Friday, January 19, 2007

Một Đời Người, Một Hành Trình

Tưởng nhớ về Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật...

Một năm kia, vào dịp mừng lễ thánh Phaolô tông đồ trở lại (25/01), bổn mạng của Đức Cha Phaolô-Maria Nguyễn Minh Nhật, có người đã tặng cho ngài bức tranh vẽ một con ngựa đang phi nước đại rất đẹp. Người tặng bức tranh có ý ám chỉ thánh Phaolô tông đồ chính là một kẻ ngã ngựa trên đường Đamas (TĐCV 26,12-18). Tuy nhiên, thánh Phaolô ngã ngựa nhưng không bại trận. Ngài đã đứng dậy sau khi ngã xuống và ngài đã tiếp tục cuộc hành trình tiến tới đích tựa như con tuấn mã đang phi nước đại. Cuộc đời thánh Phaolô tông đồ chính là một cuộc hành trình đẹp đẽ. Trên cuộc hành trình đó, ngài đã chạy đến mức cuối cùng của con đường và đã lãnh nhận triều thiên vinh quang, như lời ngài đã nói : “Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa, đã chạy cùng đường và đã giữ vững đức tin” (2 Tim 4, 7).
Cuộc đời của Đức Cha Phaolô-Maria cũng là một cuộc hành trình thật đẹp. Cũng như vị thánh bổn mạng của ngài, ngài đã một lần “ngã ngựa”, nhưng ngài không bại trận. Ngài đã đi đến cùng cuộc hành trình đức tin và xứng đáng lãnh nhận triều thiên vinh quang.
Cuộc đời Đức Cha Phaolô-Maria, một cuộc hành trình trung kiên
Cũng giống như tên gọi của mình, cuộc đời của Đức Cha Phaolô-Maria Nguyễn Minh Nhật thật trong sáng - Trong sáng như “ánh sáng ban ngày”. Trong sáng vì đó là một cuộc đời đơn sơ, thánh thiện. Trong sáng vì suốt đời ngài đã trung thành đi theo Chúa là ánh sáng đời mình.
Đức Cha Phaolô-Maria sinh ngày 12/09/1926 tại Thượng Kiệm - Ninh Bình. Đó là khởi điểm cho cuộc hành trình của một đời người. Trên cuộc hành trình đó, mốc điểm đáng ghi nhớ là ngày 07/6/1952, ngài thụ phong linh mục tại Phát Diệm. Khi ấy ngài mới hơn 25 tuổi. Cuộc hành trình vẫn luôn bừng sáng với trái tim đầy nhiệt huyết của một linh mục trẻ trung. Sau đó, ngài đi du học tại Canada năm 1952. Tuy nhiên, dù chưa học xong, ngài đã vâng lời bề trên là Đức Cha Tađêô Lê Hữu Từ, Giám Mục Giáo Phận Phát Diệm, về nước vào năm 1955 để làm linh hướng tại Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô, Phú Nhuận (Sài Gòn) đến năm 1967. Sau đó, ngài tiếp tục làm linh hướng tại Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô Phước Lâm từ năm 1967 đến năm 1969, và làm linh hướng tại Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô Xuân Lộc từ năm 1969 đến năm 1975.
Trong bàn tay dẫn dắt của Thiên Chúa, con người không thể hiểu được thánh ý nhiệm mầu của ngài. Một con người suốt 20 năm linh mục chỉ làm linh hướng, chưa một lần đi coi xứ, thế mà ngài đã đào tạo và huấn luyện được biết bao vị mục tử tốt lành cho các xứ đạo. Ngài hướng dẫn và uốn nắn các tâm hồn được trao phó bằng tất cả tình thương và sự thánh thiện của một vị linh hướng giàu kinh nghiệm.
Chỉ hơn 3 tháng sau ngày đất nước bước vào một cuộc thay đổi lớn lao, cuộc hành trình đời ngài đi vào một khúc quanh mới : ngài được tấn phong Giám Mục tại Tòa Giám Mục Xuân Lộc vào ngày 16/7/1975 trong âm thầm lặng lẽ. Cuộc hành trình theo Chúa và phục vụ của ngài vẫn thế. Có khác chăng là con đường ngài đi bây giờ phải lên dốc cao hơn và thánh giá ngài vác trên vai lúc này nặng nề hơn. Nhưng ngài vẫn trung kiên đi theo Chúa với tâm niệm đời Giám Mục : “Phục vụ Chúa trong hân hoan”.
Ngài làm Giám Mục Phó Giáo phận Xuân Lộc 13 năm (từ 1975-1988) và làm Giám mục Chánh tòa Giáo phận Xuân Lộc 16 năm (1988-2004). Cuộc hành trình phục vụ Giáo phận Xuân Lộc của ngài trải dài 29 năm dài với biết bao vất vả cực nhọc của một vị chủ chăn luôn biết dưỡng nuôi đoàn chiên và xây dựng Giáo phận mỗi ngày một lớn mạnh. Đức Cha Phaolô-Maria đã kiên trì và trung thành đi theo Chúa không phải vì ngài luôn mạnh mẽ can trường. Trái lại, đã có nhiều lúc cũng giống như thánh Phaolô tông đồ, ngài cảm thấy mình yếu đuối và thấp hèn. Thế nhưng ngài luôn nghe thấy tiếng Chúa thì thầm bên tai: “Ơn ta đủ cho con, vì sức mạnh của ta được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12, 9).
Ngã ngựa nhưng không bại trận
