Wednesday, October 25, 2006
Muốn xuất phát lại từ Ðức Kitô trước hết cần trở lại với Người.
I. Xuất phát từ Ðức Kitô.
Nhập đề
Một câu hỏi khiến lòng tôi trăn trở từ nhiều năm qua đó là: "Ta phải làm gì để có thể loan báo Tin Mừng Ðức Kitô cách hiệu quả trên cánh đồng truyền giáo Á Châu?".
Khi nêu lên nhận xét công cuộc truyền giáo tại nước tôi hình như không mấy hiệu quả từ vài chục năm nay, nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội cũng như một số anh em linh mục, nam nữ tu sĩ không bằng lòng với nhận xét này và cảm thấy hoạt động tích cực truyền giáo của họ bị xem thường. Tôi không có ý coi nhẹ hoạt động tông đồ của các vị ấy, nhưng những thống kê về số người theo đạo hay bỏ đạo Công giáo ở Việt Nam cũng như ở châu Á và toàn thế giới khiến ta phải quan tâm và đặt vấn đề cho việc truyền giáo của mình.
Những con số chất vấn
1. Nhìn vào Giáo hội Việt Nam trong suốt 45 năm qua, tỷ lệ người có đạo ngày càng giảm so với dân số cả nước: vào năm 1960, tỷ lệ đó là 7.17%, cuối năm 2005 chỉ còn 7.04%. Chúng ta sống đạo như thế nào mà không làm tăng thêm được 1% dân số Công giáo? Giáo Hội châu Á cũng không phát triển hơn trong suốt 40 năm khi mà dân số Công giáo vẫn chỉ ở mức 3% dù có biết bao nỗ lực của hàng trăm ngàn thừa sai, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân đủ loại. Dân số Công giáo hiện nay ở Á Châu có khoảng 140 triệu người trong số gần 3.5 tỷ dân. Theo thống kê của Toà Thánh, dân số Công giáo toàn cầu tăng từ 757 triệu vào năm 1978 lên 1 tỷ 071 triệu người vào cuối năm 2003 (x. Thống kê Toà Thánh 2005). Mỗi năm có khoảng 2.5 triệu người lớn và hơn 14 triệu trẻ em được rửa tội trong ít năm gần đây, tuy nhiên nếu tính theo tỷ lệ dân số, vào năm 1978, người Công giáo chiếm 17.99% dân số thế giới, đến năm 2002 chỉ còn 17.2%.
Dù những con số không nói lên hoàn toàn sức sống năng động của người Công giáo nhưng việc giảm sút số người tin theo Ðức Kitô đã nói lên phần nào công cuộc truyền giáo toàn cầu cũng như ở châu Á và ở Việt Nam không mấy thành công.
2. Trong khi đó công cuộc truyền giáo của anh em Hội thánh Tin Lành lại đáng cho chúng ta suy nghĩ. Ở Việt Nam từ 400,000 tín hữu vào năm 1999 đã tăng lên 1,200,000 vào năm 2005, nghĩa là tăng gấp 3 lần chỉ trong vòng 6 năm. Trong Hội nghị Hợp nhất Kitô hữu mới tổ chức vào tháng 7-2006, tại Seoul Hàn Quốc của Hội đồng Giáo hoàng về hợp nhất Kitô hữu do Liên Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) và Hội đồng Giám mục Công giáo Hàn Quốc tổ chức, các tham dự viên được nghe báo cáo về sự phát triển vượt bậc của phái Ngũ Tuần. Từ một vài người cách đây 100 năm giáo hội Ngũ Tuần đã phát triển tới con số 600 triệu người hiện nay, trong đó có 165 triệu đang sống tại châu Á. Nếu so sánh hơn hai ngàn năm truyền giáo tại châu Á, Giáo hội Công giáo đang có 140 triệu người, trong khi anh em phái Ngũ Tuần chỉ mất 100 năm để có 165 triệu người, thì chúng ta phải tự hỏi về kết quả truyền giáo và động lực truyền giáo của cả đôi bên.
Ði tìm câu trả lời cơ bản
3. Ðã có rất nhiều những hội nghị, hội thảo thuộc đủ các cấp được tổ chức để tìm hiểu và nghiên cứu sâu xa vấn đề truyền giáo của Giáo hội Công giáo nhưng kết quả chưa thu được là bao. Nhiều tài liệu hướng dẫn cho các thành phần dân Chúa học hỏi về công cuộc truyền giáo đã được soạn thảo và phân phối cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân ưu tuyển nhưng hình như chúng vẫn chưa tạo nên những kết quả thiết thực. Vậy chúng ta phải làm gì? Hy vọng Ðại hội Truyền giáo châu Á tổ chức ở Chang Mai, Thái Lan từ ngày 18 đến 22-10-2006, có thể giới thiệu một đường hướng thiết thực và hiệu quả hơn.
Tông huấn Giáo Hội tại châu Á của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 6-11-1999 là một bản tổng kết những định hướng cơ bản cho hoạt động truyền giáo của Giáo Hội tại lục địa mênh mông này. Tông huấn ấy đã mở ra những chân trời bao la thuộc mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá và cả đối thoại với những nền văn hoá và tôn giáo khác nhau tại Á Châu sau khi nhấn mạnh đến việc kết hợp với Chúa Ba Ngôi và hợp nhất với Giáo Hội. Tuy nhiên, điểm cơ bản mà chúng tôi muốn nhắc đến là Ðức Thánh Cha mời gọi từng người chúng ta phải phát xuất lại từ Ðức Giêsu Kitô vì Người là món quà quý giá nhất mà Chúa Cha gửi tặng cho châu Á (x. ÐTC Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo hội châu Á, số 10).
4. Thực trạng sống đạo như mời gọi ta phải trở lại với Ðức Giêsu Kitô và xuất phát lại từ Người.
Nhìn vào đời sống người Kitô hữu hiện nay chúng ta thấy có một khoảng cách khá lớn giữa điều người ta hiểu và điều người ta sống. Ðời sống đạo tập trung vào các nghi lễ, hoạt động bên ngoài hơn là vào niềm xác tín, cảm nghiệm bên trong. Nhiều người có trách nhiệm trong cộng đồng như linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân ưu tuyển chưa được đào tạo để suy tư một cách có hệ thống về Ðức Giêsu Kitô qua bộ môn Kitô học, chưa có cảm nghiệm sống động và mạnh mẽ về Ðức Kitô để dấn thân làm chứng cho Ngài, chưa dám chết đi cho những tham vọng và dục vọng của chính mình để sống hoàn toàn cho Ðức Kitô trong một châu Á có nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau.
Dân chúng Thái Lan và nhiều nước theo Phật giáo vẫn dành nhiều thiện cảm cho các nhà sư với chiếc đầu cạo trọc, bộ áo cà sa giản dị và chiếc bình bát mộc mạc, bình thản đón nhận những đồ cúng dường, xem họ như là biểu tượng của tinh thần xả kỷ hy sinh hơn các linh mục, tu sĩ Công giáo. Dân chúng Nam Á và Ðông Nam Á với gần 1 tỷ người theo Hồi giáo lại cảm thấy được trợ lực bởi những giờ kinh đều đặn nhiều lần mỗi ngày của cả cộng đồng dù ở bất cứ nơi nào. Rồi qua lời kinh cầu nguyện, anh em Hồi giáo càng thêm gắn bó chặt chẽ với nhau trong cuộc sống. Ðây là nét đẹp rất cuốn hút trong một xã hội châu Á đã từng bị các thế lực ngoại xâm áp dụng chính sách "chia để trị" khiến người ta luôn nghi ngờ và đóng kín với nhau, trong khi rất nhiều cộng đồng Công giáo vẫn giữ tinh thần cục bộ bè phái để chỉ biết có phe nhóm, giáo xứ, giáo hạt, giáo phận, giáo miền của mình. Hơn 1 tỷ người Trung Quốc và hàng trăm triệu người Nhật Bản dưới ảnh hưởng của Thần giáo lại cảm thấy những lời dạy của Ðức Giêsu chưa đủ mức khôn ngoan và sâu sắc nếu so sánh với lời dạy của đức Khổng Tử, Lão Tử và nhiều bậc thánh hiền trong văn hoá Ðông Phương. Họ chưa nhận ra lời Người có giá trị tuyệt đối vì Người là lời cứu độ của Thiên Chúa, có sức đưa họ vào cuộc sống vĩnh hằng và chia sẻ cho họ thần tính của Thiên Chúa.
Châu Á có rất nhiều người trẻ, hơn 50% dân số dưới tuổi 30. Những người trẻ này đang say mê học hỏi khoa học kỹ thuật để tìm biết sự thật ẩn chứa trong thiên nhiên, con người cũng như xã hội. Nhưng hình như Giáo hội Công giáo, qua trình độ học vấn của các bậc chức sắc, và thái độ ít dấn thân của họ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chưa thuyết phục được người trẻ hiểu rằng Ðức Giêsu chính là con đường dẫn tới sự thật và sự sống, là nguồn của sự khôn ngoan và Người sẵn sàng khai mở tâm trí để con người hiểu biết những sự thật mầu nhiệm ẩn chứa trong con người và vạn vật. Hơn nữa, những người trẻ này cũng đang chạy theo cái đẹp qua sự say mê cuồng nhiệt đối với những cầu thủ, diễn viên, người mẫu, văn nghệ sĩ, với thời trang, âm nhạc... Nhưng hình như Giáo hội Công giáo lại chưa giới thiệu cho họ một Thiên Chúa là chủ của cái đẹp mà lại hô hào họ hãy xoá bỏ thần tượng, sống đơn giản, nghèo khó và quên giới thiệu cho họ một Ðức Giêsu hoà mình vào đám đông dân chúng, ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, khám phá ra cái đẹp trong từng nhánh cỏ, bông hoa của đồng nội cũng như giới thiệu tinh thần nghèo khó thật sự là gì.
Muốn xuất phát lại từ Ðức Kitô trước hết cần trở lại với Người
5. Trở lại với Ðức Kitô là chúng ta tìm lại cảm nghiệm sống động của các tông đồ về Ðức Giêsu Phục Sinh như là tâm điểm cho mọi hoạt động và suy tư của mình. Ðức Giêsu không phải là một mớ thông tin mà ta đã thu thập được trong những giờ học giáo lý hay qua những bài giảng, bài kinh nhưng là một con người đang sống giữa chúng ta và sống trong ta để có mối tương quan mật thiết với Người. Ðể hiểu trọn vẹn về một con người đang sống, ta không phải chỉ cần thông tin mà còn phải gặp gỡ, tiếp xúc, yêu thương và nếu cần, có thể hoà nhập thành một trong nhau "để tôi sống không còn phải là tôi mà là Ðức Kitô sống trong tôi" (x. Gl 2,20).
Sống trong một đất nước có nhiều tính cách đối nghịch vừa tìm tòi khoa học và coi trọng kỹ thuật, vừa chạy theo những bùa phép với những tác động của quỷ ma ta cần phải trở lại với Ðức Kitô và hoà nhập thành một với Người để Người chuyển thông quyền năng làm chứng cho Tin Mừng qua các dấu lạ như chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ, nói được thứ ngôn ngữ mới lạ của tình thương mà Thánh Thần thúc đẩy trong lòng ta (x. Mc 16,16-20). Ðó cũng là một trong những chìa khoá thành công của anh em Giáo hội Ngũ Tuần khi họ gắn bó với Ðức Kitô và thở được Thần Khí của Người.
Sống trong một châu lục với nhiều dân tộc có các nền văn hoá và tôn giáo khác nhau, ta cần trở lại với Ðức Kitô để thấy Người không phải là của riêng Kitô giáo nhưng là Ðấng Cứu Ðộ của toàn thể nhân loại và vũ trụ. Cha trên trời muốn cứu độ tất cả con cái mình nên đã ban Người Con Một cho chúng ta và Chúa Thánh Thần vẫn đang chuẩn bị cho việc Ðức Kitô đến với mọi người cũng như không ngừng nói trong các tôn giáo (x. Tuyên ngôn của CÐ. Vat. II, Nostra aetate, số 1; Giáo hội tại châu Á, số 15,18). Học lại thái độ khoan dung của Ðức Kitô, ta sẽ biết phân biệt những hình thức mê tín dị đoan đồng thời biết đánh giá đúng các nghi thức phụng vụ, lời kinh và cách sống của những người không cùng tôn giáo với mình, thậm chí ngay trong việc trừ ma diệt quỷ của họ (x. Mc 9,39-40).
