toàn nằm trong tình trạng tội lỗi, nhưng chúng ta luôn dễ bị kềm chế bởi ảnh hưởng của tội lỗi: bởi những hiểu biết lệch lạc; bởi những nghe biết không chính xác; bởi chất chứa những thành kiến và ác cảm; bởi tình trạng tâm lý bị thất đoạt; bởi lối sống tầm thường; bởi một não trạng khô cứng; bởi những tư tưởng đã bị nhồi sọ; bởi những hành động bức xúc theo cảm tính; bởi đã có quá nhiều lạm dụng về sự hiểu biết...Tất cả những điều đó làm mất đi sự thanh tịnh và niềm vui của tâm hồn, làm bế tắc sự khôn ngoan chân chính.
Đại học “không biết” của Đức Maria
“Không biết” không phải là không biết, mà là phải biết như thế nào? Chính cái biết đó mới làm cho chúng ta hiểu được cái “không biết”. Hãy nhập vào trường Đại học của Đức Maria, một Đại học chuyên khoa về sự “không biết”, đặc biệt là sự không biết đến tội lỗi. Chính sự không biết này mới là đầu mối của mọi sự khôn ngoan. Điều làm cho tâm hồn được phong phú và cao đẹp không phải là học cao, biết nhiều, hiểu rộng, mà là biết khôn ngoan, không phải thứ khôn ngoan xác thịt, nhưng là một sự khôn ngoan đạo đức. Đó là biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình mọi nơi mọi lúc, cũng như đầy lòng kính sợ, yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự. Thiếu sự khôn ngoan này, mọi sự hiểu biết khác đều vô nghĩa, và mọi nhân đức khác đều khô cằn héo úa, không thể triển nở. Sự khôn ngoan đó làm cho mọi hiểu biết có một giá trị sâu xa. Sự khôn ngoan đó như ánh nắng, sương sa và mưa móc làm đâm chồi nẩy lộc mọi cây nhân đức khác, làm nên sự thánh thiện rạng ngời, là vẻ đẹp muôn thuở của Thiên Chúa thông ban cho Đức Mẹ. Bởi vậy, qua thánh Giêrônimô, chúng ta mới tuyên xưng “Mẹ là Tòa Khôn Ngoan”. Mặc dù Mẹ là người đàn bà quê mùa, không biết đến những văn minh tiến bộ của nhân loại, nhưng trong Mẹ có sự hiểu biết về sáng tạo, về vũ trụ và lịch sử. Sự hiểu biết đó thì tuyệt hảo hơn các triết gia cao cả nhất, hơn những lý luận của những thần học gia lớn lao nhất, và sự biệt phân tiên tri hơn mọi tiên tri. Sự khôn ngoan của Đức Mẹ phát xuất từ một tâm hồn vô tội, nên sáng suốt trong mọi lựa chọn và quyết định, luôn phù hợp với đường lối của Thiên Chúa.
Nếu tất cả nền Đạo học của Lão Tử đều xây dựng trên chữ VÔ, nhất là VÔ VI: nghĩa là Sống và làm việc theo đường lối tự nhiên của đạo, là trở về với tính đơn sơ hồn nhiên, sống thành thực với lòng mình theo cách thể hiện của trời đất, thì ta mới thấy sự khôn ngoan tuyệt hảo nơi Đức Mẹ, khi Mẹ đặt tất cả vào Thánh ý Chúa. Vô Vi như thế lại mở ra con đường muôn ngả: vô dục, vô tư, vô tranh, vô danh, vô kỷ, vô cầu. Tất vả chữ VÔ của Lão tử như là diễn tả sự lành thánh và khôn ngoan của Mẹ, để từ đó Mẹ sinh ra Đấng Thánh Thiện và Khôn Ngoan.
Như vậy Đại học “không biết” của Đức Maria cũng là Đại học “khôn ngoan” chưa từng có trên thế gian, vì đó là là sự khôn ngoan của chính Thiên Chúa, là đặc ân quí giá nhất của Thánh Thần, và là dung mạo về Đức Kitô từ trong Cựu Ước, phản ảnh ánh sáng vĩnh cửu (x. St 7, 26), Lời tạo thành của Thiên Chúa (Logos) (x. Tv 33, 9; Ga 1, 1).
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã lựa chọn sự “không biết” để sống cuộc đời mình cho Chúa. Sự “không biết” đó là không biết tìm kiếm mình; không biết thỏa mãn ý riêng mình; không biết đến sự khôn ngoan phàm tục; không biết đến danh vọng; không biết đến tranh giành ảnh hưởng, lợi lộc; không biết quy mọi cái về mình; không biết sống trỗi vượt; không biết cầu mong cho mình; không biết chỉ sống cho riêng mình; không biết hưởng lạc thú; không biết chiếm hữu; không biết mơ ước cao sang; không biết hãnh diện mình là trinh nữ vẹn toàn; không biết tỏ ra sự cao cả của mình được chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế... Có quá nhiều điều Mẹ không biết và không muốn biết trong cuộc sống nhân loại. Nhưng rồi từ đó, Chúa lại làm cho sự “không biết” của Mẹ trở thành sự khôn ngoan và thánh thiện của Người. Mẹ chọn lựa sự “không biết” để rồi được biết mọi sự, được “biết” chính Chúa, là vinh quang muôn đời của Mẹ.
Xin cho con học nơi Mẹ, biết yêu quí và thưởng thức những điều “không biết” của Mẹ để tận hiến cuộc đời mình cho Chúa. Xin cho con học biết và cố gắng nhìn xem con người, những sự vật và các biến cố như Chúa nhìn trong một tinh thần khôn ngoan đích thật. Amen.

