Tuesday, June 19, 2007

Làm vợ hờ đại gia

Vào đại học, Lan như bước vào một thế giới mới. Sài Gòn náo nhiệt và đông đúc khác hẳn với vùng quê bốn bề sông nước của cô. Vẻ đẹp chân chất của cô gái miền Tây nhanh chóng thu hút sự chú ý của nhiều chàng trai thành phố.
Dường như ý thức được lợi thế của mình, Lan dễ dàng tìm cách thích nghi với môi trường mới. Bạn bè cùng lớp của Lan hầu hết là con nhà khá giả. Thế giới của đám bạn giàu có trở thành mộng ước với cô.
Tìm mọi cách gia nhập vào những cuộc chơi thành phố, Lan như con thiêu thân quên hết những quyết tâm học hành trước đây của mình.
Sự sành điệu, đua đòi ấy trớ trêu thay lại càng khiến Lan lộng lẫy và rực rỡ hơn. Chẳng rõ từ bao giờ, cô sinh viên năm thứ nhất ám ảnh trong mình ý nghĩ: “Chỉ có cách yêu một đại gia… mới có thể thoát nghèo”.
Rồi ý đồ của Lan cuối cùng cũng thành công. Trong một buổi dạ tiệc, cô lọt vào mắt xanh một “kẻ lắm tiền” đáng tuổi bố mình. Không rõ họ đã nói với nhau những gì, nhưng chỉ mấy hôm sau, đã thấy cô bé chễm chệ trên chiếc Mercedes cùng “đại gia” sau giờ tan học.
Chuyện gì đến sẽ đến. Sau những món quà đắt tiền, những bữa ăn ở nhà hàng sang trọng, Lan chính thức trở thành vợ hờ của “đại gia”. Chuyển về sống trong một căn hộ sang trọng hơn, đi xe máy đến trường, mua sắm thoải mái chẳng phải lo lắng gì về tiền bạc, cuộc sống được cưng chiều khiến Lan bỏ ngoài tai tất cả mọi lời nhắc nhở. Cô sẵn sàng đánh đổi đời con gái cho cuộc sống xa hoa ấy.
Mùa hè năm đầu đại học, cô không về thăm nhà. Sự khắc khổ của thôn quê đã làm cô lạnh nhạt với mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Còn lại một mình trong căn nhà đầy đủ tiện nghi, bị cấm đoán chơi bời vì người chồng hờ thường ghen tuông, cô vô cùng đơn độc.
Rồi Lan gặp Hưng trong một lần đi mua sắm. Cũng chớp nhoáng như trước, Lan lao vào cuộc tình lén lút với Hưng. Song, dường như, cô cảm nhận được rằng, đây mới là tình yêu thực sự của mình.
Hưng cũng là chàng trai từng trải. Một tháng hè ròng rã, đêm nào người chồng hờ không đến là cô lại gọi điện cho Hưng. Trong một lần, Lan và Hưng bị người chồng hờ của cô bắt gặp.
Ông ta đuổi Hưng ra khỏi nhà, cắt tất cả các “viện trợ” với Lan. Sợ hãi, Hưng cắt đứt mọi liên lạc với cô, còn người đàn ông thì lạnh lùng hẳn.
Mấy hôm rồi, Lan thấy khó ở. Kết quả kiểm tra cho biết, cô đã có thai. Nhưng trớ trêu thay đứa con này không biết là của ai. “Đại gia” của cô không thừa nhận nó. Hưng cũng bặt vô âm tín.
Mình Lan quằn quại với nỗi đau và sự hối hận. Bước chân vô định, cô tìm đến giảng đường đại học. Nhìn cánh phượng đầu hè xơ xác dưới cơn mưa tầm tã, Lan xót xa cho những lầm lỗi.
(Theo Tiền Phong & NgoisaoNet)

Lời nhắn cho đời

Anh bị ung thư giai đoạn cuối. Bác sĩ nói anh có thể chỉ sống được vài tháng nữa. Anh biết điều ấy và quỹ thời gian còn lại của anh thật ít ỏi. Nhưng hễ vợ con vào thăm anh trong bệnh viện, họ chỉ thấy ở anh sự vui vẻ, lạc quan yêu đời.
Các con anh không hề biết rằng anh mắc trọng bệnh. Vào viện thăm anh, chúng vẫn khoe với anh hôm nay học được cái gì, được điểm mấy... Mỗi tối anh lại ghi mọi chuyện vào nhật ký.
Những ngày cuối cùng khi biết mình không còn sống được bao lâu nữa anh tâm sự với vợ rằng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn phải dạy dỗ con nên người. Anh luôn muốn truyền sự lạc quan cho bọn trẻ, coi đấy như một minh chứng rằng nếu biết sống lạc quan thì sẽ vượt qua được mọi khó khăn.
Ngày anh đi, bọn trẻ mới được biết sự thật. Mẹ của chúng đưa cho chúng cuốn nhật ký anh viết, với biết bao nhiêu điều yêu thương anh dành cho chúng, trong đó anh luôn nhắc nhở, dạy bảo chúng rất nhiều điều trong cuộc sống.
Đã gần mười năm sau ngày anh mất, những đứa trẻ trong nhà anh đều rất ngoan ngoãn, học giỏi. Nhật ký người cha để lại như một cuốn cẩm nang sống cho những đứa con, những lời nhắn của anh cho người thân ở lại như những lời nhắn cho đời, luôn có ý nghĩa.
Như có một đoạn trong đó anh viết: "Chú dế mèn đã có lúc mắc thói tự kiêu, tự đại nên bị bác xén tóc xén mất râu và cuối cùng chú hiểu ra rằng trong cuộc đời này điều cần hơn là sự khiêm tốn. Bố cũng muốn các con học chú dế mèn nhỏ kia".
Nguyễn (Theo DÂNTRÍ Online)