Trở lại với Ðức Kitô ta sẽ khám phá ra mầu nhiệm Nhập Thể luôn gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thế để can đảm dấn thân vào xã hội trần thế hôm nay. Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành Ðức Giêsu Nazareth, đã đi vào dòng lịch sử con người, đã đón nhận những yếu tố của vũ trụ vật chất qua thân xác của mình. Người đã đưa tính cách tuyệt đối, vĩnh hằng, thánh thiện, vô cùng của Thiên Chúa vào trong cái tương đối, nhất thời, tội luỵ, hữu hạn của con người và vũ trụ để từ nay tất cả đều được biến đổi và thần hoá. Từ đấy, mỗi con người đều có giá trị vô song dù họ già nua, tàn tật, xấu xa đến đâu chăng nữa. Từ đấy, mỗi công việc đều có giá trị vĩnh hằng, đem lại ơn cứu độ dù nó chỉ kéo dài một vài giây như nụ cười, dù có vẻ tầm thường như các chậu quần áo ta giặt mỗi ngày, dù có vẻ nhơ bẩn như làm vệ sinh, rửa mặt, đánh răng mỗi bữa.
Trở lại với Ðức Giêsu Kitô để thấy rằng qua việc Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành con người, thì con người trở thành con đường của Thiên Chúa và cũng là con đường của Giáo Hội để tập trung mọi cố gắng lo cho hàng tỷ con người trong vùng đất châu Á, nhất là những con người nghèo khổ, yếu kém, bị bóc lột và bị gạt ra ngoài lề xã hội, như Ðức Giêsu đã tất bật từ sáng sớm đến tối mịt để rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ cho con người.
Lời dạy của Ðức Giêsu: "Con người làm chủ ngày Sabbat" như mời gọi các người có trách nhiệm xây dựng cơ sở vật chất trở về với tinh thần nghèo khó thật sự của Người. Những ngôi nhà thờ đồ sộ, những tu viện to lớn với cách bày trí sang trọng, sừng sững giữa các túp lều tranh rách nát, mái tôn han rỉ, cống nước thải lộ thiên trở thành những pháo đài kiên cố khiến người ta ngại ngùng không dám tìm gặp Ðức Kitô ở đó. Những buổi lễ phụng vụ dài lê thê, với hàng chục ngàn tín hữu tham dự, ngồi bó gối bất động hay đứng chật như nêm cối giữa trời nắng chan chan hay mưa phùn gió bấc để đón tiếp một vị chức sắc quan trọng nào đó, có thể làm cho người chưa tin đạo cảm thấy sợ hãi trong cách diễn tả lòng sùng kính, tôn thờ. Những cuộc hành hương với vài trăm ngàn người trong các đại hội Thánh Thể, hay Ðức Mẹ La Vang, Lộ Ðức, Tà Pao, trong đó mỗi người ở xa tiêu hàng triệu đồng, người ở gần tốn vài chục ngàn cho việc đi lại ăn ở và nếu tính tổng cộng có thể lên tới hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ đồng, trong khi học sinh vẫn còn thiếu lớp, thiếu trường, trong khi nhiều bệnh nhân chưa cầm được bát cháo giúp đỡ như anh em Phật giáo Hoà Hảo ở Long Xuyên thì có khi ta phải nhìn lại cách thức bày tỏ lòng đạo của chúng ta đối với Chúa và Ðức Mẹ cho âm thầm, khiêm tốn hơn chăng?
Lời kết
Có lẽ còn rất nhiều điều, nhiều việc trong nếp sống đạo của người tín hữu ở Việt Nam cũng như ở châu Á cần được nhận định và sửa đổi lại dưới ánh sáng của Ðức Giêsu Kitô để biểu lộ được sự thật, sự sống và tình yêu của Người cho các dân tộc đang sống quanh mình. Chúng ta hy vọng sẽ có nhiều người tìm đến với Ðức Kitô không phải chỉ qua những nghi lễ trang trọng, việc bác ái từ thiện của người tín hữu nhưng họ gặp được nguồn của tình yêu, của chân thiện mỹ là chính Ðức Kitô khi các Kitô hữu tìm về với Người và xuất phát lại từ Người.
II. Tôi đã gặp Ðức Kitô như thế nào trong đời tôi?
- Truyện kể về Ðức Giêsu qua sứ điệp loài hoa
Sứ điệp loài hoa là tên cuốn sách nhỏ, dày 48 trang. Mỗi trang chỉ có vài chục dòng kể về những bông hoa và sứ điệp của chúng gửi cho con người. Nhưng đối với riêng tôi, tập sách còn ẩn giấu câu chuyện về tình yêu và quyền năng mà Ðức Giêsu muốn chia sẻ mỗi khi tôi gặp thử thách trong đời.
Vào tháng 8 năm 1990, Ðức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình bảo tôi phải làm cái gì cho giới trẻ. Tôi hứa với ngài sẽ viết một tập sách nhỏ về các loài hoa. Tháng Giêng năm 1993, cuốn sách ra mắt lần đầu tiên và được các bạn trẻ nồng nhiệt đón nhận. 15,000 cuốn bán hết ngay trong tháng và tiếp tục in thêm 20,000 cuốn trong lần tái bản I. Ðức Tổng Phaolô rất vui và ngài đã viết thư xin Sở Văn hoá Thông tin TP.HCM cho phép tái bản lần II. Tuy nhiên, dù Ðức Tổng Phaolô đã viết thư đến lần thứ ba để xin phép tái bản nhưng Sở Văn hoá Thông tin đã không trả lời.. Mãi sau này tôi mới hiểu, do bài viết về loài hoa bất tử nên tập sách đã bị liệt vào loại sách cấm.
Hè năm 1993, tôi gặp bà Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâu, giảng viên Ðại học Y Dược TP.HCM. Bà mời tôi đến gặp người em rể tại một căn biệt thự ở đường Tú Xương. Ông bị tê liệt và đi lại rất khó khăn. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau khoảng 1 giờ. Trước khi ra về, ông tha thiết mời tôi trở lại vào 9 giờ sáng hôm sau, dù 15 giờ chiều ông phải đáp máy bay sang Canada. Hôm đó là ngày 12-6-1994.
Tôi trở lại thăm ông cùng với bà Lâu, dành 15 phút để xoa bóp cánh tay ông và xin phép được cầu nguyện cho ông. Sau vài lời kinh tôi nói với ông:
- Xin ông giơ tay lên.
- Ông ngạc nhiên nhìn tôi và nói: Cánh tay tôi đã chết từ 4 năm nay rồi. Tôi đã đi chữa ở hầu hết các nước XHCN và thậm chí ở vài nước tư bản, nhưng các bác sĩ đều bảo cánh tay tôi chết rồi.
- Tôi vẫn tha thiết xin ông giơ cánh tay lên.
Bỗng nhiên, ông giơ cánh tay lên khỏi đầu và làm đi làm lại mấy lần, đôi mắt mở to vì ngạc nhiên pha lẫn vui sướng. Rồi ông hỏi tôi:
- Tôi có thể làm gì cho linh mục?
- Thưa bác, tôi đến đây chỉ để cầu nguyện cho bác và không xin gì cả.
Ông quay sang hỏi bà Lâu:
- Tôi có thể giúp gì cho linh mục này?
Bà Lâu nói với ông rằng tôi phải lo in các sách cho toà tổng giám mục TP.HCM và từ mấy năm nay không được phép in cuốn sách nào, ngay cả việc tái bản cuốn Sứ điệp Loài hoa.
- Chị có cuốn sách đó ở đây không? Ông hỏi.
- Bà Lâu vẫn giữ cuốn sách nhỏ của tôi trong ví nên lấy ra đưa cho ông xem. Ông lật qua lật lại mấy trang, rồi bước tới bàn làm việc, cầm lấy điện thoại và gọi đến vài nơi. Ít phút sau ông nói với tôi:
- Xin linh mục cứ yên tâm. Chừng một tháng nữa khi ở Canada về, tôi hy vọng linh mục đã có phép in các sách như thế này.
Quả thật, hơn một tháng sau tất cả 30 cuốn sách trong kế hoạch in ấn năm 1994 của Toà Tổng Giám mục đã được cấp giấy phép xuất bản, trong đó cuốn Sứ điệp Loài hoa được tái bản với số lượng 20,000 cuốn và 10,000 cuốn song ngữ Anh-Việt (GP số 18-11/CXB, cấp ngày 16-01-1995).
Với sự can thiệp này, tập sách không còn bị liệt vào loại sách cấm và được phép tái bản nhiều lần sau đó. Chỉ riêng Toà Tổng Giám mục đã tái bản tới 5 lần và số lượng đạt 145,000 cuốn, không kể số sách in lậu của các nơi khác. Năm 2006, Ðức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, giáo phận Ðà Lạt, xứ sở của loài hoa đã nhờ anh Nguyễn Ngọc Hiệp làm cho tôi băng hình Sứ điệp Loài hoa với giọng đọc Anh-Việt của các nhân viên đài Chân lý Á Châu (Veritas in Asia - Philipphines) để các bạn trẻ vừa có những hình ảnh sống động của các loài hoa đẹp, vừa nghe được sứ điệp mà Ðức Giêsu muốn chuyển đến qua đàn em thụ tạo của Người. Ðây là quà tặng quý giá mà tôi không bao giờ ngờ tới trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay.
Tác động của Ðức Giêsu đối với tập sách nhỏ bé này như muốn thôi thúc tôi loan báo sứ điệp của Người không phải chỉ trên những loài hoa mà còn trong cuộc đời của mỗi người đang sống quanh tôi. Chính nhờ lời yêu thương và quyền năng Người đã tạo thành ta, cứu độ ta, thì cũng nhờ lời ấy, Người sẽ cho ta được tham dự vào thần tính của Người để ta thành loài hoa đẹp trong cánh đồng trần thế hôm nay.
III. Bạn nghĩ gì về những người theo các tôn giáo khác trong nước bạn?
- Niềm Vui của sự liên đới
Nước tôi có 6 tôn giáo chính là Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hoà Hảo, Cao Ðài, các hệ phái Tin Lành và Hồi giáo. Ngoài ra, rất nhiều người theo đạo ông bà thờ cúng tổ tiên và cũng có nhiều người vô thần kể từ khi người cộng sản lãnh đạo cuộc chiến và nắm chính quyền ở miền Bắc vào năm 1954 và miền Nam 1975 đến nay. Phật giáo có khoảng gần 10 triệu người trên tổng số 84 triệu dân, chiếm khoảng 12% dân số. Người Công giáo chúng tôi có gần 6 triệu người, chiếm khoảng 7% dân số. Trong dòng lịch sử dân tộc, các thế lực ngoại xâm suốt gần 12 thế kỷ đã dùng chính sách chia để trị tìm mọi cách chia rẽ đồng bào các tôn giáo vì sợ họ hợp nhất thành một lực lượng chống đối chính quyền, khiến cho đồng bào theo các tôn giáo có cái nhìn không mấy thiện cảm về nhau và hầu như rất ít khi cộng tác với nhau trong hoạt động từ thiện, bác ái xã hội.
Theo lời dạy của Công đồng Vatican II, nhiều vị mục tử Công giáo ở nước tôi trong những năm gần đây đã tìm cách đối thoại và cộng tác với các anh em tôn giáo bạn, nhất là trong lĩnh vực cứu trợ những nạn nhân thiên tai, giúp đỡ những người nghèo khổ yếu kém trong xã hội. Khi cùng làm việc bên nhau, chúng tôi chẳng còn để ý đến những khác biệt về màu áo, về quan điểm tôn giáo hay chính trị của nhau mà chỉ còn chăm chú nhìn vào những con người khốn khổ để nhận ra rằng tất cả đều là anh em trong đại gia đình nhân loại.
Uỷ Ban Bác ái Xã hội thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chúng tôi hằng năm thường tổ chức các khoá đào tạo các nhân viên xã hội để phục vụ những người khuyết tật, và chúng tôi gửi giấy mời tới các vị tăng ni Phật giáo để đào tạo cho họ về lĩnh vực này. Chúng tôi đến thăm các cơ sở khuyết tật của các anh em Phật giáo, cùng trao đổi kinh nghiệm săn sóc những người khuyết tật, cùng vui chơi và ăn uống chung với họ trong khoá học. Sự cộng tác này giúp chúng tôi khám phá ra rằng chúng tôi đang cùng đi chung với nhau trên con đường sự thật và sự sống dù mỗi bên chúng tôi gọi con đường ấy bằng những tên khác nhau. Rồi nếu chúng tôi cứ tiếp tục tiến bước theo con đường này với lòng khoan dung thì cuối cùng tất cả chúng tôi cũng sẽ gặp được Ðức Kitô vì Người chính là đường, là sự thật và là sự sống.