Lm. Thái Nguyên (By Simon Hòa Dalat page)

Tháng hoa thắp cây nến kính mừng Đức Mẹ Chúa trời

1. Chúng con thắp cây nến lòng nhân ái nhớ đến Đức Mẹ xưa đã mở cánh cửa cung lòng cho Chúa Giêsu xuống thế làm người, khi Mẹ chấp nhận vâng theo thánh ý Chúa. Chúa Giêsu là hoa quả phúc lộc cho Mẹ, và cho hết mọi người chúng con.
Thắp cây nến này lên, chúng con muốn nói lên lời chân thành cám ơn cha mẹ chúng con, những người đã sinh thành, trao tặng lòng nhân ái thương yêu dậy dỗ chúng con nên người, như Đức Mẹ xưa đã làm cho Chúa Giêsu.
2. Chúng con cây thắp cây nến lòng lễ nghĩa trước tượng Đức Mẹ, muốn nói lên cung cách Đức Mẹ xưa kia đã sống niềm tin đạo giáo giữ lễ nghĩa, kính thờ yêu mến Thiên Chúa.
Cuộc sống kính trọng gìn giữ lễ nghĩa của Đức Mẹ là gương mẫu cho chúng con sống với Chúa, với ông bà cha mẹ anh chị em, vợ chồng v?i nhau trong gia đình. Đời sống có lễ nghĩa là cuộc sống tràn đầy đạo đức tình người với nhau.
3. Tháng hoa chúng con mừng kính Đức Mẹ qua lời ca tiếng hát trầm bổng phát xuất từ tận đáy tâm hồn. Đó cũng là tâm tình vui mừng với Thiên Chúa là Cha đời mình, mà Đức Mẹ đã bày tỏ qua lời ca ngợi: Linh hồn tung hô Chúa. Thần trí tôi mừng vui trong Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc tôi!
Chúng con thắp cây nến lòng hiếu thảo mừng kính Mẹ Chúa Trời.
Ước gì ánh sáng cây nến lòng hiếu thảo của Đức Mẹ chiếu lan tỏa tới tâm hồn chúng con, biết sống lòng kính trọng với Thiên Chúa và lòng biết ơn người sinh thành, cũng như người làm ơn cho chúng con!
4. Tháng hoa chúng con chào kính Mẹ Chúa vinh quang qua ánh sáng cây nến chiếu tỏa sức sống sáng tạo của trí khôn mà Thiên Chúa đã phú ban cho Mẹ. Phát xuất từ trí óc sáng tạo Mẹ đã tiên liệu việc Chúa làm: Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1,50).
Ôi, lời chan hòa tình tự sự hiểu biết và trí khôn ngoan đặt nơi cội nguồn đời sống! Cùng với Mẹ trên trời, chúng con chúc tụng và cám ơn Thiên Chúa, Đấng đã phú ban cho con người kho tàng tài sản châu báu là trí khôn!
5. Tháng hoa chúng con ca ngợi Me bằng ánh sáng cây nến lòng trung thành. Xưa kia Mẹ âm thầm ghi nhớ mọi biến cố kỷ niệm xảy ra trong tâm hồn. Mẹ theo dõi cuộc tử nạn Chúa Giêsu trong mọi bước đường. Dưới chân thánh giá Mẹ đứng đó chứng kiến giờ phút sau cùng của Chúa Giêsu.
Lòng trung thành là nhân đức quí báu và cần thiết cho đời sống làm người với Chúa, giữa vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em, bạn bè với nhau trong gia đình và trong cộng đoàn xã hội.
6. Cùng với đóa hoa hồng tươi thắm, chúng con thắp cây nến lòng thành tín mừng kính Mẹ Chúa trời hiển vinh. Mẹ đã sống tình nghĩa con người đến thăm người bà con chị họ E-li-sa-bét. Mẹ đã bầu cử, cứu giúp đôi bạn trẻ ngày thành hôn, khi họ lâm cảnh khó khăn. Vì giữa tiệc cạn hết rượu. Mẹ quan tâm tới đời sống gia đình trước hết.
Cung cách sống thành tín mang đến cho nhau trong cuộc sống niềm vui và sự an toàn, nhất là trong bước đường gặp nghi nan lo âu. Xin Đức Mẹ cầu bầu cho các gia đình. Giúp họ củng cố lòng tín nghĩa với nhau, những khi “rượu tình yêu“ trong đời sống hầu sắp cạn!
7. Cùng với cành bông hoa Hướng dương, chúng con thắp cây nến lòng dũng cảm chào kính Mẹ Chúa thiên đàng.
Mẹ đã can đảm chấp nhận cưu mang Chúa Giêsu như Thiên Chúa đã hoạch định và hạ sinh trẻ Giêsu giữa cánh đồng trong chuồng xúc vật. Mẹ cùng với Thánh Giuse chấp nhận cuộc sống tỵ nạn bên Ai-Cập và âm thầm sống tại làng quê Na-da-rét. Mẹ luôn ở bên cạnh các Tông đồ trong những giờ phút nguy hiểm u buồn lúc Chúa Giêsu chết trên thánh giá. Và cùng với họ can đảm chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lòng dũng cảm là nhân đức cao thượng trong cuộc sống.
Lòng dũng cảm hun đúc đào tạo nên những con người thánh, những con người anh hùng có đời sống đạo đức tình người.
Xin Đức Mẹ bầu cử cho con em bạn trẻ biết quí mến nếp sống hy sinh, và lòng chân thành hướng về ngày mai! Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ!
Lm Nguyen ngoc Long (By SONGDUCTIN)