Khi bước vào tuổi 78, với 29 năm phục vụ Giáo phận, Đức Cha Phalô-Maria với tuổi cao sức yếu đã xin với Tòa Thánh Vatican để được nghỉ hưu. Sau nhiều lần thỉnh nguyện, ngài đã được Tòa Thánh chấp nhận cho nghỉ hưu. Ngài quyết định chọn ngày 02/12/2004 là ngày lễ tạ ơn Chúa và kết thúc nhiệm vụ cai quản Giáo phận. Đó phải là một ngày lễ thật cảm động và đầy hân hoan khi toàn thể Giáo phận vây quanh vị chủ chăn thân yêu để cùng ngài tạ ơn Chúa vì suốt cả đời đã “Phục vụ Chúa trong hân hoan”. Chắc hẳn ngày lễ đó thật đáng nhớ và được mọi người mong chờ.
Nhưng, một ngày lễ với đầy đủ ý nghĩa tốt đẹp như thế đã không thể có. Vì vào ngày 24/11/2004 tức là chỉ còn 8 ngày nữa là đến ngày lễ tạ ơn, thì Đức Cha Phaolô-Maria đã bị đột quỵ. Ngài đã “ngã quỵ” khi gần kết thúc một chặng đường. Tuy nhiên, ngài “ngã ngựa” nhưng không bại trận. Và hơn lúc nào hết, vào chính lúc này, ngài luôn nhắc nhở chính mình lời nói của thánh Phaolô: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cr 12, 9).
Trong suốt thời gian 2 năm, 01 tháng và 23 ngày, Đức Cha Phaolô-Maria đã phải nằm trên giường bệnh với bao sự đau khổ vì bệnh tật nơi thân xác. Chính lúc ấy, ngài đã thông hiệp với sự đau khổ của Chúa Giêsu khi nằm trên thánh giá. Ngài đã trở thành một hiến tế đẹp lòng Chúa. Đức Cha Phaolô-Maria “ngã ngựa” nhưng ngài không bại trận. Ngài không thể đứng dậy và bước đi bằng đôi chân của mình, nhưng ngài vẫn tiếp tục cuộc hành trình bằng trái tim đầy ắp yêu thương và lời cầu nguyện tha thiết từng ngày. Ngài vẫn đồng hành với Giáo phận Xuân Lộc và Giáo phận mới Bà Rịa. Ngài vẫn dõi theo từng bước chân của đoàn chiên bằng đôi mắt người mục tử nhân lành. Ngài vẫn tiếp tục bước đi bằng tấm lòng của người cha đầy tình nhân hậu. Ngài không thể nói thành lời để giảng dạy giáo huấn, nhưng chính gương hy sinh của ngài đã nói lên tất cả mọi điều. Ngài không thể dâng lễ hằng ngày, nhưng sự đớn đau của thân xác bệnh tật đã làm cho ngài trở thành một hiến lễ tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa. Nằm trên giường bệnh không thể đi một bước, nhưng ngài vẫn vui, vì ngài vẫn đang tiếp tục đi đến với đoàn chiên bằng đôi chân của vị Tân Giám mục Xuân Lộc và vị Giám mục Tiên Khởi Bà Rịa.
Hành trình về nhà Cha
Trong những ngày Đức Cha Phaolô-Maria đang hấp hối trên giường bệnh, một người thân cận của Ngài đã nói : “Chính ngài mong ước ra đi vào ngày thứ bảy hoặc ngày thứ tư, vì ngài luôn có lòng yêu mến Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse”.
Quả thật, thánh cả Giuse luôn nhận lời ngài. Ngài đã ra đi vào lúc 12g30 ngày thứ tư 17/01/2007 tại bệnh viện Chợ Rẫy. Có lẽ ngài muốn Thánh Cả Giuse dẫn đưa ngài trên cuộc hành trình về nhà Cha, như ngày xưa Thánh Cả đã dẫn đưa Chúa Giêsu và Đức Mẹ qua những hành trình thử thách gian nan tại trần thế.
Với 81 tuổi đời, 55 tuổi linh mục, 32 tuổi Giám mục, Đức Cha Phaolô-Maria đã hoàn tất cuộc hành trình tại thế thật kiên cường. Hôm nay, ngài thanh thản và bình an bước vào cuộc hành trình về nhà Cha.
Đức Cha Phaolô-Maria đã nằm xuống, nhưng trái tim ngài vẫn còn đập mãnh liệt trong lồng ngực của hàng triệu tín hữu thuộc Giáo phận Xuân Lộc và Giáo phận Bà Rịa.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho ngài, để sau một đời phục vụ trong trung kiên, ngài sẽ được Thiên Chúa ban ân thưởng trên trời. Chúng ta cũng xin ngài cầu bầu cho chúng ta trên đường lữ thứ trần gian luôn trung thành với Thiên Chúa, để cũng xứng đáng hưởng vinh quang mai sau. Xin cho chúng ta bắt chước ngài, suốt đời trung tín với Chúa, để cuối đời có thể nói như thánh Phaolô: “Đối với tôi sống là Đức Kitô, chết là một mối lợi” (Phil 1, 21).
(Ngày 17 tháng 01 năm 2007)
LM Giuse Phạm Văn Lý (Vietcatholic News)
-----------------------------------------------------------------------
Đức Giám mục PHAOLÔ-MARIA NGUYỄN MINH NHẬT, Nguyên Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nguyên Giám mục Giáo phận Xuân Lộc, đã được gọi về nhà Cha lúc12g30 ngày 17 tháng 01 năm 2007, tại bệnh viện Chợ Rẫy, Tp. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 81 tuổi.