Bạn hãy nhìn nụ cười rạng rỡ của Thượng toạ Thích Thiện Chiếu, trụ trì chùa Kỳ Quang II, Giám đốc một trung tâm trẻ khuyết tật của đồng bào Phật giáo khi trao cho chúng tôi Chuỗi Bồ Ðề và đeo lên mình tràn Chuỗi Mân Côi. Nụ cười ấy như khuyến khích chúng tôi cần phải cộng tác với nhau nhiều hơn nữa để niềm vui lan toả cho tất cả mọi người.
IV. Trong nền văn hoá dân tộc, những tập tục và truyền thống nào diễn tả Tin Mừng của Chúa Giêsu?
- Sự hiện diện của người đã khuất
Trong nền văn hoá của dân tộc Việt Nam cũng như của các nước châu Á, nhiều phong tục đối với người đã khuất là dịp để chúng ta suy nghĩ về cách diễn tả Tin Mừng của Ðức Giêsu.
Nếu bạn đến thăm một gia đình Việt Nam, bạn sẽ thấy ngay bàn thờ gia tiên thường được đặt ở gian chính của ngôi nhà hay ở một nơi trang trọng trong những căn hộ chật hẹp ở thành phố. Trên đó người ta bày ra những bài vị của cha mẹ, ông bà hay tổ tiên từ năm đời trở xuống. Sự hiện diện linh thiêng của người đã khuất như nhắc bảo con cháu phải sống tốt đẹp, xứng đáng với lòng tin tưởng và uỷ thác của các ngài. Nếu người đã khuất mới qua đời từ một đến ba năm thì ngoài bảng tên, người ta còn bày thêm hình ảnh để sự tưởng nhớ gần gũi và mật thiết hơn. Trong những ngày giỗ, Tết, người sống sẽ thắp hương, chưng hoa, đèn, và làm mâm cỗ để cùng chia sẻ với người chết. Người ta có thể kéo màn che bàn thờ, chờ cho cây nhang tàn để cho người chết thông thả hưởng dùng rồi mới lấy mâm cỗ xuống chia cho con cháu.
Nếu bạn đi trên đường trường, nhất là ở những đoạn nguy hiểm đã từng xảy ra tai nạn chết người, sẽ thấy những trang thờ là những nhà nhỏ bằng gỗ hay bằng xi-măng do người thân hay do dân chúng địa phương đặt lên để tưởng nhớ người đã khuất. Vào những ngày giỗ, Tết, hay vào bất cứ ngày nào, người ta cũng có thể cắm một vài nén hương, đặt vào một vài trái cây để tưởng nhớ người xấu số. Việc tưởng nhớ này không phải chỉ thể hiện trong dịp lễ Vu Lan, vào ngày rằm tháng bảy mà chúng ta gặp thấy ở hầu hết các nước theo ảnh hưởng của Phật giáo.
Sự hiện diện của người chết còn thể hiện qua việc lưu giữ tro tàn sau khi hoả táng ngay tại gia đình trong một thời gian nào đó như để người chết và người sống có thời gian hiệp thông với nhau trước khi gửi hũ cốt người thân vào ngôi chùa hay thánh đường nào đó. Xác thân con người đã từng gắn bó với linh hồn nên luôn luôn là vật linh thiêng mà bất cứ ai cũng phải tôn trọng, dù trong thời đại tôn sùng khoa học kỹ thuật như hiện nay. Có những bà mẹ bị hư thai nhưng vẫn cố gắng xin chôn cất bào thai với đầy đủ nghi lễ và cũng lập bàn thờ tưởng nhớ như một người trọn vẹn.
Những tập tục tưởng nhớ người đã khuất trên đây chuẩn bị cho đồng bào chúng tôi cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa và tiếp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng hằng sống đã ban sự sống cho mọi người, nên tất cả chúng ta, dù đã chết hay đang sống, vẫn luôn hiện diện trong Chúa. Sự hiện diện của ông bà tổ tiên như nhắc nhở chúng ta về nguồn sống là chính Thiên Chúa để chúng ta sống xứng đáng với Ngài và tốt đẹp với nhau. Hơn nữa, một khi tin Ðức Giêsu là sự sống lại và là sự sống (x. Ga 11,25), là thẩm phán của người sống và kẻ chết, chúng ta được mời gọi để chuyển cầu cho những người đã khuất, nhất là những người không còn người thân tưởng nhớ đến mình. Cuối cùng, "Ðức Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một" luôn mời gọi ta tôn trọng sự sống của bất cứ con người nào, dù đó chỉ là bào thai bé nhỏ hay người già bệnh tật không còn làm được bất cứ việc gì.
Nhiều tập tục tương tự trong nền văn hoá dân tộc cũng đang mời gọi chúng ta suy nghĩ và khám phá lại dưới ánh sáng Tin Mừng.
LM Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
http://www.simonhoadalat.com/
Friday, October 13, 2006
Hà Nội Biệt Thự Ký Sự
| Những con đường biệt thự (VietNamNet) - "Hãy làm cho tôi một ngôi nhà kiểu Pháp" - Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, người trở về từ Pháp và nổi tiếng với nhiều công trình lớn ở Việt Nam, đặc biệt là công trình tôn tạo Nhà Hát lớn Hà Nội thường xuyên nhận được những "đơn đặt hàng" như vậy. Xem ra nhu cầu "ở nhà Tây..." vẫn không hề cũ.
Những con đường biệt thự Đi trên phố phường HN, đang ngộp thở trong mùi khói ô tô, xe máy, đang cần mẫn nhích từng bước để thoát khỏi đám đông tắc đường ngồn ngộn người, thì đôi lúc, người ta bỗng như lạc vào một không gian tĩnh lặng. Đó là khi, những tán cổ thụ đều tăm tắp đứng nghiêm cẩn rủ bóng xuống cánh cổng sắt im lìm, cũ kỹ. Là khi bóng nắng phơ phất lọt qua vòm lá đan kín nhảy múa trên những vỉa hè đang nằm yên ngủ. Phố xá sầm uất như biến mất sau những bức tường vàng nhàn nhạt. Âm thanh phố phường hỗn tạp đột ngột như rơi xuống sâu thẳm rồi vẳng lên dưới vòm lá. Tay điều khiển xe máy vô thức mà chầm chậm lại để có thể hít vội hít vàng chút không khí man mát đượm mùi hương sấu, hương dâu da dịu nhẹ. Phải hít hà thật nhanh, bởi thoáng chốc, lại là người và xe cuồn cuộn phía trước... Ta đang đi qua một trong những con phố hiếm hoi thường gọi là "phố biệt thự" hay "phố Tây" ngày trước. Hơn trăm năm đã trôi qua, kể từ khi quanh Hồ Gươm mọc lên những ngôi nhà có ống khói lò sưởi duyên dáng và những ô cửa sổ cuốn vòm kiều diễm thì Hà Nội vẫn gần như còn giữ được nguyên vẹn một phần quần thể kiến trúc Châu Âu đặc biệt này. Quen thuộc nhất là cụm Ba Đình với các tuyến phố mà chỉ nhắc đến tên thôi đã tĩnh lặng và yên ả: Phan Đình Phùng, Nguyễn Cảnh Chân, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ... Xuôi xuống phía Nam hồ Hoàn Kiếm là các biệt thự nằm rải rác dọc Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du... Hai quần thể kiến trúc hiếm hoi được nối với nhau bởi "xương sống" Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền - khu thương mại sang trọng bậc nhất Hà thành. Đi thẳng xuống phía Đông hồ Hoàn Kiếm là các công trình công cộng như Bưu điện Bờ Hồ, Nhà hát Lớn, Ngân hàng Đông Dương, Bảo tàng Lịch sử, Viện Pasteur, khách sạn Metropole, là phố Lý Thái Tổ, Ngô Quyền, Phan Chu Trinh... Cuối thế kỷ thứ 19, ngay từ khi đặt chân đến Việt Nam người Pháp đã cho xây dựng và phát triển Hà Nội với tham vọng dựng "một Pari thu nhỏ trong lòng Đông Dương" để thỏa nỗi nhớ của người xa xứ. Theo Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, người từng sống nhiều năm bên Pháp, thì đó là "một quần thể chi tiết và hệ thống, phân khu rất rõ ràng, khoa học". Công cuộc xây dựng đã kéo dài cho tới đầu những năm 40 của thế kỷ 20. Đầu não hành chính là khu Ba Đình (phía Nam Hồ Tây), lui xuống phía dưới là nơi tọa lạc những biệt thự của quan chức cấp cao. Nơi hiện giờ là phủ Chủ tịch và trụ sở của Bộ Ngoại giao, xưa vốn là Phủ toàn quyền Pháp. Xuôi về Hồ Gươm, phía Bắc là 36 phố phường, trung tâm buôn bán sầm uất nhất của người Việt. Phía Đông là ngân hàng, bưu điện, phía Nam là khu biệt thự của công chức Pháp.
"Một nửa của Hà Nội"
"Dù ở Châu Phi, ở các nước Đông Dương khác hay bất kỳ một quốc gia thuộc địa nào của Pháp cũng không thể có được cụm kiến trúc đặc sắc này giống như ở Hà Nội", KTS Hồ Thiệu Trị so sánh. Ông Phạm Hoàng Hải - chuyên gia văn hoá, du lịch - giải thích: "Vì dự định sẽ sống vĩnh viễn tại VN cho nên người Pháp mới dồn tâm huyết xây nên các công trình tuyệt tác. Và cũng trong cái tâm lý ấy mà nhà nước bảo hộ cùng với các công chức cấp cao, các nhà thương gia đã đua nhau xây nên các khu biệt thự với lối kiến trúc hệt như ở quê hương họ". Vết tích biệt thự cổ kiến trúc Pháp còn rải rác đâu đó ở Sài Gòn, Huế, Hải Phòng và những địa danh nghỉ dưỡng Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo... Nhưng không đâu lại có quần thể biệt thự kết hợp khu phố cổ, bổ sung nét đẹp lẫn nhau giống như ở Hà Nội. KTS Hoàng Đạo Kính đã gọi những ngôi biệt thự ấy chính là một nửa của Hà Nội ngàn năm. Theo thống kê của Sở Địa chính - Nhà đất HN tiến hành vào đầu những năm 1990, Hà Nội có khoảng hơn 2.000 biệt thự mang phong cách kiến trúc châu Âu cổ điển thông qua kiến trúc Pháp, trong đó có một ngàn có giá trị về mặt kiến trúc. Số phận của các biệt thự này có thể chia làm 3 loại: một là được sử dụng làm các cơ quan công quyền đầu não (khu Ba Đình, đường Phan Đình Phùng, Nguyễn Cảnh Chân, ...). Hai là làm tư gia cho các vị lãnh đạo cao cấp. Còn lại, chủ yếu là các biệt thự ở phía Nam Hồ Gươm, thường rơi vào tay nhân dân. Giấc mơ biệt thự "Làm kiến trúc hiện đại ở HN bây giờ rất khó so với áp dụng trong thành phố HCM. Bởi, dấu ấn kiến trúc Pháp tại SG ít hơn và không sâu đậm như ở HN", KTS Hồ Thiệu Trị kể lại kinh nghiệm thực tế. Không ít lần văn phòng kiến trúc của ông cũng như một số KTS khác đã nhận được những đơn đặt hàng xây biệt thự "mô phỏng kiến trúc khu biệt thự Ba Đình" mặc dù chủ nhân của đơn đặt hàng chưa có đủ diện tích quy mô để có thể xây được cả hoa viên. "Thuyết phục họ đi theo một lối kiến trúc hiện đại khác rất khó, bởi trong ý niệm của nhiều người, biệt thự kiến trúc Pháp là mẫu mực, là giấc mơ", ông giải thích.