Monday, April 30, 2007

Chúa Nhật 4 Phục Sinh - 4th Sunday of Easter (John 10:27-30)

Bài Đọc I: Acts 5:27-32,40-41 II: Rev 5:11-14
Phúc Âm Gioan 10:27-30
27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.30 Tôi và Chúa Cha là một".
Chi Tiết Hay
+ Bấy giờ là mùa đông, Đức Giêsu ở trong đền thờ vào dịp kỵ niệm lễ Cung Hiến Đền Thờ. Lễ này bắt nguồn từ cuộc nổi dậy chiến thắng của dân Do thái chống lại sự đô hộ của người Syria xảy ra hồi năm 164 trước Tây Lịch. Trong câu 24 của chương này, người Do Thái hỏi Đức Giêsu phải chăng Ngài là Đấng Mêsia, nghiã là Ngài có phải là người sẽ giải thoát họ khỏi ách nô lệ hay chăng. Lời giải đáp của Đức Giêsu ở đây không làm cho họ thoả mãn nên họ định ném đá Ngài (c.31).
+ Người chăn chiên là một danh hiệu thường được dùng cho vua hoặc lãnh tụ của dân vùng Mesopotamia xưa kia và cả Do Thái nữa. Thiên Chúa cũng được gọi là Chủ chiên của dân Do Thái (Sáng Thế 48:15, TV 28:9, vv.)
+ "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi" (c.27). Ít người chăn chiên có một chuồng chiên riêng của mình, họ thường chung nhau nhốt chiên vào một chỗ vào buổi tối. Sáng hôm sau, mỗi người đến gọi riêng những con chiên của mình ra.
+ "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời" (c.28). Đức Giêsu là một người chăn chiên đặc biệt. Không những nuôi nấng và biết con chiên của mình, Ngài còn cho chúng sự sống đời đời; không phải chỉ một cuộc sống, nhưng là "cuộc sống dồi dào" (10:10).
+ "Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha" (c.29). Sức mạnh tuyệt đối này trong Kinh Thánh Cựu Ước dành riêng cho Thượng Đế, như trong câu mọi linh hồn đều ở trong bàn tay Chúa (Khôn Ngoan 3:1) và không ai cướp được chúng khỏi bàn tay Chúa (Isaia 43:13). Vậy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Hơn nữa, Ngài cũng là Thiên Chúa, và cũng có sức mạnh như thế để bảo vệ mọi linh hồn.
+ "Tôi và Chúa Cha là một" (c.30). Câu văn ngắn này nói một cách rõ ràng sự hiệp nhất trong quyền năng và hành động, và từ đó Giáo Hội đã ban bố tín điều Chúa Ba Ngôi.
Sự hiệp nhất, trong câu 30, cũng nối kết mọi ngưòi lại với nhau: "để họ nên một như chúng ta" (17:11).
Một Điểm Chính: Chúa Ba Ngôi nối kết chúng ta lại trong tình thương và cho chúng ta sự sống dồi dào và vĩnh cửu.
Suy Niệm
1. Tôi có lắng nghe lời mời gọi của Chúa để có thể theo Ngài và nhờ đó được Ngài nuôi sống?
2. Nhìn lại cuộc sống của tôi, tôi có nhận ra Chúa đang nuô nấng và dẫn dắt tôi chăng?
3. Tôi có hiệp nhất được với mọi người, giàu cũng như nghèo, không phân biệt quốc gia? Lý do tại sao?
--------------------------------------------
4th Sunday of Easter
Reading I: Acts 13:14,43-52 II: Rev 7:9,14-17
Gospel John 10:27-30
27 My sheep hear my voice, and I know them, and they follow me;28 and I give them eternal life, and they shall never perish, and no one shall snatch them out of my hand.29 My Father, who has given them to me, is greater than all, and no one is able to snatch them out of the Father's hand.30 I and the Father are one."
Interesting Details
+ The context. Jesus was at the temple in the winter, at the feast of Hanukkah, which celebrated the reconsecration of the temple in 164 BC after a Jewish revolt against the Syrian domination. In v. 24 of this chapter, the Jews asked whether Jesus was the Messiah, meaning whether he would deliver them from foreign dominion again. What Jesus said here did not satisfy them, so they wanted to stone him (v. 31).
+ Shepherd was a title commonly used for the king or ruler of the people in ancient Mesopotamia and also in Israel. God Himself is called the Shepherd of Israel (Gen. 48:15, Ps. 28:9, etc.)
+ "My sheep hear my voice" (v. 27). Few people had their own sheep-pen, so different shepherds put their sheep together in the same pen each evening. Next morning, each shepherd would call his own sheep.
+ "I give them eternal life" (v. 28). Jesus is a special shepherd. Not only he knows and feeds his sheep, but he also gives them eternal life; not only a life, but "have [life] to the full" (Jn 10:10).
+ "From my Father's hand no one can snatch away" (v. 29). This supreme power shows that the Father is God, because the souls are in God's hand (Wisdom 3:1) and no one can snatch them from God's hand (Isaiah 43:13). So Jesus is the Son of God. Furthermore, he is also God, and has the same power to protect souls.
+ "The Father and I are one" (v. 30). This short verse expresses clearly he unity of power and operation, and led to the 4th-century Church doctrine of one divine nature in the Trinity.
+ The unity in verse 30 also binds all people together: "that they may be one, even as we (Jn 17:11).
One Main Point: The Trinity binds us together in love and gives us a full, eternal life.
Reflections
1. Do I listen to the Lord's call so that I can follow Him and he can feed me?
2. Looking at my life, do I see how the Lord has fed and led me?
3. Am I united with all people, rich and poor, in all nations? Why, or why not?