Sunday, January 14, 2007

Chúa Nhật 2 Thường Niên -2nd Sunday in Ordinary Time

Bài Đọc I: Isaiah 62:1-5 II: 1Cor 12:4-11
Phúc Âm Gioan 2:1-12
(1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. (2) Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi". (4) Đức Giêsu đáp: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến". (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo". (6) Ở đó có đặt sáu chum bằng đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Dothái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Đức Giêsu bảo họ: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi!" Và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ: "Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc". Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói: "Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến mãi bây giờ". (11) Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. (12) Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Caphácnaum và ở lại đó ít ngày.
Chi Tiết Hay
* Phúc Âm Thánh Gioan, một cuốn sách về các dấu lạ; có thể được xem như sách Sáng Thế của Kitô giáo. Phép lạ ở Cana là "dấu lạ" đầu tiên của Đức Giêsu giúp các môn đệ tin vào Ngài là Đấng Mêsia (c.11).
* Đức Giêsu thay thế phong tục thanh tẩy của người Do Thái (c.6), một nghi thức cũ , bằng rượu, tượng trưng cho đạo lý mới. Rượu chính là lời giảng dạy và sự khôn ngoan của Ngài (Cách Ngôn 9:1-5).
* (c.1) "Ngày thứ ba" ám chỉ xa đến biến cố phục sinh, lúc Đức Giêsu sống lại vinh quang từ cõi chết. Vào ngày thứ ba của cuộc đời công khai (hai ngày sau khi gọi các môn đệ đầu tiên), Đức Giêsu tỏ bày vinh quang của Ngài qua phép lạ biến nước thành rượu.
* Phép lạ đầu tiên này xảy đến trước lễ Vượt Qua (c.13). Hai năm sau đó, cũng chính trong dịp lễ này Đức Giêsu lại biến rượu thành chính máu cực thánh của Ngài.
* Trong Do Thái giáo, tiệc cưới cũng tượng trưng cho sự hàn gắn những vết thương trong mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân tộc được tuyển chọn của Ngài. (Isaia 62:4-5)
* Chữ "bà" ở đây mang một âm điệu trang trọng, một lối nói nghi thức. Khi bị đóng đinh trên thập giá, Đức Giêsu đã lại dùng chính danh từ này một cách âu yếm và kính trọng khi nói với Đức Mẹ (Gn 19:26).
* Khi gọi mẹ mình bằng "bà", Đức Giêsu có thể đã muốn xác định Đức Mẹ là một Evà mới, là mẹ của tất cả các môn đệ của Ngài thay cho Evà cũ là "mẹ các sinh linh" (Khởi Nguyên 3:20). Như thế chúng ta có thể so sánh hai hình ảnh của một Evà cũ đưa đẩy Adong đến việc phạm tội đầu tiên (KN 3:6) với hình ảnh một Evà mới dẫn đưa Adong mới, là Đức Giêsu, tỏ bày vinh quang của Ngài trong phép lạ đầu tiên này.
* "Giờ" là một danh từ quan trọng trong Phúc Âm Gioan, là thời điểm của sự phán xét, của tối tăm, của sự chết, của sự vâng lời tuyệt đối và của sự sống lại khải hoàn (Gn 5:28, 7:30, 12:23, 13:1, 17:1). Câu 4 cho thấy trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, trước khi giờ của Ngài đến, mọi việc Ngài làm là hoàn toàn theo ý của Đức Chúa Cha.
Một Điểm Chính: Việc biến đổi nước của Cựu Ước thành rượu cứu chuộc đánh dấu sự chuyển tiếp từ cũ sang mới. Đức Giêsu khởi sự thời điểm cứu chuộc nhân loại.
Suy Niệm
1. Bạn hiện diện ở đó khi Mẹ Maria đến với Đức Giêsu để xin giúp đỡ. Qua sự việc đó bạn cảm nhận gì về tính tình của Mẹ? Bạn học được điều gì từ gương Mẹ?
2. Bạn có nghĩ là Đức Giêsu đã tỏ ra khó chịu với mẹ mình chăng? Bạn có nghĩ rằng bạn hiểu Ngài chăng?
3. Có khi nào trong cuộc sống bạn cảm thấy mình cạn hết "rượu" chăng? Những lúc đó Đức Giêsu lại đổ đầy cho bạn như thế nào?
---------------------------------------------------------
2nd Sunday in Ordinary Time
Reading I: Isaiah 62:1-5 II: 1Cor 12:4-11
Gospel John 2:1-12
1 On the third day there was a marriage at Cana in Galilee, and the mother of Jesus was there;2 Jesus also was invited to the marriage, with his disciples. 3 When the wine failed, the mother of Jesus said to him, "They have no wine."4 And Jesus said to her, "O woman, what have you to do with me? My hour has not yet come."5 His mother said to the servants, "Do whatever he tells you."6 Now six stone jars were standing there, for the Jewish rites of purification, each holding twenty or thirty gallons.7 Jesus said to them, "Fill the jars with water." And they filled them up to the brim.8 He said to them, "Now draw some out, and take it to the steward of the feast." So they took it.9 When the steward of the feast tasted the water now become wine, and did not know where it came from (though the servants who had drawn the water knew), the steward of the feast called the bridegroom10 and said to him, "Every man serves the good wine first; and when men have drunk freely, then the poor wine; but you have kept the good wine until now."11 This, the first of his signs, Jesus did at Cana in Galilee, and manifested his glory; and his disciples believed in him.12 After this he went down to Caper'na-um, with his mother and his brothers and his disciples; and there they stayed for a few days.
Interesting Details
* John's Gospel, a book of signs, is in many ways a Christian Genesis, a story of re-creation. The miracle at Cana is referred to as the first of Jesus' "signs" that leads His disciples to believe in Him, Jesus the Messiah (v.11).
* Jesus replaces the Jewish purification (v.6) with an abundance of wine of excellent quality. Wine represents His wisdom and teaching (Prov 9:1-5).
* (v.1) "The third day" for Christians is an expression of the period between Jesus' crucifixion and resurrection. In the Hebrew scriptures, the third day is a common term in the Pentateuch and the Deuteronomic history (Ex 19: 10-11 ... because on the 3rd day the Lord will come down upon Mt. Sinai in the sight of all the people). On the third day of Jesus' public appearance (two days after the call of the first disciples), Jesus reveals His glory with the miracles at Cana.
* The changing of water to wine took place before Passover (v.13), the same time that Jesus would change wine into His eucharistic blood two years later.
* In the Hebrew scriptures the wedding itself was a common prophetic image for the final healing of God's relationship with the Chosen people. (Isa 62:4-5 expresses it: "... for the Lord delights in you and your land shall be married, ... so shall your builder marry you...").
* (v.4) "Woman" is rather like "lady" or "madam"; it is a formal way of speaking. On the Cross, Jesus will use the same word with great affection and veneration (Jn 19:26).
* In calling His mother "woman", Jesus may well be identifying her with the new Eve who will be the mother of His disciples as to the old Eve "the mother of all the living" (Gen 3:20). In this light we can compare the woman in the Garden of Eden who led Adam to the first evil act (Gen 3:6) with the Woman at Cana who leads the new Adam to His glorious work.
* "Hour" is a key word in John's gospel; it is the time of judgment, of darkness, of death, of ultimate fidelity and of resurrection (Jn 5:28, 7:30, 12:23, 13:1, 17:1). Verse 4 reminds the reader that during Jesus' public life, until His hour came, His work was determined solely by the Father's will.
One Main Point: The changing of Old Testament water into messianic wine signifies the passing of the old into the new. The messianic era has arrived.
Reflections
1. You are there when Mary goes to Jesus for help. What does this tell you about her character? What do you learn from her?
2. Do you think Jesus is upset with His mother? Do you think you understand Him?
3. Is there a time in your life when the "wine" ran out? How has Jesus replenished it for you?