Ấn tượng khu biệt thự Pháp mạnh mẽ đến nỗi, dù chen lấn giữa những ngôi biệt thự ấy là bóng dáng những biệt thự của người Hoa, hay biệt thự do KTS người Việt thiết kế nhưng chỉ ai tinh ý mới nhận ra. "Nhiều khi các biệt thự của người Việt lại được thiết kế kỹ lưỡng cầu kỳ, nằm trong các khuôn viên rộng lớn hơn cả nhà quan Tây", ông Phạm Hoàng Hải cho biết. Theo ông, các kiến trúc sư đầu tiên của Việt Nam khi thiết kế biệt thự cho những công chức cao cấp hay thương gia người Việt đã lấy cảm hứng từ đường nét những ngôi chùa cổ và tạo hẳn một trường phái "kiến trúc Đông Dương". Bây giờ, đi qua các phố Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, vẫn thấp thoáng bóng dáng những ngôi biệt thự như thế. Mà, điểm khác biệt là góc mái hơi cong lên, diềm mái hoặc ô cửa đắp hình chữ vạn, cổng lợp ngói tám mái, nóc tường có các lớp con sơn đua ra như bên dưới các mái chùa. Trên đường Hoàng Diệu giờ vẫn còn biệt thự của nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô rộng đến mấy ngàn mét vuông, có sân vườn rộng và đẹp như một vườn thượng uyển mà từ đường nhìn vào chỉ thấy cây xanh tràn ngập như rừng. Với các "chú khách" Tàu, biệt thự họ xây thường lẫn lộn giữa lối kiến trúc kiểu Pháp pha trộn những họa tiết Trung Hoa như mái ngói ống lưu ly, tường hoa nóc có vỉa ngói, cổng tròn khắc chữ thọ. Dấu tích còn để lại ở dinh tổng đốc Hoàng Cao Khải (hiện là toà Đại sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu). "Biệt thự người Hoa phản ánh rõ nét vị trí của họ trong xã hội. Là người Hoa, làm ăn thành đạt, nhưng ngoi lên trong xã hội Tây", KTS Hồ Thiệu Trị giải thích. Ông vừa hoàn thành xong việc tu bổ một ngôi biệt thự như thế của người Hoa hiện là văn phòng đại diện cho một doanh nghiệp, đặt ở góc đường Phan Bội Châu. Ngôi biệt thự ấy, dù có họa tiết Trung Hoa nhưng, cơ bản, vẫn thiết kế theo lối kiến trúc Pháp. Sự xuất hiện ấy, càng khiến cho "bức tranh biệt thự cổ" ở Hà thành thêm sinh động.
|
Wednesday, May 24, 2006
Tam Đảo ký sự...
Kỳ 1: Tam Đảo nhìn từ xa và nhìn thật gần
Một người Hà Nội (quê 36 phố phường) từng lang thang tới nhiều địa chỉ du lịch để sống, để trải nghiệm, để rồi viết. Thường, anh không nặng về "kỹ thuật" báo chí mà lôi cuối người đọc ở cách kể chuyện tự nhiên của một khách du lịch về một vùng đất. Bài viết này là phần mở đầu của "Tam Đảo ký sự" với nhiều câu chuyện ít ai biết về Tam Đảo của anh.
Ở Hà Nội, vào những ngày trời trong đứng ở những nơi quang đãng không vướng cây cối phố phường, có thể nhìn thấy nhấp nhô hai dãy núi sẫm in trên nền trời. Về phía đông bắc là Tam Đảo, một cái tên đã đi vào trong trí nhớ không phải vì hình dáng mờ xa của nó mà vì người ta biết rằng ở đó có một khu nghỉ mát trên núi. Phía tây bắc là Ba Vì, một cái tên đã in vào trí nhớ cũng không phải vì sự hiện diện của nó mà chính vì ở đó là nơi có Thánh Tản Viên, vị thần núi của dân tộc ngự trị. Không hiểu vì sao hai dãy núi cùng dăng ngang nhìn về Hà Nội này lại cùng được người xưa lấy con số 3 để đặt làm tên.
Vào những lúc thanh lòng, lẳng lặng nhìn lên Tam Đảo, những người tinh mắt sẽ thấy ít nhất cũng có đến gần chục cái đỉnh khác nhau lô xô chen chúc chứ không phải chỉ có ba ngọn như người ta vẫn thường tưởng tượng mỗi khi nhắc đến tên của dãy núi này. Rồi mấy năm gần đây, chẳng mấy ai còn có thể đứng ở Hà Nội mà nhìn thấy núi cả. Nhà cửa san sát vươn lên che hết mọi tầm mắt. Thêm nữa có mấy ngày người thành phố thấy được trời trong xanh đâu mà nhìn thấy núi, nhất là phía gần chân trời, quanh năm mù mù trắng ngay cả vào những ngày quang quẻ.
Khói bụi đã âm thầm phủ dần lên không trung những chiếc màng mỏng tang mỗi ngày mỗi đục dần nhưng chậm và đều đến nỗi người ta dần quên đi là mới ngày nào họ vẫn còn nhìn thấy những dải núi thẫm nơi chân trời. Hơn thế nữa, thời buổi bây giờ mấy ai lại ngơ ngác nhìn lên trời làm chi. Đăm đáu nhìn trân trân vào mặt đường mà còn va quệt còn ách tắc, ngó lên trời hoạ có là ấm đầu. Vả lại chưa thấy ai không nhìn lên trời mà chết, chỉ thấy lơ mơ không nhìn xuống đất là ngã bổ chửng tức thì.
Nhưng càng cúi xuống nhiều thì người ta càng mệt và lại muốn tìm đường đi ra đâu đó, thế là rủ nhau mà lên Tam Đảo. Để lên Tam Đảo, người ta đi theo con đường nhựa từ thị trấn Vĩnh Yên dẫn vào chân núi. Vòng vèo theo con đường vừa dốc vừa quanh co đến chóng mặt dưới bóng của các tán rừng thông cao vút, khi gần đến thị trấn ngẩng mặt lên là thấy ngay có ba cái chóp núi cao dang rộng cánh tay như mời gọi, như đón chào. Trên một trong ba chóp núi ấy có chiếc cột truyền hình đâm thẳng lên trời, và rất nhiều người đã reo lên: Tam Đảo đây rồi!
Đúng là có ba ngọn núi cao ôm lấy một thung lũng chen chúc khách sạn và biệt thự lớn nhỏ. Đúng là Tam Đảo, ba hòn đảo núi nhô lên giữa một đại dương mênh mông mây trắng. Thế nhưng một lần vừa mới rời khỏi các con đường chính chừng dăm trăm mét đi ra sườn núi phía tây nơi có con đường cụt dẫn vào rừng già, anh chàng kiểm lâm dẫn đường chỉ tay qua bên kia một dải thung lũng uốn sâu hun hút dưới chân và giảng giải rằng: Ba ngọn núi nhô cao bên kia hõm núi có tên là Thiên Thi, Thạch Bàn và Phù Nghĩa. Đó chính là ba ngọn núi tạo thành cái tên Tam Đảo.
Ngọn núi gần nhất có cái sườn uốn cong xanh mướt đẹp và mềm nh
ư bờ lưng của một nàng tiên kia còn được gọi là đỉnh Rùng Rình. Từ dây qua đấy trông thì rõ gần nhưng phải đi chừng hơn một tiếng chui dưới tán rừng. Bước chân lên đó sẽ thấy đất dưới chân mình rùng rà rùng rình như đi trên đệm mút bởi vì cây cỏ bao đời đã bị rêu mốc kết thành một tấm thảm dày trùm lên nhấp nhô đá núi. Ai đã một lần đặt chân lên đó là không bao giờ có thể quên được cảm giác kỳ lạ đến nao lòng. Xưa kia người Pháp đã dọn một con đường mòn đi quanh các ngọn núi. Bây giờ lẫn trong cây rừng vẫn còn một vài chiếc bàn đá lục lăng, ghế ngồi và cả những thanh sắt giăng ngang xưa là tay vịn nay đã mục rỉ…
Hoá ra mình chẳng biết ngay cả đến những cái đơn giản nhất về Tam Đảo. Ngượng ngùng vì sự ngộ nhận bấy nay, quay lưng lại nhìn về thị trấn mới thấy rằng đứng ở đây mới thấy là ba ngọn núi nghênh ngang vây quanh thị trấn còn thấp hơn ba ngọn núi trước mặt nhiều. Về đến văn phòng, tìm trên tấm bản đồ địa hình treo sừng sững trên tường mới thấy thị trấn Tam Đảo chỉ là một cái chấm rất nhỏ trên một dải núi dài có tên là Tam Đảo.
Từ trước đến nay đã có biết bao nhiêu người cũng đã lầm lẫn như thế, cũng đã tự cho mình là đã biết hết Tam Đảo sau một hai lần lên đây thuê phòng khách sạn, ngủ một đêm để hưởng không khí mát lạnh, để ngắm mây trôi. Sành sỏi hơn một chút thì biết tìm đường xuống chân thác Bạc ngồi nghe nước reo, biết ra bể bơi vầy mình trong dòng nước lạnh dẫn vào từ con suối rừng. Đỉnh cao của dân lọ mọ là tìm ra mấy quán nhậu để thì thầm gọi mấy món thịt thú rừng con con, như cầy, như dũi, nhậu với rượu chuối hột. Thế là coi như đã biết hết tất tần tật, chẳng còn gì phải băn khoăn.
Trong hàng mấy trăm du khách đang tràn vào cái thị trấn toàn những là khách sạn ở trên núi kia, có được bao nhiêu người biết đúng đâu là ba ngọn núi cao tạo thành cái tên Tam Đảo, bao nhiêu người chẳng cần để ý đến ba ngọn núi ấy là những ngọn núi nào, và bao nhiêu người đã lầm tưởng ba chỏm vây quanh thị trấn là ba ngọn cao nhất dải núi này? Và còn biết bao nhiêu điều mà không ai biết hoặc không cần biết đến làm gì. Họ đã đặt chân lên Tam Đảo và thế là đủ lắm rồi.
Lang thang dạo chơi theo các con đường nhựa chạy vòng vèo trong thị trấn, thỉnh thoảng người ta lại gặp một dãy tường đá hộc cũ kỹ rêu phong nằm ẩn mình dưới lớp cỏ dày, dẫn xuống một vài dãy bậc thang đá xếp, chỗ lành chỗ vỡ, và đôi khi thấy cả một khúc lan can đổ gục, để trơ cả lõi gạch đã đen rêu. Nhưng không phải ai cũng biết rằng cách đây gần một thế kỷ, bên trên những chiếc nền đá ấy là những biệt thự tuyệt đẹp có cả sân vườn cây cối xum xuê, có bao lơn nhìn ra thung lũng và có tiếng dương cầm êm ái vọng ra hoà vào mây trắng tràn lan bên song cửa. Trên những nền đất ấy đã có những cuộc dạ tiệc linh đình của gia đình những nhà quý tộc Pháp kiêu căng chở nguyên từng viên ngói thuỷ tinh gửi theo tàu biển từ cảng Marseille vượt đại dương sang đây để xây nhà, đã có những cuộc tháo chạy hoảng hốt tơi bời khi người Nhật hăm hở đưa quân lên Tam Đảo.
Và từ đó đến nay, bao nhiêu thăng trầm đã chà đi xát lại trên các nền đá ấy. Thế rồi hôm nay, từ các chiếc hầm móng đổ nát đã dãi nắng dầm mưa mấy chục năm trường nay lại đang mọc lên các khách sạn nghênh ngang hoành tráng. Hầu hết những ông chủ mới chẳng cần biết đến việc cái ngôi nhà trên tầng hầm đá mà họ vừa phá, khi xưa đã có hình hài ra sao. Họ đập thật lực và xây lên thật nhanh, vùi xuống thật sâu những viên gạch vỡ cuối cùng không vứt đi đâu được. Những cụ già hiếm hoi ở Tam Đảo còn được tận mắt nhìn thấy các ngôi biệt thự xưa ấy thì nay đã ra đi gần hết, một vài cụ cuối cùng đã nặng tai, nói nhịu và quên lẫn hết cả. Mà cũng chẳng có ai hỏi han gì, cho nên có nhớ cũng chẳng để làm chi. Và vì không cần nhớ cho nên rất chóng quên.
Nói dại nếu nay mai có động đất đổ nhà sập phố thì rồi lại sẽ có một lớp móng thứ ba đè lên trên của một thị trấn mới mà đến khi cháu chắt ta đào đất để xây cái gì đó lại hô hoán ầm lên là đã phát hiện ra mấy thị trấn cổ nằm đè lên nhau sâu dưới ba tầng đất mà hiện vật thu gom chỉ toàn là gạch vụn tả tơi. Khi ấy sẽ lại có những cuộc hội thảo cuồng nhiệt về việc làm sao có thể hình dung ra cái thị trấn cổ ấy hình hài thế nào. Sẽ lại có rất nhiều tiền đầu tư để làm sao mà bảo tồn các viên gạch vụn, sẽ có nhiều luận án thạc sĩ tiến sĩ về các tầng khảo cổ mới tìm ra. Chẳng khác gì như việc vừa rồi người ta đào móng xây nhà mới đột nhiên thấy mấy tầng móng nát đè lên nhau của các triều đại xưa ở nơi khúc rìa khu thành cổ Thăng Long, đất thiêng sông núi đã một ngàn năm tuổi. Không một di văn, không một ký ức, không một ảnh hình, tất cả chỉ còn là hàng ngàn miếng gạch vụn tả tơi.