Sunday, April 22, 2007

Chúa Nhật 3 Phục Sinh - 3rd Sunday of Easter (John 21:1-19)

Bài Đọc I: Acts 5:27-32,40-41 II: Rev 5:11-14
Phúc Âm Gioan 21:1-19
1 Sau đó, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này.2 Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau.3 Ông Simon nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây". Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh". Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.4 Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu.5 Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không".6 Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, anh em sẽ bắt được cá". Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.7 Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với Phêrô: "Chúa đó!" Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Simon Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển.8 Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.9 Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa.10 Đức Giêsu bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây!"11 Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách.12 Đức Giêsu nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "ông là ai?", vì các ông biết rằng đó là Chúa.13 Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy.14 Đó là lần thứ ba Đức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi chỗi dậy từ cõi chết.15 Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Đức Giêsu nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy".16 Người lại hỏi: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy".17 Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?" Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy". Đức Giêsu bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn".19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy".
Chi Tiết Hay
Phúc âm thánh Gioan có hai cảnh bên bếp than hồng. Trong chương 18, Phêrô chối thầy ba lần bên lò sưởi. Ở đoạn này, cũng bên bếp than, ông lại bày tỏ tình thuơng với Thầy mình ba lần. Tình thương đã tẩy xóa tội của ông và nối kết ông trở lại với Đức Giêsu.
Tình thương dẫn đến hành động. Cụ thể là việc nuôi nấng săn sóc đàn chiên của Đức Giêsu (cc.15-17) dù cho có phải thiệt chính mạng sống của mình (c.18). Đàn chiên thuộc về Đức Giêsu chứ không thuộc về Phêrô.
Tình thương cũng đem lại ánh sáng và sự hiểu biết: người môn đệ dược yêu mến (tức Thánh Gioan) là người đầu tiên nhận ra Đức Giêsu (c.7). Tình thương của Gioan dành cho Thầy đã làm lợi cho Gioan nhiều hơn Phêrô trong nhiều trường hợp khác nữa: trong bữa tiệc ly Gioan được ngồi cạnh Thầy (13:23); rồi khi Phêrô cần hỏi Thầy cũng phải nhờ Gioan hỏi dùm. Rồi khi Gioan cũng như Thầy Giêsu vào nhà Caipha bằng cổng chính như những mục tử, thì Phêrô lại phải ở ngoài chờ Gioan ra dẫn vào như dẫn chiên con.
Các môn đệ của Gioan, những người viết chương này, rất hãnh diện là Thầy Gioan của họ thân mật với Đức Giêsu một cách đặc biệt, nhưng họ cũng công nhận một cách rõ ràng trong chương này là Đức Giêsu đã chọn Phêrô làm thủ lãnh. Tuy nhiên Phêrô chỉ được ban chức này sau khi công bố yêu Thầy, như Gioan đã yêu.
Bữa ăn mà Đức Giêsu dọn cho các môn đệ (cc.9-13) chỉ tới phép Thánh Thể. Các môn đệ mang 153 con cá, biểu hiệu cho cả thế giới, đến với Đức Giêsu. Lưới không rách là dấu chỉ sự hiệp nhất.
Một Điểm Chính: Vì yêu, Đức Giêsu nhờ các môn đệ mang cả thế giới đến dự tiệc Thánh Thể Với Ngài, để Ngài nuôi cả nhân loại bằng chính Ngài.
Suy Niệm
1. Khi Chúa hỏi tôi, "Con có yêu Thầy không?" tôi sẽ trả lời Ngài thế nào?
2. Trong tình yêu, Thầy Giêsu mời gọi tôi làm gì ngay trong hoàn cảnh hiện tại?
3. Tôi sẽ đáp lời mời gọi của Ngài tới mức độ nào?
-------------------------------------------------------------------------------
3rd Sunday of Easter
Reading I: Acts 5:27-32,40-41 II: Rev 5:11-14
Gospel John 21:1-19