Monday, January 08, 2007

SỐNG ĐỨC TIN

(Chuyện bốn con búp-bê)
Hôm ấy,, tôi đã trải qua một giấc mơ êm dịu.
Trước mặt tôi, từ trên cao rơi xuống bốn con búp bê hoàn toàn giống nhau, trong mọi chi tiết. Mỗi con đều có mũ đỏ, áo trắng, quần xanh, đôi dép màu vàng mặt trời. Bỗng có một tiếng nói từ trên vọng xuống:
“Này con, hãy phân biệt cho bằng được cái gì làm nên nét khác biệt cơ bản, giữa bốn con búp bê ở trước mặt con.”
Tôi có sáng kiến đi ra vườn, kiếm một cọng cỏ vừa dài, vừa dai, vừa dẻo.
Rồi tôi đút cọng cỏ vào lỗ tai của con búp bê thứ nhất. Tôi nhích, nhích, và tiếp tục nhích… Cọng cỏ thoát ra khỏi lỗ tai phía bên kia.
Tôi cũng làm như thế với con búp bê thứ hai. Lần này cọng cỏ thoát ra khỏi lỗ miệng của nó.
Với con thứ ba, cọng cỏ đi xuống quả tim, bị bế tắc và dừng lại ở đó. Với con sau cùng, tôi nhích lui nhích tới cọng cỏ, một cách rất tế vi và ý nhị. Tức thì, quả tim nó bắt đầu thổn thức, phập phồng.
Tôi tiếp tục nhích thêm. Đôi mắt nó loé sáng, như hai đốm lửa.
Tôi vẫn tiếp tục nhích cọng cỏ. Hai tay búp bê bắt đầu cử động. Đôi chân di chuyển về phía trước. Con búp bê đứng dậy, bước tới. Nó Làm Người.
Nếu tôi được phép đem cọng cỏ nhích vào tai người Kitô-hữu đang lắng nghe Lời Chúa, họ sẽ đáp ứng làm sao… giống như con búp bê nào, trong bốn con trên đây?