Một đêm không trăng sao, ngồi bên bàn rượu với các chàng thanh niên lớn lên trên đất Tam Đảo và lẳng lặng nghe họ chuyện trò. Đầu tiên là người nọ tiếp lời người kia, sau dần thành ra đôi co quanh những mẩu chuyện định nói làm quà cho ông khách lạ. Một chàng cao hứng kể về những gốc chè tuyết cổ thụ trên núi chỉ cách cái bàn rượu này có gần một tiếng đường rừng, năm ngoái anh ta theo bố leo lên hái được đến ba cân búp mang về sao khô rồi biếu mọi người, ngon hơn chè tuyết Suối Giàng nhiều. Chàng khác chặn ngay, chè tuyết trong rừng thì ai chả biết nhưng năm ngoái hái chè thì nhớ sai rồi. Cây chè tuyết ấy đã chết từ năm kia, sau khi bị ai đó định đánh cả gốc mà không được. Đúng là mấy năm rồi không chịu bước chân khỏi nhà. Rồi đến cái chuyện một ông Tây vào rừng rồi lạc mất tăm mấy ngày đến nỗi vợ con phải bay sang để định xin xác mang về. Thế mà cãi nhau mãi cũng không ngã ngũ anh ta người Đan Mạch hay là Hà Lan, lạc ba hay là năm ngày. Nghe như là chuyện ở đẩu ở đâu, không chừng mấy năm nữa lại chìm dần đi đằng sau các bức màn khói của bận rộn đời thường như dãy núi Tam Đảo đã biến mất khỏi tầm mắt của người Hà Nội.
Thế nhưng những ông chủ đang than vắn thở dài vì ai lên Tam Đảo cũng chỉ muốn về ngay, chẳng ai chịu lên thuê phòng vào mùa đông giá rét, các vị ấy đâu có biết rằng không phải những căn phòng khách sạn mà chính là những câu chuyện của những chiếc nền đá đổ nát, của những cây chè tuyết trăm tuổi kia mới có thể làm nên cái hồn để có sức lôi kéo người ta lưu lại Tam Đảo dài hơn và nhớ về Tam Đảo lâu hơn. Thêm nữa, chính những câu chuyện tưởng như vô bổ ấy lại kết thành những lời khuyên minh triết cản tay những người đang hấp tấp biến cái thung lũng nhỏ xinh này thành một đống hỗn độn chen chúc các khối bê tông khổng lồ lạnh lẽo.
Kỳ 2: Ngàn mây Tam Đảo
Từ ngàn xưa, mây đã thân thiết gắn bó với con người. Cúi mặt xuống là đất, ngẩng đầu lên là trời. Đất có hình sông thế núi, có cỏ cây hoa lá, chẳng nơi nào giống nơi nào và lại có bốn mùa đổi thay, vì thế đất có linh hồn. Trời trống rỗng, trời vô cùng vô tận nhưng trời cũng có hình hài, cũng có lúc hân hoan có khi buồn giận. Trời thay tâm đổi tính biến ảo khôn lường, chính là bởi vì trên trời có mây.
Có lẽ kể từ ngày biết đứng thẳng người lên, vươn cổ đưa mắt nhìn lên cao, con người nguyên thuỷ đã thảng thốt với muôn hình vạn trạng của mây trời mà khởi lên cái tâm hồn nghệ sĩ, để rồi biết mộng mơ, để rồi biết ưu tư, để mà đeo đẳng những khao khát vô hình và vì thế đã bước một bước dài từ thân phận con thú trở thành duyên nghiệp con người.
Từ cổ chí kim, không biết đã bao nhiêu nhà thơ say đắm vì mây, bao nhiêu hoạ sĩ đưa mây vào nét bút và ngay lúc này đây, trên khắp quả địa cầu của nhân loại có biết bao nhiêu nhà nhiếp ảnh nhà quay phim đang ngày ngày ngây ngất hướng ống kính lên mây trời. Nhưng liệu có mấy người tả được thế nào là mây.
Ở Tam Đảo ngay hôm nay, ngay lúc này và vào bất cứ khi nào, người ta cũng có thể sống cùng mây, đi ngay trong mây, vươn tay lên chạm vào đáy trời mây và cúi mình xuống để chạm tay vào biển mây ngay dưới chân mình. Nếu mây là một người tình thì trên Tam Đảo người ta có thể đi xuyên qua tâm hồn nàng, có thể vuốt ve và nắm tay mà trò chuyện nhưng chẳng thể giữ chân dù chỉ một giây. Người ta cũng có thể thấy được tình yêu là bao la đến nhường nào nhưng lại cũng vô hình vô ảnh đến nhường nào, có thể thấy ái tình là những điều có thật nhưng cũng lại là những gì hoàn toàn không thể đoán định, không thể thấu hiểu và làm ta luôn luôn bất lực.
Mặt trời đã lên, trời xanh ngát, trong và rộng không cùng. Bỗng nhiên từ đâu đó hiện ra những vạt mây mong manh như sương như khói. Chưa kịp định thần thì đã thấy ùn ùn bên khe núi dâng lên những đợt sóng vô hình kéo theo những vạt mây vươn lên như các tầng bọt trắng khổng lồ của các đợt sóng thần bị kìm giữ lại như chết lặng dưới phép mầu của một một chiếc gậy tiên. Như bàn tay của một nhà thôi miên tài ba, các bức tường mây thoắt ẩn thoắt hiện, tất cả chỉ trong một vài cái nháy mắt. Lúc này tốt nhất là tìm lấy một tảng đá hay một vật cỏ mà ngồi xuống, hoặc tìm một thân cây mà tựa vai vào. Cố kìm nhẹ hơi trong lồng ngực và mở thật to đôi mắt. Ta sẽ thấy được các bước quay chậm mà bất định của vũ điệu slow của những nàng tiên mong manh trong các vạt mây đang dâng bên sườn núi, hay hiển hiện ngay phía sau các ngôi khách sạn mới tinh khôi.
Không một ai là không bị nghẹt thở mỗi khi định tâm nhìn vào trò diễn kỳ dị của mây dâng ở Tam Đảo như vậy. Nếu đang mang theo máy ảnh kỹ thuật số, xin bạn hãy giữ nguyên máy ở cùng một góc ngắm và lần lượt bấm và bấm, cách nhau thật đều. Về nhà đổ ảnh vào máy vi tính, và trên màn hình sẽ thấy liên tiếp các bức ảnh mới chụp được này giống hệt như các tấm phim hoạt hình mà nhân vật ở đây là các đám mây còn núi rừng, nhà cửa chính là sân khấu. Chỉ đến lúc này ta mới có thể biết được mây dâng trên Tam Đảo đã biến đổi hình hài ra sao, còn nếu bằng mắt thường thì vào lúc ấy cũng chỉ có thể thấy được lòng mình xốn xang mà thôi. Xin đừng bận tâm quá nhiều tới các món đặc sản trong nhà hàng, đừng phí thời gian chúi đầu vào cỗ bài tá lả trong phòng kín. Ngoài kia, ngay bên cửa sổ có ngàn mây đang từng phút từng giây trầm lặng trình diễn những hình hài không bao giờ lặp lại, như ngàn vạn kiếp nhân sinh vô thường đi về trong cõi nhân gian mà ta có thể chạm tay vào, có thể đi xuyên qua, có thể hít vào cho đầy buồng phổi.
Trời đang quá đẹp, nắng đang dát vàng lên lớp lớp lá rừng xanh mát. Rồi không biết từ đâu bay tới những đám mây dày xốp như các khối bông gòn khổng lồ theo gió ràn rạt lướt ngang đầu người, để lại trên nóc nhà, trên sân vườn, trên các con đường quanh co những bóng nắng bóng râm nhoang nhoáng rượt đuổi theo nhau. Đột nhiên một bóng mát thật thấp phủ lên bốn bề, ấy là khi có một đám mây đang sà xuống sát mặt đất như muốn nhấc cả các đám cỏ cùng bay lên. Sau một thoáng ngỡ ngàng, mây đã cuốn tít về phía thật xa, nắng lại vàng tươi rực rỡ. Nhưng khi nắng chưa kịp dừng thì lập tức đã thấy lộp bộp trên đầu những hạt mưa rơi, in dập lên mặt đường nhựa những vết ướt to và tròn như những quả trứng cút. Rồi là mưa tới tấp. Dân du lịch hối hả rủ nhau chạy toả ra khắp nơi, chui vào dưới bóng cây, ven hè đường, tìm chỗ trú mưa. Nhưng nếu bạn đang đi với một người dân Tam Đảo thì thấy họ lại chỉ đứng yên hoặc tìm đường chạy ngược chiều mây. Chưa đầy nửa phút, mây đã bay qua, để lại các giọt mưa cuối cùng vương lại phía sau. Lúc này tốt nhất là quay về khách sạn hoặc rẽ vào một quán nào đó. Chỉ vài phút nữa lại sẽ có mấy đợt mây mưa bất chợt như thế. Nếu lúc này có ai đó đang may mắn ngồi bên cửa sổ của một tầng gác cao, sẽ có thể nhìn thấy mây ào ạt bay ngang bên khung cửa, có thể nhìn thấy tít xa, mặt đường dang dần ướt đẫm nước mưa mà bao lơn ngay kia vẫn khô ráo như thường. Đó là vì ở Tam Đảo, người ta đang sống ngay giữa các tầng mây.
Không xa bên phía dưới nơi trung tâm thị trấn có đôi ba khu dân cư thưa thớt với các ngôi nhà nhỏ và các vạt vườn tược quanh co, nằm ở độ cao thấp hơn thị trấn chừng hai ba trăm mét, có cái tên mộc mạc là thôn hai, thôn ba. Vào những ngày mây tầng, đây chính là nơi người ta có thể thấy mình đứng dưới tầng mây trên và đứng ngay trên tầng mây dưới. Ngửa mặt lên thấy các áng mây bồng bềnh trải ra bốn bề, đáy hơi sẫm màu có các viền trắng bao quanh. Cúi mặt xuống cũng lại thấy các áng mây trải ngang thành một mặt biển nhấp nhô mênh mông. Nhiều khi mây kết lại nặng trĩu và loang loáng các quầng sáng nhấp nháy kéo theo những tiếng ầm ì đùng đục. Ấy là dưới chân núi đang có mưa to, có sấm có chớp. Còn ở đây, mây vẫn nhởn nhơ bay trên đầu và thị trấn Tam Đảo vẫn vàng rực trong nắng chiều. Đối diện sang phía bên kia con đường núi, trên công trường xây dựng của một khu resort tương lai tuyệt đẹp, người ta vẫn đang hối hả đổ những chiếc sàn bê tông rộng mênh mông mà chẳng cần phải lo lắng vì tầng mây dưới đã ra sấm ra chớp thì tầng mây trên sẽ chẳng bao giờ mưa cả. Vào những đêm trăng sáng lung linh trải ánh bạc lên lớp lớp tầng mây dưới mà đột nhiên cả một biển mây bao la bừng sáng lên với các ánh chớp chạy lan lan ra giữa trời đêm, đó là lúc mà người có được cái cảm giác rất rõ về cái nơi mà vẫn thường được gọi là hạ giới ở đâu đó tít xa bên dưới chân mình.
Ấn tượng mạnh nhất là đột nhiên ở giữa bốn bề mây dăng thành mặt biển bồng bềnh, bỗng thấy hiện ra một khoang trống, tròn và rộng như một hồ nước lớn hay đúng hơn, như một lỗ hổng trên mặt biển băng Bắc Cực. Qua cái lỗ hổng ấy, người ta nhìn thấy rõ mồn một những con đường nhỏ như sợi chỉ với các dãy phố li ti lúp xúp của thành phố Vĩnh Yên bên dưới. Thượng đế anh minh nhưng vô cùng bận rộn và thường hay tắc trách, mỗi khi hiếm hoi Ngài vén mây nhìn xuống nhân quần, liệu Ngài có nhìn được rõ thế gian không, hay cũng chỉ thấy mờ mờ ảo ảo như lúc này nhân gian chúng con ở trên Tam Đảo nhìn xuống phố xá dưới kia.
Nhưng không phải ai ai cứ lên Tam Đảo là được nhìn thấy cảnh này. Hiếm khi lắm, mà khi có thì cũng hiếm người nhìn lắm. Bạn cứ ra khu công viên mà hỏi các ông thợ ảnh, họ lang thang suốt ngày chờ khách và họ đã nhiều lần được thấy các lỗ mây như thế. Ông thợ nào cũng gật gù khen là tuyệt đẹp nhưng khi hỏi rằng có ai đã chụp được những cảnh ấy chưa thì ông nào cũng nhún vai lắc đầu. Chụp làm gì nhỉ, ảnh ấy thì bán cho ai? Khó hiểu thật, chẳng lẽ mấy chục năm hành nghề, nuôi đủ cả vợ cả con bằng cái ống kính cũ kỹ kia mà người ta lại còn tiếc dăm ba đồng bạc với mây Tam Đảo hay sao.