1 After this Jesus revealed himself again to the disciples by the Sea of Tibe'ri-as; and he revealed himself in this way.2 Simon Peter, Thomas called the Twin, Nathan'a-el of Cana in Galilee, the sons of Zeb'edee, and two others of his disciples were together.3 Simon Peter said to them, "I am going fishing." They said to him, "We will go with you." They went out and got into the boat; but that night they caught nothing.4 Just as day was breaking, Jesus stood on the beach; yet the disciples did not know that it was Jesus.5 Jesus said to them, "Children, have you any fish?" They answered him, "No."6 He said to them, "Cast the net on the right side of the boat, and you will find some." So they cast it, and now they were not able to haul it in, for the quantity of fish.7 That disciple whom Jesus loved said to Peter, "It is the Lord!" When Simon Peter heard that it was the Lord, he put on his clothes, for he was stripped for work, and sprang into the sea.8 But the other disciples came in the boat, dragging the net full of fish, for they were not far from the land, but about a hundred yards off.9 When they got out on land, they saw a charcoal fire there, with fish lying on it, and bread.10 Jesus said to them, "Bring some of the fish that you have just caught."11 So Simon Peter went aboard and hauled the net ashore, full of large fish, a hundred and fifty-three of them; and although there were so many, the net was not torn.12 Jesus said to them, "Come and have breakfast." Now none of the disciples dared ask him, "Who are you?" They knew it was the Lord.13 Jesus came and took the bread and gave it to them, and so with the fish.14 This was now the third time that Jesus was revealed to the disciples after he was raised from the dead.15 When they had finished breakfast, Jesus said to Simon Peter, "Simon, son of John, do you love me more than these?" He said to him, "Yes, Lord; you know that I love you." He said to him, "Feed my lambs."16 A second time he said to him, "Simon, son of John, do you love me?" He said to him, "Yes, Lord; you know that I love you." He said to him, "Tend my sheep."17 He said to him the third time, "Simon, son of John, do you love me?" Peter was grieved because he said to him the third time, "Do you love me?" And he said to him, "Lord, you know everything; you know that I love you." Jesus said to him, "Feed my sheep.18 Truly, truly, I say to you, when you were young, you girded yourself and walked where you would; but when you are old, you will stretch out your hands, and another will gird you and carry you where you do not wish to go."19 (This he said to show by what death he was to glorify God.) And after this he said to him, "Follow me."
Interesting Details
John's Gospel has two charcoal fire scenes. In chapter 18, Peter denied Jesus three times. In this chapter, Peter professed his love for Jesus three times. Love heals his sins and reunites him to Jesus.
From love comes deeds, namely feeding and tending Jesus' lambs and sheep (vv.15-17), even if the actions cost one's life (v. 18). The lambs and sheep belong to Jesus, not Peter.
Love also gives light: the beloved disciple recognized Jesus first (v.7). John's love also gave him advantages over Peter in other situations: John sat next to Jesus at the last supper (13:23); Peter relied on John to ask Jesus a question (13:24-25); and John, like Jesus, entered Caiapha's courtyard through the gate like a true shepherd, while Peter had to wait for John to lead him in like a sheep.
Regardless of an apparent pride among John's disciples about John's closeness to Jesus, they acknowledge in this appendix, chapter 21, that Jesus chose Peter to be the leader, but only after Peter professed what John has abundantly, namely love for Jesus.
The meal that Jesus prepares (vv.9-13) is an Eucharistic symbol. The disciples bring the whole world (153 fish) to Christ in this meal. The untorn net holding all these fish together points to a unity.
One Main Point: Out of love, Jesus' disciples are called to unite and bring the whole world to Christ in the Eucharistic celebration, where Christ feeds all.
Reflections
1. When Jesus asks me, "Do you love me?" how would I reply?
2. Out of love for Jesus, what does Jesus ask me to do here and now?
3. To what extent would I accept his invitation for action?