Lausanne - Thụy Sĩ - Nguyễn Văn Thành (Vietcatholic News)

LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA

Lời Chúa: Lc 3, 15-16. 21-22
“Đức Giê-su chịu phép rửa xong và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra”.
Bạn thân mến,
Có nhiều người chỉ trích đức tin của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội khi mới sinh ra là “đức tin áp đặt”: áp đặt tin Chúa, áp đặc học giáo lý, áp đặt tin những điều đã “quy hoạch” sẵn trong Giáo Hội.v.v...họ quên mất rằng hôm nay họ học cao hiểu rộng là nhờ những “áp đặt” của các chương trình từ mẫu giáo đến đại học mà họ bắt buộc phải học, nếu họ không theo những chương trình “áp đặt” đó, thì họ không thể nào có học vị này hay bằng cấp nọ...
Chúa Giê-su không bị lung lay “đức tin” khi thấy dân chúng đổ xô theo ông Gioan Tẩy Giả, Ngài cũng không kiêu ngạo cấm ông Gioan làm phép rửa, nhưng trái lại, Ngài đến xin ông làm phép rửa cho Ngài, và tức khắc “trời mở ra” và có tiếng nói của Chúa Cha xác nhận Ngài là Đấng Messia: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”.
Đức tin của bạn, của tôi, cũng như của những người Ki-tô hữu khác, có khi bị chao đảo bởi những tiến bộ của khoa học, bởi những chủ nghĩa hưởng thụ và kim tiền, nhất là bởi những tư tưởng kiêu ngạo, muốn thoát ly khỏi giáo huấn của Giáo Hội cách “hợp pháp” của một số người có năng khiếu về suy tư và tra cứu Thánh Kinh.
Trời cũng sẽ mở ra trên đầu những người Ki-tô hữu, khi họ khiêm tốn tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giê-su trong Giáo Hội của Ngài; và Chúa Cha cũng sẽ nói với họ “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” khi họ hoàn tất đời chứng nhân cho Tin Mừng ở trần gian này...
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. (Vietcatholic News)

NIỀM TIN: ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT TRONG CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHÚA

Bạn có biết cuộc hành trình của các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Bê-lem vất vả và gian khổ như thế nào không? Tôi không biết và cũng chưa đọc thấy tài liệu nào mô tả chi tiết về những khó khăn gian khổ hay những hiểm nguy mà các nhà chiêm tinh đã phải trải qua. Thế nhưng tôi đoán là chuyến đi của các ngài không dễ dàng và không thoải mái một chút nào cà. Bạn cứ ngẫm nghĩ thử một chút mà xem, cuộc hành trình của các nhà chiêm tinh rất ư là khó khăn, nếu không muốn nói là cực kỳ phiêu lưu, gian khổ và nguy hiểm:
• Phiêu lưu là bởi vì họ cất bước ra đi đến một nơi vô định giống y như tổ phụ Abraham ngày xưa:“[Họ] đã ra đi mà không biết [là sẽ] đi đâu” (Dt 11:8). Họ không biết chuyến đi sẽ kéo dài bao lâu, cũng chẳng có địa chỉ, chẳng biết địa điểm mà Con Thiên Chúa đã hạ sinh, cũng chẳng biết mô tê gì về diện mạo cũng như danh tánh của cha mẹ Hài Nhi.
• Gian khổ là bởi vì họ đã phải băng qua những vùng sa mạc, ban ngày thì nóng như thiêu như đốt, còn ban đêm thì lạnh như cắt, cùng những trận bão cát bất ngờ trong đêm tối…
• Nguy hiểm là bởi vì đường đi trong sa mạc có không ít những băng trộm cướp, và nguy hiểm nhất là họ đã vào ngay hoàng cung để hỏi Hê-rô-đê vị vua đang trị vì dân Do Thái rằng “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”(Mt 2:2). Hỏi ngay vị vua đang trị vì dân Do Thái là “Đức Vua dân Do Thái mới sinh ra đang ở đâu?” thì có khác gì phủ nhận vương quyền của ông ta? Mất đầu như chơi chứ bộ!
Tắt một lời, từ lúc khởi đầu cuộc hành trình cho đến khi đi gặp được Chúa Hài Nhi, các nhà chiêm tinh đã trải qua muôn vàn thử thách, gian khó và hiểm nguy, nhưng họ đã vượt qua tất cả. Bạn có biết họ đã nhờ vào cái gì và nhờ vào đâu để có thể gọi là đi đến nơi về đến chốn không? Có nhiều nguyên tố giúp cho các nhà chiêm tinh hoàn tất cuộc hành trình đi tìm Chúa nhưng tôi nghĩ nguyên tố chính vẫn là NIỀM TIN vào Đức Giê-su đã giúp họ vượt qua tất cả! Thật đấy! Bạn cứ nghĩ thử mà xem:
• Nếu không có NIỀM TIN vào Đức Giê-su thì … sức mấy mà các nhà chiêm tinh dám bỏ lại sau lưng vợ con, gia đình, hàng xóm, bạn bè và phong tục tập quán … để lên đường đi tìm kiếm Thiên Chúa mới hạ sinh ở một nơi xa lắc xa lơ mà họ chưa hề biết tới!
• Nếu không có NIỀM TIN vào Đức Giê-su thì còn khuya họ mới có khả năng nhận ra Hài Nhi bé nhỏ, yếu đuối nằm trong máng cỏ chính là Chúa Tể vạn phúc vô song, là Vua các vua, Chúa các chúa (1 Tim 6:15) và như thế thì còn lâu họ mới mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương … [ra dâng tiến và] sấp mình thờ lạy Người (Mt 2:11b).
• Nếu không có NIỀM TIN vào Đức Giê-su thì các nhà chiêm tinh sẽ không bao giờ biết trước rằng Hài Nhi bé nhỏ trong máng cỏ chính là VỊ CỨU TINH của nhân loại, Người sẽ phải chịu đau khổ… bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết (Mk 8:31) và họ sẽ không đời nào tiến dâng cho Ngài mộc dược quý giá như vậy.
Bạn thấy chưa? Nhờ vào NIỀM TIN mãnh liệt vào Đức Giê-su, Con Thiên Chúa cho nên các nhà chiêm tinh đã có đủ can đảm để cất bước đi tìm Chúa, có đủ nghị lực để vượt qua tất cả những gian lao thử thách và có đủ khôn ngoan để đương đầu với những nguy hiểm trên cuộc hành trình và nhất là họ đã gặp được Hài Nhi Giê-su, Đấng Cứu Tinh mà nhân loại đã đón chờ.
Bạn có muốn có được sự can đảm, có đủ nghị lực và sự khôn ngoan như các nhà chiêm tinh khi xưa để có thể hoàn tất cuộc hành trình đi tìm Chúa một cách trọn vẹn không? Nếu bạn không muốn thì … thua. Còn nếu bạn thực sự muốn thì tôi xin đề nghị với bạn ba công việc sau đây:
Một là, phải LÀM QUEN VỚI ĐỨC GIÊ-SU qua việc ĐỌC, SUY NIỆM & HỌC HỎI KINH THÁNH bởi vì: “Không biết Kinh Thánh tức là không biết Chúa Ki-tô … Ignorance of Scriptures is ignorance of Christ” (Thánh Jerome)
• Mua một cuốn Kinh Thánh và cố gắng trung thành đọc mỗi ngày khoảng năm phút.
• Đọc qua những bài đọc của các thánh lễ trước khi đến nhà thờ, đặc biệt là những bài đọc của các thánh lễ trọng, và Chúa Nhật.
• Thay vì xem những thứ vô bổ, bạn hãy dành thời giờ để đọc những bài chia sẻ, những câu trả lời về Kinh Thánh trên internet tại: www.catholic.com, www.vietcatholic.net, www.conggiaovietnam.net, http://www.ewtn.com/devotionals/inspiration.htm, http://ewtn.com/, http://thanhlinh.net/, www.tnfatima.org/HocHoi/VanDap/VanDap.asp,
Hai là, phải SỐNG MẬT THIẾT & KẾT HIỆP với Chúa Giê-su trong mọi nơi, trong mọi lúc và ở trong mọi hoàn cảnh vui buồn của cuộc sống.
• Thường xuyên đi xưng tội, tham dự Thánh Lễ, Rước Lễ và tham dự các giờ Chầu Thánh Thể… “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy (Ga 6:56).
• Xin Chúa Giê-su ban cho sự bình an của Ngài khi bạn thức giấc, khi ngồi vào tay lái chuẩn bị khởi hành, khi đi làm, khi đứng chờ xe bus…
• Tạ ơn Chúa trong lúc vui, lúc gặp may mắn, lúc hạnh phúc, khi ăn nên làm ra, xiin Chúa giúp sức khi sa ngã, khi yếu đuối, khi gặp chuyện buồn phiền, lo lắng…
Ba là, phải thường xuyên LÀM NHỮNG VIỆC BÁC ÁI:
• Rộng tay trong những việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo, nâng đỡ kẻ túng bấn hay những trẻ em bị tàn tật, mồ côi, người cùi, nạn nhân bão lụt …
• Đến thăm viếng những người già yếu, bịnh tật, neo đơn đang sống đơn côi hay đang bị lãng quên trong những nhà dưỡng lão, trong bịnh viện, trong những căn hộ lẻ loi …
• Biết quảng đại cho đi thời giờ, tài năng và sức lực cho những công việc của giáo xứ, dạy giáo lý, dạy tiếng Việt, tham gia ca đoàn, làm vệ sinh nhà thờ …
Nếu tôi và bạn cố gắng thực hiện những việc trên một cách đều đặn mỗi ngày và làm với tất cả lòng yêu mến chân thành … thì bảo đảm với bạn là … NIỀM TIN vào Đức Giê-su của chúng mình sẽ kiên vững hơn, sẽ phát triển mạnh hơn và sinh hoa kết trái dồi dào hơn cho mà xem! Và khi có một NIỀM TIN mạnh mẽ và sống động vào Đức Giê-su như vậy thì:
• Tôi và bạn chắc chắn sẽ vững vàng trước những phong ba bão táp, những cám dỗ và thử thách, những mưu chước thâm độc của ma quỷ, thế gian và xác thịt …
• Bạn và tôi sẽ được hưởng sự sống đời đời trên Thiên Quốc bởi vì chính Chúa Giê-su khẳng định rằng: “Ai tin vào Thầy thì sẽ không phải chết bao giờ” (Ga 11:26).
Chúc bạn gặp nhiều may mắn, đi đến nơi về đến chốn, và nhất là luôn kiên vững trên cuộc hành trình đi tìm Chúa giống như các nhà chiêm tinh ngày xưa vậy! Amen.