Nghĩ thêm lại càng thấy lạ, không biết đã có bao nhiêu nghệ sĩ nhiếp ảnh lăn mình trên các nẻo đường Sa Pa, Đà Lạt, đã chụp hàng vạn bức ảnh mây trời ở đó, vậy mà đến nay vẫn chưa thấy ai khoe rằng mình đã chụp ngàn mây Tam Đảo. Nếu nhớ không nhầm thì cũng chưa có một cuộc triển lãm ảnh nào về Tam Đảo cả. Mà Tam Đảo chỉ cách Thủ đô có trên dưới hai tiếng xe chạy và ngay giữa Tam Đảo lại có cả một toà nhà mênh mông dành riêng cho các nghệ sĩ khắp nơi về đây sáng tác.
Tuy nhiên nếu ai đó định chụp ảnh mây Tam Đảo xin hãy nhớ rằng, mây nơi đây chẳng những thay đổi từng phút từng giờ trong ngày mà còn vô cùng khác nhau theo tháng theo mùa.
Giáp Tết năm ngoái, một buổi sáng mở cửa bước ra ban công, tôi bỗng sững sờ thấy nằm xoãi cánh trên sàn, một con chim trời có bộ lông đen ánh. Cái cổ ngoẹo nghiêng với chiếc mỏ dẹt há ra như vẫn đang còn ngơ ngác. Hai bàn chân rộng với những chiếc màng dày co lại như chưa hết cơn đau. Nâng chú chim lên vẫn thấy còn hơi nóng, mang xuống phòng lễ tân thì thấy ông chủ khách sạn cười cười như thể đó là chuyện quá thường. Thì ra đây là các chú bìm bịp bay thành từng đàn rất lớn ào ạt từ phương bắc kéo về Tam Đảo tránh rét. Hôm qua mây mù giăng kín đất trời từ chiều cho hết đêm khuya, người đi còn không nhìn thấy đường ngay dưới chân mình. Lũ chim trời đáng thương dựa vào ký ức dẫn đường của mùa đông năm trước đã bị mây mù che mắt và tới tấp đâm vào các ngôi nhà mới mọc. Lát nữa các quán dưới phố thế nào cũng có các món bìm bịp trong thực đơn và có nhà sẽ bán cả những bình rượu thuốc ngâm nguyên cả một đôi bìm bịp đủ lông đủ cánh. Bổ thận dương, vô địch.
Mây mù làm khổ chim trời nhưng mây mù Tam Đảo lại là một món quà vô giá cho các đôi tình nhân. Không có gì sướng hơn là tay trong tay, dẫn nhau đi trong biển mây dày đặc như thể cả đất trời được đổ đầy một thứ sữa trời trinh nguyên. Hương rừng đại ngàn quyện vào mây mù đậm đặc thấm qua đôi má, theo hơi lạnh mùa đông vào tới tận óc, len qua các lần áo vào tới tận từng thớ thịt làm người ta như thấy được thân thể mình không chỉ có làn da mà còn có cơ bắp và các dây thần kinh. Niềm hạnh phúc bên nhau truyền qua hơi ấm của đôi bàn tay bị mờ ẩn trong mù mây, đôi mắt nhìn nhau như nhìn qua lăng kính vô hình.
Nếu ai đã một lần bị hút hồn bởi mối tình trong mây mù của cuốn tiểu thuyết lãng mạn Anh quốc "Đồi gió hú", hoặc vẫn mơ ước được đi trong sương mù thành London thì sẽ thấy những ngày mù mây Tam Đảo tuyệt diệu đến nhường nào. Và nếu ai lên Tam Đảo, xin hãy nhớ rằng Tam Đảo là nơi mà ta có thể từng phút từng giờ sống giữa ngàn mây.
Chùm ảnh cảnh mây dâng phía sau một khu resort đang xây. (Mỗi ảnh được bấm máy cách nhau 5 giây):
Kỳ 3: Rừng Tam Đảo nhìn qua cửa sổ
Những ngày còn thơ bé, đêm đêm tôi thường được dẫn vào rừng theo bước chân của những chuyện cổ tích mộng mơ. Trong rừng lúc nào cũng đầy muông thú, thỏ sóc, chim bướm vui chơi ca hát, có ông chúa sơn lâm oai vệ và công minh. Rồi bỗng dưng trời sinh nắng hạn thế là có con cóc già vào rừng rủ hươu nai gấu hổ chồn cáo hành quân lên trời. Tít trong rừng sâu còn có nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, có con sói già nằm chờ cô bé quàng khăn đỏ và có nàng công chúa đang thiếp trong giấc ngủ. Ngày ấy rừng có nghĩa là ngôi nhà tuyệt đẹp của muông thú và con người.
Tuổi thanh niên lớn lên theo các bài ca ra trận. Bước hành quân đầu tiên là bước vào rừng để nghe suối hát, để ngắt một đoá hoa rừng gài lên mũ mà đi. Bên con suối rừng có các chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác, có ông già làng dạy các chàng trai phóng lao diệt hổ báo, đặt bẫy cài chông bắt thú rừng. Ngày ấy cùng với các chàng trai dọc ngang trong rừng đại ngàn không chỉ có balô có súng mà còn có cả chim muông, khỉ vượn đồng hành.
Thế rồi không biết là tự bao giờ, thấy rừng đã thật là xa lạ. Và tệ hại thay, nhiều khi rừng chỉ còn được nhắc trên các đĩa thịt thú trong các bữa tiệc đãi đằng của cánh đàn ông mà thôi. Vì đã lạnh lòng với rừng, cho nên hôm nay đứng giữa thị trấn Tam Đảo, giữa san sát khách sạn, biệt thự và nhà hàng ăn uống máy lạnh, nhiều khi quên mất rằng chỉ cần bước có một bước là đã đến rừng, chỉ cần với tay ra xa một chút bên ngoài cửa sổ là có thể chạm vào lá rừng.
Cách đây chưa lâu, Tam Đảo là thiên đường của các quán thịt thú rừng. Những chiếc lồng sắt lèn chặt các chú cầy, sóc, nhím và đôi khi cả những con hoẵng cao lênh khênh. Làm thịt ngay trước bàn, tính tiền theo cân móc hàm. Chủ khách hể hả mời nhau nâng cốc. Đất nước ta giàu đẹp, đâu đâu cũng là rừng vàng biển bạc. Săn bắn và hái lượm vốn là hai nghề chính của tổ tiên chúng ta mà.
Rồi bỗng nhiên ở tận đẩu tận đâu bên trời tây xa xôi, người ta ùn ùn kéo đến đây và nhắc đi nhắc lại mãi rằng rừng là của quý, phá rừng là phá huỷ Trái Đất, giết thú là tự giết loài người. Nghe mãi rồi cũng hiểu và dần dần mới thấy là có lý. Thật là may mắn làm sao. Chỉ chậm chút nữa thì đã hoàn thành công cuộc xoá sổ rừng một cách toàn diện và triệt để trên toàn quốc (!) Nhưng than ôi, đến khi thật sự hiểu ra, nhìn vào thì thấy rừng đã tan hoang trơ trụi, chim thú biến đi đâu gần hết. Đến mức bây giờ ngay cả những người ở đây cũng tin là trong rừng Tam Đảo chẳng thể còn hổ báo.
Cái sự đoán chắc ấy được đinh ninh đến nỗi mấy tháng trước, hai mẹ con nhà chủ của một khách sạn đang xây nơi đầu dốc nhìn ra con đường đi xuống suối Bạc đã tận mắt trông thấy một con thú trông giống như con hổ con. Lúc xẩm tối bà chủ mở cửa ra ban công thì thấy con thú đang đứng lù lù trước mặt. Nghe tiếng hét của mẹ, đứa con trai chạy ra đóng sập cửa lại. Ngẩn ngơ một lúc, con thú mới lẳng lặng nhún người nhảy vút vào bóng đêm. Vậy mà khi họ kể không ai tin cả. May sao sáng hôm sau, mấy chàng thợ xây đã phát hiện dấu chân thú in rõ sâu trên mặt nền bê tông mới đổ còn chưa khô hẳn. Mọi người còn đang tranh cãi xem vết chân con gì thì gặp được một ông giáo sư chuyên về thú rừng đang dẫn sinh viên lên đây nghiên cứu. Sau khi đo đạc cẩn thận, nhà chuyên gia kết luận đó là các vết chân của một con báo lửa, dài chừng 5-60 phân, nặng trên 2 chục ký. Không hiểu vì sao chú ta lại mò vào nơi toàn là gạch cát sỏi đá thế này.
Khi gợi chuyện này với một anh bạn người Tam Đảo đã ba đời sống ở đây, anh ta cười mà bảo rằng chẳng có gì đáng sợ. Nói chung là hổ báo nó sợ người. Mình không gây sự, không định đánh, định bắn thì nó chẳng vồ mình bao giờ. Con gì mà chả sợ con người, thấy mình nó chạy cong đuôi. Ngày anh còn nhỏ, một hôm thấy ông bố chạy về, vứt cái xe đạp giữa sân, ngồi thở hồng hộc. Đến nửa tiếng sau mới hoàn hồn, ông bảo là suyt bị hổ vồ khi đang thả xe đi xuống dốc núi. Xe vừa tới khúc quặt gần ngôi đền Mẫu, bỗng nhiên phi ngang qua đầu ông là cả một con hổ to bằng con trâu, cái chân sau của nó tạt vào làm văng cả chiếc mũ cối trên đầu. Con thú khổng lồ ngoái cổ lại nhìn ông rồi cúp đuôi nhảy vọt vào rừng.
Nghe chuyện, mấy ông thợ săn kỳ cựu cười mà bảo rằng đấy là hổ nó sợ ông quá nó mới nhảy bừa nhảy đại đấy thôi. Ngày ấy làm gì đã có xe máy, khi đi xe đạp xuống núi, ông bố anh phải chặt một khúc cây có thật nhiều cành lá xum xuê, buộc vào đuôi xe để giảm tốc độ. Xe lao đến đâu là bụi bay mù mịt cuộn lên như có lốc, cành lá mài vào mặt đường kêu ào ào như tiếng thác đổ. Chắc hẳn chú hổ này đang định mò ngang qua đường sang sườn núi bên kia, gặp xe ông nó giật bắn mình mà nhảy vọt lên như bà già chạy qua đường cao tốc gặp phải ô tô. Lần sau nếu gặp hổ, cứ kiếm cái cái gậy hay cái đòn gánh giơ chếch lên trời là nó chạy liền. Cái giống này khi chạy trong rừng, chúng nó sợ nhất là bị các cành tre gãy chọc ngược vào ngực.
Mãi cho đến những năm 1971-1972, nhiều đêm hổ vẫn về thôn bắt lợn bắt bò. Mọi người chui hết vào trong nhà. Bà già trẻ con lấy soong nồi ra đập ầm ĩ, đàn ông ghếch nòng súng qua khe cửa bắn ì ọp dăm ba phát súng chỉ thiên, vui như có hội. Sáng ra thế nào các nhà trong thôn cũng có thịt ăn. Không phải thịt hổ mà là thịt của mấy con bò bị hổ cào què chân rách lưng đêm trước. Rượu thịt no nê, cánh đàn ông xách mấy tảng thịt xuống chân núi làm quà rồi rủ hội săn Sán Dìu vào rừng lần theo dấu chân hổ đói. Đó là vào những năm đang bom đạn dữ dội, hươu nai cầy cáo chạy đi đâu hết, không có gì để săn mồi, bất đắc dĩ lắm hổ mới phải vào thôn bắt trộm lợn, bò.
Ngày ấy anh nhớ rằng hầu như nhà nào cũng nuôi một đàn chó, chẳng cần ai dạy chúng cũng biết vào rừng đuổi thú. Thường thì các nhóm thợ rủ nhau lùa chó đi săn. Được con thú nào, xẻ nhỏ chia đều cả người cả chó, mỗi suất một tảng thịt bằng nhau. Con chó đầu đàn săn giỏi nhất thì được cái đầu, đó là sự tự hào của các tay thợ săn. Nhà anh không thạo đi săn nhưng khi thấy tiếng la hét trong rừng, biết là người ta đang dồn thú to, thế là anh cũng thả đàn chó nhà mình ra cho chúng tham gia. Dù chủ không đi nhưng khi chia thịt, chó nhà anh vẫn có phần như nhà khác.