Sunday, April 15, 2007

Chúa Nhật 2 Phục Sinh - 2nd Sunday of Easter (John 20:19-31)

Bài Đọc I: Acts 5:12-16 II: Rev 1:9-13,17-19
Phúc Âm Gioan 20:19-31
(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an!" (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: "Chúc anh em được bình an! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (24) Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Đi-dy-mô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không sỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (26) Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an!" (27) Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." (28) Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (29) Đức Giêsu bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" (30) Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.
Chi Tiết Hay
+ Đoạn Phúc Âm này tả lại phần thứ hai của việc Đức Kitô hiện ra với các tông đồ theo các Phúc Âm của Matthêu, Luca và Gioan. Tuy nhiên chỉ có Phúc Âm của Gioan mới kể chuyện xảy đến với Tôma. Thánh Gioan không nói rõ có bao nhiêu người hiện diện vì thế có thể có hơn 12 người ở đó, không kể Tôma và Giuđa.
+ (c.20) Các tông đồ vui mừng vì thấy Đức Kitô. Ngài đã giữ đúng lời hứa trước đó (16:22) khi nói rằng: "Nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng"
+ (c.22) Đức Kitô thổi hơi vào các ông như xưa kia Thiên Chúa đã thổi sự sống vào Adong: Đức Giêsu đã tái tạo các ông bằng Thần Khí.
+ (c.27) Sau khi nói "đặt tay vào", chúng ta tưởng Đức Kitô sẽ nói tiếp "và hãy cảm giác thấy", nhưng, thay vào đó Ngài lại bảo "và nhìn xem", có nghiã là "hãy thực sự nhận ra" hoặc là "hãy hiểu"
+ Các môn đệ mỗi ngày một hiểu biết Thầy mình rõ hơn và dần dần đặt cho Ngài các danh hiệu càng ngày càng chính xác hơn. Ở đây Tôma gọi Ngài bằng danh xưng cuối cùng và chính xác nhất: Đức Giêsu là Chúa, là Thiên Chúa.
+ (c.28) Trong phần kết của cuốn Phúc Âm nguyên thủy, Gioan dùng lời của Tôma để lập lại lời mở đầu: "Ngôi Lời là Thiên Chúa" (1:1)
Một Điểm Chính: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!". Tôma tuyên xưng, không phải vì đã thấy, nhưng vì ông đã tin, và điều ông tin là tất cả sự thật.
Suy Niệm
1. Hãy tưởng tượng bạn đang ở trong phòng với các tông đồ khi Đức Giêsu hiện ra. Hãy nhìn những phản ứng của họ, và nhìn Đức Giêsu khi Ngài ban phép lành cho bạn. Bạn muốn thưa với Ngài điều gì?
2. Chúng ta giống và khác Tôma ở những điểm gì?
3. Điều gì, hoặc ai, đã giúp bạn tin Đức Giêsu và được sự sống?
--------------------------------------------------------------------
2nd Sunday of Easter
Reading I: Acts 5:12-16 II: Rev 1:9-13,17-19
Gospel John 20:19-31
(19) On the evening of that day, the first day of the week, the doors being shut where the disciples were, for fear of the Jews, Jesus came and stood among them and said to them, "Peace be with you." (20) When he had said this, he showed them his hands and his side. Then the disciples were glad when they saw the Lord. (21) Jesus said to them again, "Peace be with you. As the Father has sent me, even so I send you." (22) And when he had said this, he breathed on them, and said to them, "Receive the Holy Spirit. (23) If you forgive the sins of any, they are forgiven; if you retain the sins of any, they are retained." (24) Now Thomas, one of the twelve, called the Twin, was not with them when Jesus came. (25) So the other disciples told him, "We have seen the Lord." But he said to them, "Unless I see in his hands the print of the nails, and place my finger in the mark of the nails, and place my hand in his side, I will not believe." (26) Eight days later, his disciples were again in the house, and Thomas was with them. The doors were shut, but Jesus came and stood among them, and said, "Peace be with you." (27) Then he said to Thomas, "Put your finger here, and see my hands; and put out your hand, and place it in my side; do not be faithless, but believing." (28) Thomas answered him, "My Lord and my God!" (29) Jesus said to him, "Have you believed because you have seen me? Blessed are those who have not seen and yet believe." (30) Now Jesus did many other signs in the presence of the disciples, which are not written in this book; (31) but these are written that you may believe that Jesus is the Christ, the Son of God, and that believing you may have life in his name.
Interesting Details
+ This narrative describes the second part of the appearances to the disciples on Easter evening which appears in various forms in Matthew, Luke and here. But John alone relates the incident of Thomas. John does not specify how many disciples were present, so it may well have been more than twelve - not including Thomas and Judas.
+ (v.20) The disciples were glad when they saw the Lord. Jesus fulfills his promise expressed earlier in (16:22) when he says: "But I will see you again and your hearts will rejoice".
+(v.22) The word "spirit" also means breath. Jesus breathes on them as God had breathed life into Adam: Jesus recreates them with the Holy Spirit.
+ (v.27) After the verb "put", we would expect "and feel". Instead, Jesus asks Thomas to "see", meaning "really see" or "understand".
+ As the disciples gradually gain better knowledge of Jesus, they give Jesus a series of titles with increased accuracy. Here, Thomas gives the final title, the definite one: Jesus is LORD GOD.
+ (v.28) In the original conclusion to this Gospel, the final statement by Thomas repeats its opening truth: "the Word was God" (1:1).
One Main Point: "My Lord and my God!". Thomas expresses, not what he has seen, but what he now believes, and it is the complete truth.
Reflections
1. Imagine you are in the room with the disciples when Jesus appears. Look at the disciples' reactions, at Jesus as he blesses you. What do you have to say to Jesus?
2. In what ways are we like or unlike Thomas?
3. What (or who) has helped me to believe in Jesus and have life?