LM. Ansgar Phạm Tĩnh (Vietcatholic News)

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH

(Is.60, 1-6; Ep.3, 2-3a.5-6; Mt.2, 1-12)
Ngày xưa người ta quen gọi lễ Hiển Linh là lễ Ba Vua, sở dĩ vậy vì trong Tin Mừng đọc trong Thánh Lễ hôm nay, ba nhà đạo sĩ tìm kiếm để bái yết hài nhi Giêsu. Ba nhà đạo sĩ là những người trổi trang về kiến thức uyên bác; họ có thể đọc dấu chỉ thiên nhiên để nhận ra sự xuất hiện của những người đặc biệt. Từ ngữ “vua” được dùng trong “ba vua” là để chỉ người trổi trang hơn người khác về phương diện nào đó.
Qua biến cố mục đồng tới viếng hài nhi, người ta nhận ra Thiên Chúa đã tỏ mình cho những người Do Thái nghèo nhưng có tâm hồn mở rộng sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa. Với biến cố ba nhà đạo sĩ đi viếng hài nhi, Giáo Hội nhận ra Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.
Người Do Thái cho rằng họ là dân được tuyển chọn, còn các dân tộc khác là dân ngoại. Với biến cố Đức Giêsu và việc các dân tộc khác đón nhận Tin Mừng, người ta nhận ra rằng tất cả mọi dân tộc đều thuộc về Thiên Chúa, tất cả các dân tộc đều được Thiên Chúa yêu thương như dân tộc Do Thái. Hôm nay với trình thuật các đạo sĩ tìm kiếm và bái lạy Đức Giêsu, Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa cũng mặc khải cho dân ngoại. Thiên Chúa yêu thương dân ngoại như Ngài đã từng yêu thương dân tộc Do Thái. Mọi dân tộc đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc, mọi con người, chứ không phải chỉ riêng dân tộc Do Thái.
Kitô hữu phải là người cảm nghiệm sâu xa tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, và đặc biệt cho chính mình. Kitô hữu cũng phải là người sống bình an và hạnh phúc, vì ý thức mình là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương. Ngài tha thứ mọi lỗi lầm, và không chỉ vậy, còn mời gọi mọi người vào chia sẻ sự sống vĩnh cửu hạnh phúc với Thiên Chúa. Một khi phần nào cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa và bình an hạnh phúc, Kitô hữu thấy mình phải chia sẻ niềm vui này, tin mừng này cho những người anh em của mình chưa biết Đức Giêsu, ngõ hầu họ cũng có niềm vui này. Bản chất Kitô hữu là rao giảng Tin Mừng, làm cho muôn dân được nghe, hiểu và sống đáp trả tình yêu Thiên Chúa.
Ngày nay nhiều người “dị ứng” với từ ngữ truyền giáo, vì từ ngữ này gợi lên nơi người ta ấn tượng rao giảng để kéo người khác bỏ đạo của họ để theo Kitô giáo. Nếu có ý hướng như vậy, người ta mang nặng tính phe phái và giành giựt nhiều hơn là chia sẻ tin mừng. Một Kitô hữu đúng nghĩa phải là người muốn chia sẻ tin mừng với người khác, vì mình nghĩ rằng biết Đức Giêsu là điều rất tốt và ích lợi cho mọi người. Tuy nhiên, Kitô hữu phải là người luôn tôn trọng người khác, tôn trọng tự do và tín ngưỡng của tha nhân; nếu ai đó đón nhận Tin Mừng, thì đó là vì chính họ thấy sự thật, họ cũng được bình an và hạnh phúc hơn khi trở thành Kitô hữu.
Khi một Kitô hữu muốn rao giảng tin mừng, họ phải tự vấn chính mình: “niềm tin vào Đức Giêsu mang gì lại cho tôi? Tin vào Đức Giêsu, có làm cho tôi sống bình an và hạnh phúc hơn không? Nếu tin vào Đức Giêsu Phục Sinh không giúp gì cho tôi, thì tại sao tôi lại muốn làm cho người khác trở thành Kitô hữu như tôi?” Lời mời gọi rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh đòi Kitô hữu phải xét lại niềm tin của mình, lối sống của mình. Nếu đời sống của tôi không là đời sống toát lên nét tươi vui của một người hạnh phúc, thì làm sao tôi có thể rao giảng tin mừng được! Nếu tôi sống u buồn thất vọng, tôi là phản chứng cho Tin Mừng Phục Sinh. Tôi phải sống sao, để đời sống của tôi không trở thành phản chứng.
Kitô hữu là người có Chúa Kitô nơi mình, là người bạn của Đức Giêsu Kitô, là người muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Cách sống của Đức giêsu Kitô phải là cách sống của mỗi Kitô hữu. Kitô hữu phải là người có cùng chọn lựa với Đức Giêsu Kitô, phải biết yêu thương con người hôm nay như chính Đức Giêsu đã yêu, phải là người yêu đến cùng anh em mình, người thân mình, những người mình gặp gỡ, và thậm chí cả những kẻ không ưa và ghét mình. Đức Giêsu đã cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài, Kitô hữu cũng phải tha thứ cho những người làm hại họ.
Kitô hữu phải là người trung thành như Thiên Chúa là Đấng Thành Tín. Thiên Chúa không bao giờ phản bội, và Kitô hữu cũng không bao giờ được phản bội ai. Không làm hại ai. Chỉ muốn điều tốt cho tha nhân, chỉ tìm lợi ích cho người khác chứ không làm hại họ, đó phải là cách sống của Kitô hữu. Có được như vậy, nhiều người sẽ ngạc nhiên và sẽ tìm hiểu niềm tin của Kitô hữu; để rồi nếu họ muốn họ có thể chia sẻ niềm tin Kitô hữu, để họ cũng được bình an và hạnh phúc như những Kitô hữu. Kitô hữu phải là men trong bột, phải là ánh sáng cho thế gian. Kitô hữu tuy có cùng nỗi bận tâm và gian nan như bất cứ con người nào sống trên đời, nhưng ánh sáng đức tin đã soi sáng cho họ, giúp họ tuy sống giữa trần gian nhưng không thuộc về trần gian.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Bạn có muốn người khác có cùng niềm tin với bạn không? Tại sao?
2. Nếu không tin vào Đức Giêsu, bạn có được như hiện tại không? Tại sao?
3. Phải rao giảng thế nào để con người ngày nay dễ đón nhận Tin Mừng Đức Giêsu Kitô?