Nhiều nhất là săn lợn rừng. Những đàn lợn chạy nhung nhúc, con to con bé xông cả vào vườn dũi khoai sắn, dũi củ cây thuốc trong vườn nhà. Thế là lại hò nhau thả chó ra đuổi. Anh để ý thấy lần nào các toán thợ săn trở về cũng chỉ bắn được lợn to, không thấy có lợn bé. Mấy đứa bạn tinh khôn trong thôn giảng giải rằng, khi bị các đàn chó tấn công, những con lợn già không chạy mà quây lưng lại chống trả, dành lối cho lũ lợn con trốn thoát ra ngoài vòng vây. Chúng chấp nhận hy sinh đời bố để củng cố đời con, vì thế mới không bị tuyệt diệt. Thấy người ta bắn được lợn là cả thôn chạy ra xem và chia phần, nhưng ngày ấy anh rất sợ ăn thịt lợn rừng. Bì vừa dày vừa dai, thịt thì cứng, nhai mãi rồi cũng đành trệu trạo mà nuốt chửng. Các nhà thường bảo nhau bắt chước tụi Tây khi xưa, hầm thịt với cà chua, thuốc bắc, tra thêm rượu sắn làm món sốt vang để dành ăn được cả tuần. Những ngày ấy, nhà nào cũng phải đổ thuốc nhồi đạn, nạp vào súng treo sẵn trên cột, phòng lũ lợn rừng quay lại phá vườn trả thù.
Còn bây giờ, ở Tam Đảo có bói cũng không thấy ai có súng săn trong nhà. Ngay đến việc kể lại chuyện đi săn người ta cũng tránh nói ở chỗ đông người. Thật là ái ngại. Khi xưa ai săn bắn giỏi mới là người can trường gan góc, được mọi người vì nể. Vậy mà bây giờ nói đến chuyện ấy cứ thấy như thể là người có tội. Vì thế nói ra cứ như là chuyện cổ tích. Chứ thật ra đã lâu la gì, chỉ mới chừng dăm bảy năm trước, thi thoảng lại thấy mấy mẹt thịt gấu bầy bán ngay giữa chợ. Ngày ấy người Tam Đảo đi rừng mà gặp gấu cũng không phải là chuyện lạ.
Vào cữ tháng sáu, mùa cây hạt dẻ, cây khấu rơm ra quả, đi rừng thường rất hay thấy các cành cây to gần bằng bắp đùi bị bẻ gẫy gập, cành lá vương vãi. Đấy là vết gấu vừa đi qua. Gấu ngựa rất thích các chùm quả khấu rơm chín mọng, mỗi chùm to hơn quả bóng đá, chi chít những quả là quả. Ăn no, gấu tìm lên các cành chĩa ngang, nằm úp sấp mà ngủ, trông vừa sợ vừa buồn cười. Tai vạ nhất là đi rừng vào đúng những nơi mà gấu vừa mới đi qua để kiếm mật ong. Bám chân trèo lên các hốc cây có tổ ong mật, gấu dùng đôi bàn tay hộ pháp với các móng vuốt khoẻ hơn gọng kìm mà đập tới tấp cho đến khi thân cây vỡ cả ra, rồi chúng thọc tay vào mà móc lấy các tổ ong đầy mật ngọt. Gấu bỏ đi rồi, ai lơ mơ đi qua là bị đàn ong vỡ tổ tức tối nhào vào tấn công. Mùa ấy đi rừng người ta phải mang theo cái màn để cuốn mỗi khi bị ong đuổi. Chờ chừng một tiếng cho cả đàn ong bay đi, leo lên mót lại cái tổ vẫn còn vô khối là bọng là sáp, có khi được đến hai ba lít mật tươi. Nếu gặp những bọng lộ thiên treo tòng teng trên cành thì phải chặt tre làm đòn mà gánh về.
Vào rừng gặp gấu sợ hơn gặp hổ, nhưng nếu biết thì rất đơn giản. Gấu ngựa có bộ bờm sau gáy rất dài, lông thường rủ xuống đâm cả vào mắt mũi. Vì thế mối khi chạy xuống dốc hoặc chạy xuôi chiều gió, nó thường phải dừng lại lấy tay mà vuốt bờm thì mới trông thấy đường đi. Nếu bị gấu đuổi, cứ lao xuống dốc hay theo chiều gió mà chạy. Đuổi được dăm bước là nó thôi ngay, tóc tai xoã hết cả vào mắt, chán chả thèm đuổi tiếp.
Đấy là theo chuyện kể lại của một ông già xưa kia săn gấu rất giỏi. Ông biết, đôi bàn tay gấu cực khoẻ. Một lần ông bắn trúng ngực một con gấu ngựa nặng có lẽ đến hơn một tạ, nó điên lên dùng bàn tay móc vào một nhánh rễ cây to rồi giật ngược làm thân cây bị xé toạc cả ra. May mà ông chạy thoát. Ông đã giải nghệ từ lâu, suốt ngày ngồi trên phản với đôi chân cụt đến trên đầu gối. Không phải vì bị gấu tát mà vì đầu đạn cao xạ nổ lúc ông đang cưa lấy thuốc làm đạn đi săn.
Đấy là chuyện thú dữ của cánh đàn ông, còn chuyện thú lành thì các bà các chị đều có thể kể được. Cũng chỉ mới có ba bốn năm trước thôi, những đêm sáng trăng, nai hoẵng kéo ra sau nhà ăn su su, tiếng nhai rồm rộp cả đêm. Nằm ôm con trên giường nghe rõ mồn một. Đuổi cũng chả được. Sườn núi dốc chênh vênh, những dàn su su nối tiếp nhau rộng mênh mông, muốn đi phải khom thật thấp mà chui cả đầu xuống dưới. Đêm hôm chạy ra có khi ngã lăn xuống vực cũng nên. Vả lại nghe thì xót nhưng mỗi con chỉ ăn mươi quả là no là chán thôi mà, chưa hết số quả trên một nhánh sào. Nai về ăn mãi đâm quen, đêm trăng nào không nghe tiếng nai nhai quả lại đâm thấy lạ, lại nghĩ hay là hổ beo đang về. Khỉ vượn thì nhiều vô kể. Đánh đu hái quả, kêu hót râm ran cả một vạt sườn núi. Ăn chán rồi còn lấy quả ném vào đầu người đi bên dưới. Ấy vậy mà có ai giấu súng đi từ tít xa là đã hò nhau kêu oai oái, thoắt một cái là đã biến hết vào rừng sâu.
Ngồi nghe các câu chuyện vẫn còn rõ mồn một, vẫn còn nóng hôi hổi như thế này, mới giật mình thấy là tất cả mọi thứ, cả rừng cả con người đều đã thay đổi quá nhanh. Nhìn ra bên ngoài cửa sổ, rừng vẫn xanh ngan ngát như thể từ ngàn xưa rừng vẫn là như thế. Nhìn xuống các con đường quanh co bên dưới, người ta vẫn hớn hở đi lại nườm nượp như thể từ bao nhiêu đời nay, mọi sự vẫn như bây giờ.
Những con thú này bây giờ chỉ có thể thấy ở bảo tàng:
Kỳ 4: "Gõ cửa" những nền biệt thự cũ ở Tam Đảo
Câu chuyện với "Cô Tần" - bà Hồ Thể Tần con gái cụ Hồ Đắc Điềm, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội thời hoà bình mới lập lại - một chứng nhân từng sống trong những căn biệt thự cũ, đã được nhìn thấy những cảnh đời và người ở thị trấn Tam Đảo trước khi nó bị triệt phá đến tận gốc.
Tam Đảo vào thời kỳ hoàng kim của những năm 1935-1944 là nơi gặp gỡ của rất nhiều gia đình các quan lại, công chức cao cấp và các doanh nhân vừa giàu có vừa sang trọng, cả người Pháp và cả người Việt
Nếu bằng cách nào mà ai đó có thể mô tả lại được khi ấy các nhân vật này đã sống một cuộc sống thường nhật ra sao, mỗi người đã suy nghĩ và lựa chọn con đường riêng của mình như thế nào trước cơn bão lớn của thời cuộc, trước bước ngoặt của dân tộc và thế giới thì có thể sẽ để lại cho hậu thế nhiều bài học thực tiễn vô cùng đa dạng, các tấm gương nhãn tiền đầy thuyết phục, các cá tính đầy hấp dẫn như kiểu mà Tolstoi đã để lại trong bộ tiểu thuyết "Chiến tranh và Hoà bình". Chỉ e rằng, rồi tất cả sẽ tan vào quên lãng và không sao tìm lại được.
Theo lời hẹn trước qua điện thoại, 9 giờ sáng một ngày Chủ nhật, tôi đến thăm "Cô Tần" - con gái của cụ Hồ Đắc Điềm, chủ nhân một biệt thự nổi tiếng ở Tam Đảo.
Bây giờ thì người phụ nữ ấy, bà Hồ Thể Tần, đã là một bà cụ ở tuổi trên 70, với mái tóc bạc trắng nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và khoẻ mạnh.
Nghe hỏi về các kỷ niệm ngày bé thơ trên Tam Đảo, sau chưa đầy một phút chìm vào suy tư, bà tươi tỉnh hẳn lên và đôi mắt long lanh sáng như sống lại với những năm tháng xa xưa....
..."Cái ngôi biệt thự trên Tam Đảo ấy là ông cụ tôi mua lại của một viên tướng người Pháp, hình như tên là Alexandrie. Phải rồi, Général Alexandrie. Đó là ngôi nhà nằm cao nhất Tam Đảo, có cái tên rất hay là Villa de Belle Vue, có nghĩa là ngôi biệt thự có tầm nhìn tuyệt đẹp. Đúng là như thế, nhà chúng tôi nằm áp vào sườn núi, nhìn xuống hai bên là các biệt thự nhấp nhô, bên dưới là khu công viên rất rộng, nơi mọi người thường dạo chơi và tít xa nữa là nhìn thẳng xuống chân núi, vào ngày trời trong có thể nhìn rõ cả các con sông, cánh đồng và phố xá của Vĩnh Yên. Bố tôi đã mua ngôi nhà này vào khoảng 1936 hay 1937.
Ngày ấy mua nhà buồn cười lắm, người ta bán tất tật nguyên xi mọi thứ có thể, cả đồ đạc, sa lông, giường tủ, cả tủ sách rất to, cả rèm cửa, chậu hoa. Ngôi biệt thự nằm trên một tầng hầm bằng đá tảng rất rộng dùng làm garage, có hai con đường lát đá thành bậc đi vòng hai bên. Tôi không biết cụ mua hết bao nhiêu tiền, ngày ấy tôi mới có tám chín tuổi. Thường thì bắt đầu nghỉ hè chúng tôi lên đây chừng một tháng, hết nóng thì đi Sầm Sơn, rồi vào Bạch Mã, Đà Lạt. Toàn ở trong các biệt thự riêng của gia đình".
| |
Tôi đã biết cái nền hầm này trên Tam Đảo, bây giờ vẫn còn nguyên xi các bờ đá xếp cao gấp bốn đầu người như một khúc tường pháo đài, vẫn còn hai cánh cổng sắt to lớn kín mít với dòng chữ GARAGE khắc bên trên. Hiện nay hầu hết những người dân gốc Tam Đảo ở độ tuổi trên 50 đều biết đó là nền biệt thự cũ của cụ Hồ Đắc Điềm, một người mà bố mẹ họ mỗi khi nhắc đến đều tỏ rõ một thái độ tôn kính, còn họ thì chẳng bao giờ được thấy vì khi ấy còn chưa ra đời.
"Trên cái hầm ấy có hai tầng nhà. Chúng tôi ở tầng trên, có ba phòng ngủ, một phòng ăn, tất cả quây quanh một phòng khách rất rộng. Đây là nơi chúng tôi thích nhất, phía trước phòng nhô ra hình bầu dục, lát kính vừa cao vừa rộng, ngồi đó có thể nhìn được khắp nơi. Tôi nhớ là có các biệt thự của ông Thẩm Hoàng Tín, dược sĩ học ở Pháp về, sau này làm chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, có nhà ông Hoàng Thuỵ Ba là bác sĩ nổi tiếng, còn có anh em nhà ông Trịnh Văn Bô, Trịnh Văn Bính là các gia đình đã bí mật nuôi bao nhiêu là cán bộ, đã biếu Cách mạng hàng ngàn cây vàng. Căn nhà ở phố Hàng Ngang của ông Trịnh Văn Bô chính là nơi Cụ Hồ đã ở và viết Tuyên Ngôn Độc Lập khi bí mật về Hà Nội lãnh đạo Cách Mạng Tháng Tám 1945. Xa hơn chút nữa có nhà Cự Chung, Cự Đạt là các nhà tư sản dệt nổi tiếng đã cạnh tranh cả với tư bản người Hoa người Ấn. Đâu hình như còn cả biệt thự nhà ông Hương Ky có cửa hiệu ảnh rất to ở Hàng Bông thì phải. Góc bên kia là nhà ông Thân Trọng Hậu, con cụ Thân Trọng Huề thượng thư Bộ Học, là anh ruột vợ Trần Văn Chương bố đẻ của bà Lệ Xuân vợ ông Ngô Đình Nhu.