Sunday, April 08, 2007

Chúa Nhật Phục Sinh - Easter Sunday (John 20:1-10)

Bài Đọc I: Acts 10:37-43 II: 1Cor 5:6-8
Phúc Âm Gioan 20:1-10
(1) Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. (2) Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?. (3) Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. (4) Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. (5) Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. (6) Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, (7) và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. (8) Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (9) Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải chổi dậy từ cõi chết. (10) Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.
Chi Tiết Hay
+ Tường thuật ngôi mộ trống này khởi đầu phần cuối của Phúc Âm Gioan, tức chương 20. Phần này gồm: Đức Giêsu phục sinh (cc.1-10) và hiện ra với Maria Mác-đa-la (cc.11-18), các môn đệ không kể Tôma (cc.19-23), và các môn đệ với Tôma (cc.24-29).
+ Trong câu 19:41 ở đoạn ngay trước, Đức Giêsu được mai táng trong ngôi mộ tại một thưả vườn. "Ngôi mộ" này có lẽ giống một cái hang, có cửa ra vào cao khoảng một thước; vì thế môn đệ kia đã phải cúi xuống để nhìn vào trong (c.5).
+ Thi thể của Đức Giêsu đã không được liệm vào hòm nhưng có lẽ đặt trong một cái "arcosolia", một cái khe hình bán cung, dược cắt vào ngang vách hang như một chiếc gường, sâu khoảng một thước.
+ Thi thể được ướp dầu thơm và có băng vải cuốn bọc, mặt thì che bằng tấm khăn nhỏ. Sự xắp xếp các băng vải và khăn che mặt cho thấy thi thể không bị mất cắp vì kẻ trộm không cởi băng và khăn, xếp gọn gàng, rồi mang cái xác đi không.
+ Tường thuật này có những điểm khó hiểu, ví dụ như việc bà Maria Mác-đa-la ra mộ một mình nhưng lại nói với Phêrô là "chúng tôi" (c. 2). Ngoài ra trong đó còn nhiều chi tiết khác biệt với những tường thuật phục sinh trong Phúc Âm Nhất Lãm.
+ Câu 9 trong bản dịch mà chúng ta đang dùng của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ có thể bị hiểu lầm vì nó ám chỉ từ đó "hai ông" đã hiểu Kinh Thánh. Cha Thuấn (và các bản Anh ngữ) dịch là: "Là vì họ chưa hiểu lời Kinh Thánh là Ngài phải sống lại từ cõi chết." Có ý nói: họ vẫn chưa hiểu Kinh Thánh. Ngoài ra, đại từ "họ" chính xác hơn "hai ông" vì nó có thể bao gồm cả Maria Mác-đa-la nữa.
+ Câu 8: "ông đã thấy và đã tin" (theo bản dịch của Cha Thuấn) xem ra trái nghĩa với câu 9: "họ chưa hiểu lời Kinh Thánh". Giải thích dễ hiểu nhất là người môn đệ nhìn thấy những chứng tích trong ngôi mộ, chứ không dựa theo Kinh Thánh mà tin Đức Giêsu đã sống lại (xem Newman tr.606).
Một Điểm Chính: Sự phục sinh là vinh quang cao cả nhất của Đức Giêsu. Đó là sự chiến thắng trên sự chết. Đó là nền tảng của Đức Tin Kitô.
Suy Niệm
1. Hình dung bạn đang đứng trước ngôi mộ trống, nhìn vào đó, bạn thấy gì? Ngửi thấy gì?
2. Đặt mình vào chỗ của Phêrô: cắn rứt vì phản bội Thầy, đau khổ vì cái chết của Thầy, và bây giờ ngay cả xác Thầy cũng không còn! Bạn có cảm nghiệm mất Thầy chưa?
3. Người môn đồ Đức Giêsu thương mến nhìn thấy băng vải và khăn và đã tin. Bạn đã có dấu vết bằng chứng cụ thể nào trong đời, để giúp bạn tin vào Đức Kitô Phục sinh?
----------------------------------------------------------
Easter Sunday
Reading I: Acts 10:37-43 II: 1Cor 5:6-8
Gospel John 20:1-10
(1) Now on the first day of the week Mary Mag'dalene came to the tomb early, while it was still dark, and saw that the stone had been taken away from the tomb. (2) So she ran, and went to Simon Peter and the other disciple, the one whom Jesus loved, and said to them, "They have taken the Lord out of the tomb, and we do not know where they have laid him." (3) Peter then came out with the other disciple, and they went toward the tomb. (4) They both ran, but the other disciple outran Peter and reached the tomb first; (5) and stooping to look in, he saw the linen cloths lying there, but he did not go in. (6) Then Simon Peter came, following him, and went into the tomb; he saw the linen cloths lying, (7) and the napkin, which had been on his head, not lying with the linen cloths but rolled up in a place by itself. (8) Then the other disciple, who reached the tomb first, also went in, and he saw and believed; (9) for as yet they did not know the scripture, that he must rise from the dead. (10) Then the disciples went back to their homes.
Interesting Details
+ This passage opens the last part of John's Gospel (ch.20): the resurrection and appearance of Jesus. This chapter contains the resurrection with the empty tomb story (vv.1-10) and Jesus' appearances to Mary Magdalene (vv.11-18), to the disciples without Thomas (vv.19-23), and to the disciples with Thomas (vv.24-29).
+ In the preceding passage, Jesus' body was laid in a new tomb in the garden (19:41). This tomb was probably a horizontal cave with a small ground-level entrance, usually less than a yard high. This explains why the disciple must bend down to look inside (v.5).
+ Jesus' body was not put into a coffin but probably laid in an "arcosolia", a semi-circle niche, a sort of side-way flat bed formed by cutting two or three feet deep into the side of the cave.
+ His body was wrapped in cloth and aromatic oils, and the face was covered with a small piece of cloth. The presence of the cloths in vv.6-7 shows that the body was probably not stolen because thieves would not unwrap and fold the cloths so neatly.
+ There are some difficulties within this story, for example, Mary Magdalene went to the tomb alone but in v.2 the pronoun "we" is used. Furthermore, some details are different from the synoptic resurrection accounts.
+ "He saw and believed" (v. 8) seems to contradict with "they still did not understand the scripture" (v.9). The most natural explanation is that the beloved disciple believed that Jesus had risen from the dead based on his own observation of the empty tomb rather than on the scripture (See Newman p.606).
One Main Point: The resurrection is Jesus' ultimate glory. It is the sign of the victory over death, the hope for us, and the basis for our Christian faith.
Reflections
1. Imagine that you are standing in front of the empty tomb and looking in, what does the tomb look like? Is it foul? What do you see?
2. Put yourself in Peter's place: guilt-ridden by his betrayal of Jesus, dispirited by Jesus' death, and now the body was gone! Have you ever experienced moments when God is absent from your life?
3. The beloved disciples saw the folded linen cloths and believed. Can you recall one specific sign that led you to believe in the Risen Lord?