LM Phạm Thanh Liêm, SJ

Saturday, January 06, 2007

TIN VUI KHAI MỞ TUỆ NHÃN

Thấy được Thần Chúa trong mọi sự là mục đích của linh thao. Mọi chuyện, mọi cảnh vật, mọi người, đều là những "ngôi sao" dẫn đường, đều là những dấu chỉ cho thấy Chúa vẫn đang hiển linh hiện diện, như Tin Vui tuần này:
"Khi Đức Giêsu giáng sinh tại Bê-lem thuộc xứ Giu-đê, vào thời đại vua Hêrốt trị vì, có mấy vị hiền sĩ từ Đông phương tới Giêrusalem nói rằng: "Ấu Chúa Do-thái ở đâu, chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện và chúng tôi tìm đến chầu Người."
Đức Maria đúng là sư mẫu của những nhà chụp hình: nhìn kỹ những chuyện xẩy ra để thấy được Chúa. Trong câu chuyện Giáng Sinh, giữa bao trái ngược không thể hiểu được, Thánh Luca viết lại:
"Riêng Maria, nhất thiết chuyện gì xảy ra đều ghi lại và suy tưởng trong lòng" (Lc 2:19). Và đoạn khác, giữa những khủng hoảng trong chuyện lạc mất con, "Mẹ Người ghi mọi chuyện vào lòng" (Lc 2:51).
PHÚT TỊNH TÂM
Như vậy, mỗi người đều có thể là một nhà chụp hình, chụp bắt lại được nhịp điệu an bình của Thần Khí, tìm lại được nét thắm tươi hứng khởi của cuộc sống. Mọi sự đang là những ngôi sao dẫn đường chỉ lối. Nhà chụp hình thấy được dáng nét Chúa hiện hình qua mọi người, mọi sự, mọi biến cố lớn nhỏ trong cuộc sống. Con đang thấy Chúa hiển hiện ngay trước mặt:
Người đây mừng quá chụp đi
Mỗi hình mỗi nét trọn ghi dáng Thần.
Lm. Trần Cao Tường (trích từ tác phẩm Nhịp Múa Sông Thanh, Thời Điểm xuất bản)