Dưới ngay đầu dốc là cửa hàng tạp hoá có bán đủ thứ từ len sợi cho các bà các cô đan áo, cho đến đồ chơi, dụng cụ gia đình, đồ hộp, rượu bia. Đây là chi nhánh của nhà tạp hoá Chaffangeons sang trọng nhất Hà Nội, to như một siêu thị ở góc phố Tràng Tiền, nay là cửa hàng sách quốc văn. Chính giữa là một khách sạn có lẽ là duy nhất ở đây, hình như tên là Grand Hotel. Khách sạn này rất đẹp nhưng bọn tây không cho người ta vào. Cũng vì thế mà cánh nhà giàu Hà Nội rủ nhau lên đây mua biệt thự riêng".
Người Tam Đảo bây giờ vẫn gọi cái nền hầm khổng lồ nằm ở đầu con đường đi vào trung tâm ấy là "đồi khách sạn", hiện vẫn còn có các khoang hầm bê tông nham nhở rêu phong, mặt phủ đầy cỏ và làm bãi đỗ xe tạm thời đối diện với một khu khách sạn lớn có tên là Nhà khách tỉnh Vĩnh Phúc. Nhiều đoàn học sinh lên đây hay mua gỗ ván thùng ra nóc hầm này đốt lửa trại, ca hát. Còn về các biệt thự của gia đình nói trên nay chẳng còn ai biết đến tên các chủ nhân này và cũng chẳng thể biết nền móng cũ của chúng là ở chỗ nào. Không biết trong hồ sơ địa chính có còn chút dấu tích nào hay không.
"Bọn Tây ở Tam Đảo đông lắm, các biệt thự tây đều nằm ở phía bên kia con suối Bạc. Cạnh dòng suối có một cái bể bơi rất đẹp và một công viên rộng, nhiều hoa, có cả những chiếc ghế xích đu. Tít xa bên mỏm bên kia là khu lâu đài của toàn quyền Paul Bert. Nhưng nằm đâu thì nằm, các mặt nhà đều quay về phía thung lũng trung tâm. Trên cao bên trái này có các bể nước rất rộng, không biết bây giờ có còn hay không. Đã mấy chục năm rồi cô không lên Tam Đảo. Khi nào thuận tiện cô cháu mình lên lại xem sao nhé".
Mỏm đồi toàn quyền là một địa danh nổi tiếng ở Tam Đảo vì đây là một nền nhà mênh mông, nằm bên trên ba bề vực thẳm, có tầm nhìn rất khoáng đạt. Chỉ còn lại mấy dãy lan can đổ nát và mấy đường bậc thang dẫn xuống phía vực sâu nhưng cũng đủ cho thấy khi xưa khu lâu đài này rất đồ sộ và oai nghiêm. Bây giờ trên nền đất hoang có mấy dàn su su và các luống rau cỏ. Lác đác có mấy chiếc hố sâu là nơi ủ phân nhưng cũng có lời đồn đó là dấu vết của các cuộc kiếm tìm kho báu bí mật, mặc dù không ai tin là có thật. Còn mấy bể nước chính là khu lọc nước suối trên núi cao để đưa vào mạng lưới cấp nước sạch cho toàn thị trấn được xây từ năm 1925 cho đến nay vẫn hoạt động rất tốt. Cái bể bơi cũng vậy, vẫn sạch đẹp, được dẫn nước từ suối Bạc chảy vào nhưng đang được chuyển giao cho ai đó để kinh doanh vì thế năm nay để khô cạn không cho khách vào bơi. Chếch ngay gần đấy có một khối nhà cao vỡ nát, nham nhở tường đá ôm lấy các cột bê tông đen mốc sần sùi vươn mình trên sườn núi dốc. Có lẽ đây là ngôi nhà đổ duy nhất còn lại ở Tam Đảo mà không biết vì sao vẫn chưa bị đập vụn đến tận nền móng như hàng trăm chiếc khác.
|
|
| |
"Ở Tam Đảo thì buồn. Mấy năm ấy, các cụ thường rủ thêm gia đình ông bà Bùi Huy Đức, tiến sĩ luật và văn chương, cũng làm quan ở Hà Đông đưa con cái lên đây. Trẻ con ở một buồng, mỗi đôi các cụ ở một buồng. Nhà có hai cái xe Renault và Citroel, chỉ hơn hai tiếng là lên đến nơi. Trước khi đi, cho anh bếp lên trước cùng với anh gác nhà ở suốt năm trên ấy cùng lau dọn, giặt giũ phơi phóng tinh tươm, mua đủ đồ ăn thức uống chờ các cụ lên. Đến mấy năm sau thì tầng dưới cho gia đình một sĩ quan Pháp thuê. Đấy đã là các năm đầu Thế chiến thứ hai, bọn tây sợ bom đạn đưa gia đình sơ tán lên Tam Đảo nhiều lắm. Nghe đâu năm 1944 viên sĩ quan này bị Nhật bắt. Tầng dưới nhà này cũng rất đẹp và đầy đủ tiện nghi. Gia đình ấy sống rất lịch sự, êm ả nhưng trẻ con nhà này cũng không thích chơi.
Ngày ấy Tây nó khinh người ta lắm. Một hôm vú em dẫn bọn trẻ nhà này đi dạo qua bể bơi, đứa em cô mới ba bốn tuổi trông thấy một cô đầm lai nằm phơi nắng, nó chạy lại ôm lấy đùi cô gái mà khen là mát và đẹp quá. Hình như cô này tên là Simone, là bồ nhí của một viên tướng Pháp, cô ta thấy thế thích lắm nhưng lập tức một lão cẩm tức là cảnh sát chạy lại và đuổi bọn trẻ chúng tôi. Nó bảo ở đây cấm người
Ông cụ nhà này nghe chuyện tức lắm. Hôm sau ông gặp lão chánh cẩm và hỏi các ông có quyền gì mà cấm người Việt
Tụi này đều học trường tây, nói giỏi tiếng Pháp vì thế rất thích cãi nhau với lũ con tây. Nhiều khi tranh nhau xích đu trong công viên, nhà này đông hơn, bênh nhau làm cho mấy đứa tây con phải chịu thua. Chúng nó chửi "sans annamite" tụi này chửi lại "sans francais". Chúng nó nhổ nước bọt, mình nhổ còn khoẻ hơn".
Tôi ngồi nghe mà thầm phục trí nhớ minh mẫn của bà. Nhắc đến chuyện này, bà bỗng nhớ lại hình ảnh của cụ thân sinh là cụ Hồ Đắc Điềm, một nhân sĩ trí thức dòng dõi trâm anh thế phiệt đã từ bỏ giàu sang, từ bỏ quyền cao chức trọng đi theo Cụ Hồ Chí Minh đến cuối đời.
"Ông nội tôi là cụ Hồ Đắc Trung, là Khánh Mỹ quận công, tể tướng viện cơ mật, một trong tứ trụ của triều đình Khải Định. Ông có người em gái tên Hồ Thị Chỉ là vợ chính thất của Khải Định. Ông ngoại tôi là cụ Hoàng Trọng Phu là tổng đốc Hà Đông có ngôi nhà mà bây giờ là sứ quán Trung Quốc. Bố tôi đỗ cử nhân ở Pháp về thì bị đưa vào triều làm ngự tiền văn phòng. Ông chỉ thích tự do cho nên đã học cả kịch nghệ định mở gánh hát, và đã cùng với ông Khái Lợi ở phố Đông Ba lập ra nhà chiếu bóng Tân Tân ở Huế, mua bao nhiêu là phim châu Âu về chiếu. Rồi cụ còn đi dạy ở trường Hồ Đắc Hàm, một kiểu trường bổ túc văn hoá cho người nghèo. Suốt đời cụ tha thiết với việc nâng cao dân trí, cụ là người luôn đi đầu trong phong trào xoá nạn mù chữ, bình dân học vụ từ 1945 cho đến khi nhắm mắt.
Ông bố tôi vì ghét quan trường, ghét bà Từ Cung mà bỏ sang Pháp học tiến sĩ luật.
Mẹ tôi cũng sang theo để cơm nước nuôi bốn anh em nhà chồng học hành đỗ đạt. Đang làm luật sư bên ấy cùng ông Trịnh Đình Thảo thì bị gọi về nước, lúc đầu làm chánh án toà thượng thẩm rồi bị bố vợ là cụ Hoàng Trọng Phu bắt đi làm tổng đốc Hà Đông để duy trì các nghề thủ công mỹ nghệ của vùng này. Trước kia cụ Hoàng đã dày công chấn hưng thủ công mỹ nghệ dân tộc, chọn các nghệ nhân đưa sang Tàu học nghề lụa tơ tằm, sang Nhật học sơn mài, rồi cả nghề mộc nghề bạc... Cụ mở cả bảo tàng mỹ nghệ cho các nghệ nhân La Cả La Khê. Đến khi Cách mạng, bố tôi trao ấn kiếm cho ông Đặng Kiên Giang chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Hà Đông. Rồi đi theo cụ Hồ lên chiến khu. Ngày hoà bình cụ làm Phó chủ tịch UBND Hà Nội dưới thời ông Trần Duy Hưng, toàn là dân tây học về với cách mạng".
|
Góc vườn hoa nơi xưa kia có những chiếc xích đu. Ảnh: Hoàng Đại Dương |
Chuyện của bà cứ thế trôi tràn như được trào ra từ một kho tàng vô tận của ký ức. Nào là chuyện đi kiệu vào rừng, chuyện nấu canh rau diếp cá hái ở ven suối, chuyện bướm rừng dày như mây bay, chuyện trẻ con xen lẫn chuyện gia tộc gia phong. Rồi lại còn chuyện bà vô tình mua được mãi bên Paris ảnh bố mẹ bà mặc triều phục trong một bộ bưu ảnh cổ của nhà Albert Kahn, lại quay sang chuyện Cụ Hồ nhờ cụ Điềm tiếp Hoàng thân Xuphana Phuma, rồi tiếp cả vợ chồng luật sư Loseby, vân vân và vân vân...
Những mẩu chuyện trên khi kể ra đây, tôi định sẽ mang lại cho "cô Tần" xem và sửa lại nhưng tiếc thay bà đã đi ra nước ngoài thăm con cháu còn lâu mới về. Vì thế xin coi đây chỉ là chuyện tôi nghe rồi kể lại. Và đây chỉ là ký ức đã được người khác ghi lại một cách vội vã chứ không phải là sử liệu chính thống.
Tôi kể lại các chuyện mới nghe được về Tam Đảo này với cụ Bảy, thân mẫu nhà sử học Dương Trung Quốc, cụ cười rất tươi rồi hứa sẽ kể chuyện ông bố của cụ đã làm thầu khoán ở Tam Đảo ra sao. Mấy hôm nữa cụ sẽ tìm cho xem văn tự gốc từ 1940 của hai ngôi biệt thự nhà cụ trên đó ngày xưa. Là con gái rượu của gia đình, khi ấy cụ bà đã từng cầm vô lăng xe tải của nhà chạy loanh quanh các con đường dốc núi. Chắc hẳn các câu chuyện ký ức Tam Đảo của cụ sẽ rất là lý thú.
Thế nhưng cụ Bảy và bà Tần chỉ còn là trong số rất ít những người đã được sống trong các căn biệt thự cũ, đã được nhìn thấy những cảnh đời và người ở thị trấn Tam Đảo trước khi nó bị triệt phá đến tận gốc. Và đến nay đã có bao người đã lần lượt theo nhau đi lên Thiên Đàng mà chẳng để lại gì cho hậu thế các ký ức và kỷ niệm về Tam Đảo khi xưa cả.
Rõ ràng là với những ai hiện nay và sau này, muốn dựng lại các cuốn phim, các bộ tiểu thuyết có liên quan đến những thế hệ sống ngay vào các thời kỳ rất gần chúng ta như các người đã sống vào thời kỳ hoàng kim của Tam Đảo, sẽ có thể bị bất lực khi muốn kiếm tìm các tư liệu theo đúng nghĩa của nó chứ không phải là các tư liệu được sáng tác ra dưới ngòi bút của những người chưa bao giờ một lần được sống và chứng kiến.
Hoàng Đại Dương (Vietnamnet)