Saturday, April 07, 2007

Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh

Tin Vui Thoi Diem Chua Phuc Sinh...
CẢM ƠN ĐẤT ĐÁ TRỔ HOA
Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng đến gần thì nhận ra đó chỉ là một cái xác, có một kẽ nứt phía sau lưng. Đúng là mồ trống rồi. “Nó” đi đâu mất? Bên cạnh là một nụ hoa chớm nở đầy sức sống. Không thấy “nó”, nhưng trông thấy biểu hiện của “nó” nơi một nụ hoa mới thì chẳng phải mất công tìm ở đâu nữa. Nó đã lột xác và đã phục sinh mang một dạng hình khác đầy hoạt lực tươi trẻ. Với cảm hứng này, tôi đã lấy máy chụp ra mà chộp được cái nét hồn của chính mình đang chuyển biến qua biểu tượng đời sống, và đặt tên là "Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh."
CHỜ ĐÓN MÙA HOA
"Hope For the Flowers" tạm dịch là Chờ Đón Mùa Hoa. Đó là tên một cuốn sách tâm linh khá nổi tiếng, bán chạy nhất trong nhiều năm liền của tác giả Trina Paulus. Cái đặc biệt của cuốn sách này là rất ít chữ mà chỉ có hình vẽ thôi. Mà lại toàn là hình sâu róm, sợ quá!
Con sâu róm sinh ra trên một cành cây trong một ”gia đình êm ấm”. Một hôm nó nhận ra mình đã trưởng thành, cần ”đi xuống cuộc đời”. Và nó đã bò xuống. Nó lấy làm lạ là tại sao nó toàn gặp những con sâu đang đi hối hả về phía trước. Nó hỏi đi đâu, thì những chú sâu không có giờ trả lời, chỉ ngoắc đầu thật nghiêm trọng. Nó cũng sinh tò mò đi theo. Một lúc lâu thì nó thấy một cái cột thật cao, ngọn chạm tới trời. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra đó là một cái cột toàn sâu lúc nhúc đang chen nhau bò lên. Nó hỏi trên đó có gì thì không đứa nào trả lời. Thấy đông đứa hăm hở như thế chắc là phải có gì hồ hởi lắm. Vậy là nó cũng hòa mình vào đám đông ”ai sao tôi dzậy” mà cố sức leo lên, đạp văng nhiều thằng khác mà đạt mục tiêu. Lên đến lưng chừng thì nó ”thấm mệt cuộc đời”, ”ngựa nản chân bon”, bèn nghĩ chuyện bỏ cuộc. Chắc là chả có gì đâu. Và nó bò được xuống đất. Hú hồn.
Nhưng rồi nó đâm hồ nghi chính nó. Hay là mình chẳng giống ai. Nó quan sát thấy ”người ta” miệt mài tranh nhau bò lên thế kia, ắt là phải có cái gì chứ. Thế là nó lại ra sức trèo lên một lần nữa. Lần này nó hung hãn hơn trước. Đấm đá kỹ hơn. La hét kỹ hơn. Tỏ ra ta đây lắm. Và cuối cùng nó đã leo lên được đỉnh cao chót vót. Nhưng cũng chính là lúc nó thất vọng nhất. Chẳng có gì cả. Thì ra cái cột giầu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặt ra tiêu chuẩn giá trị. Nhìn sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nhìn kỹ để phát giác một điều lạ là ở cành cây đang đeo lủng lẳng những cái tổ kén. Đó là những cái mồ chôn để sâu có thể chui vào mà lột xác thành bướm. Con đường thật là kham khổ đầu tắt mặt tối "chân lấm tay bùn", ai mà chẳng sợ! Nhưng có con đường nào khác nữa đâu?!
TIN VUI TÌM ĐỘNG HOA VÀNG
Mặc dù đang thấy hiện trạng là con sâu, nhưng con sâu biết bản chất của nó là có thể mọc cánh thành bướm bay lên được. Này nhé: Sâu có thể trở thành bướm, những mô đất đá cằn cỗi hai bên đường bỗng bật lên những mầm nụ mới vào buổi sang xuân, chẳng phải là sửng sốt lắm sao?!
Cao điểm của năm phụng vụ trong Đạo Chúa là Lễ Phục Sinh. Kể cũng lạ đấy, Tuần Thánh bao giờ cũng trùng vào đầu mùa xuân hoa nở. Hằng ngày đi đến nhà thờ, tôi thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans, bang Louisiana. Nhưng đẹp nhất phải kể là những ngày đầu xuân. Bãi cỏ xơ xác hai bên đường mùa đông nay bỗng trải dài một thảm hoa vàng mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao theo kiểu Phạm Thiên Thư với nhạc Phạm Duy:
Rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say.
Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng, mà cũng thật gần tầm tay với. Con đường này chắc cũng nhiều người qua lại mỗi ngày. Không biết được mấy người lái xe chậm lại một chút để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật lên lời thơ của Tô Thùy Yên:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cảm ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.
NHỊP ĐIỆU LUÂN VŨ
Chắc là Tô Thùy Yên đã bị đầy đọa vùi dập mười năm chứ gì. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài dệt bằng những tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp. Vậy mà mình bỗng bắt lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Nó nở để cho hoa mình nở. Mọi phiền muộn bỗng dưng thành hòa khúc dịu êm. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng “big bang”.
Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có điệu ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như tia nắng vừa lên, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi khoảnh khắc. Thì ra vạn vật đều đi theo một vũ khúc bao la đất trời, gồm ba giai đoạn, tức là nhịp ba, nhịp luân vũ. Đây cũng là tiến trình chết đi và phục sinh, niềm tin gốc của đạo Chúa, nơi Đức Giêsu, và nơi mỗi người.
Nhận ra hiện trạng mình là một hạt cây hay con sâu với hướng vọng thành lá hoa với đàn bướm tung tăng.
Dám chấp nhận bị vùi giập thối rữa hay chui vào tổ kén, chấp nhận được những trở ngại, những khổ đau. Mình đâu có dễ tự mình lột xác được. Thì đây mình được gửi đến những thập giá giúp mình lột xác biến thể. Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ vẫn trơ trọi một mình (Gioan 12:24). Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết đi sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25).
Mọc cánh thành bướm vươn lên một cuộc sống mới thênh thang thảnh thơi, không còn gì có thể chế ngự ràng buộc được nữa.
PHÚT TỊNH TÂM
Nhưng con người nhiều khi lại không khôn ngoan được như thế, mà cứ cố bám lấy lớp vỏ dầy cứng khiến đời sống mỗi ngày mỗi tàn tạ?! Nhà thơ Luân Hoán thấy cảnh đáng thương như vậy liền cất lời tự tình:
Cảm ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài.
Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây thập tự như “ỷ thiên kiếm” được gửi đến để chém chặt khai quang cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã làm ta nên người. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Ngày lễ Phục sinh thể hiện đúng tiết nhịp hoa nở. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.
Hạt cây không phục sinh trở lại hạt cây, nhưng đã là hoa lá mới. Con sâu không rụng lông sống lại với kiếp sâu róm, nhưng đã thành con bướm bay. Đó mới là cảm nghiệm phục sinh cho tôi lúc này.
Liệu tôi đã bắt đầu dám lột xác vươn mình lên hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bặm phù du, tự đầy đọa mình và làm khổ nhiều người? Những gì tôi đang cần xả bỏ để bắt đầu sống thảnh thơi hơn? Và lời thơ vang vọng trở thành lời phản tỉnh:
Cảm ơn đất đá trổ hoa
U mê hạt bụi lòng ta bám hoài.


Lm. Trần Cao Tường, Nhịp Múa Sông Thanh - www.dunglac.net