Sunday, June 17, 2007

Chúa Nhật 11 Thường Niên - 11th Sunday in Ordinary Time (Luke 7:36-50)

Bài Đọc I: 2Sam 12:7-10,13 II: Gal 2:16,19-21
Phúc Âm Luca 7:36-50
36 Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn.37 Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.38 Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.39 Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!"40 Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: "Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông!" Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói".41 Đức Giêsu nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người nợ năm chục.42 Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nhiều hơn".43 Ông Simon đáp: "tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn". Đức Giêsu bảo: "Ông xét đúng lắm".44 Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simon: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau.45 Ông đã chẳng hôn chào tôi được một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi.46 Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.47 Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít".48 Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi".49 Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được cả tội?"50 Nhưng Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an".
Chi Tiết Hay
Câu chuyện này song song với câu chuyện bà Maria ở Bêtania sau khi Đức Giêsu cho Lazarô sống lại (Mc 14:3-9; Mt 26:6-13, Gn 12:1-8). Ở đây, Luca kể thêm chi tiết để nhấn mạnh tình thương tha thứ của Thiên Chúa
(c 36) Theo phong tục Hy Lạp, họ ngả mình nơi bàn tiệc, chân hướng ra phía ngoài. Nhờ vậy người phụ nữ có thể "đứng đàng sau, sát chân Người"
(c 37) Để cho thấy một hình ảnh trái ngược với người Pharisêu, Luca giới thiệu một người phụ nữ tội lỗi. Tuy Luca không nêu tên và cũng không cho biết người phụ nữ này phạm tội gì, nhưng chắc là mọi người đều biết. Về sau này người ta thường lầm tưởng người phụ nữ này là Maria Madalêna mặc dù trong đoạn Phúc Âm này không hề có chi tiết nào chứng tỏ điều đó.
(c 43-44) Dụ ngôn cũng được dùng để cho thấy sự khác biệt giữa thái độ của người phụ nữ và của người biệt phái Simon đối với Đức Kitô. Cách bày tỏ lòng yêu mến của người phụ nữ cho thấy mức độ bà ta được tha thứ. (c 44-47) Câu này cho thấy những thiếu xót của người biệt phái trong cách tiếp đón Đức Kitô: nước để rửa tay, cái hôn để chào hỏi, dầu thơm để xức. Hành động của người phụ nữ cho thấy mức độ bà được tha thứ bao nhiêu thì những gì người biệt phái không làm nói lên mức độ không được tha thứ bấy nhiên
(c 50) Đức tin được liên kết với sự cứu rỗi và sự tha thứ.
Một Điểm Chính: Đức Giêsu được diễn tả thường xuyên trong Phúc Âm Luca như bạn hữu của những kẻ tội lỗi. Chấp nhận Ngài là mở lòng chấp nhận chương trình cứu rỗi của Chúa.
Suy Niệm
Bạn diễn tả lòng yêu mến Đức Giêsu như thế nào? và yêu mến anh chị em như thế nào?
----------------------------------------------
11th Sunday in Ordinary Time
Reading I: 2Sm 12:7-10,13 II: Gal 2:16,19-21
Gospel Luke 7:36-50
36 A Pharisee invited him to dine with him, and he entered the Pharisee's house and reclined at table.37 Now there was a sinful woman in the city who learned that he was at table in the house of the Pharisee. Bringing an alabaster flask of ointment, 38 she stood behind him at his feet weeping and began to bathe his feet with her tears. Then she wiped them with her hair, kissed them, and anointed them with the ointment. 39 When the Pharisee who had invited him saw this he said to himself, "If this man were a prophet, he would know who and what sort of woman this is who is touching him, that she is a sinner." 40 Jesus said to him in reply, "Simon, I have something to say to you." "Tell me, teacher," he said. 41 "Two people were in debt to a certain creditor; one owed five hundred days' wages and the other owed fifty. 42 Since they were unable to repay the debt, he forgave it for both. Which of them will love him more?" 43 Simon said in reply, "The one, I suppose, whose larger debt was forgiven." He said to him, "You have judged rightly." 44 Then he turned to the woman and said to Simon, "Do you see this woman? When I entered your house, you did not give me water for my feet, but she has bathed them with her tears and wiped them with her hair. 45 You did not give me a kiss, but she has not ceased kissing my feet since the time I entered. 46 You did not anoint my head with oil, but she anointed my feet with ointment. 47 So I tell you, her many sins have been forgiven; hence, she has shown great love. But the one to whom little is forgiven, loves little." 48 He said to her, "Your sins are forgiven." 49 The others at table said to themselves, "Who is this who even forgives sins?" 50 But he said to the woman, "Your faith has saved you; go in peace."
Interesting Details
The story parallels the anointing of Jesus by Mary Bethany after the raising of Lazarus (Mk 14: 3-9; Mt 26:6-13, Jn 12:1-8). It is likely that Luke reworks that story to emphasize on the forgiving love of God.
(v. 36) recline at table: They were eating in the Greek style which people lounge on their side, with the feet pointing away from the table. Thus the woman can stand "behind him at his feet."
(v. 37) who was a sinner: To contrast with the Pharisee, Luke introduces a woman (without a name), whose exact nature of her sin is not known, but it was sufficiently public. Later tradition often mistakenly identifies this woman with Mary Madgala. There is no such evidence in the text.
(vv. 41-42) two debtors: the parable is straightforward. It serves as a point of reflection on the link between the concept of "forgiveness" as applied to debt and sin.
(vv. 43-44) The parable also serves as an example of the attitude of the woman and of Simon the Pharisee toward Jesus. The "love" shown by this woman demonstrates how she must have been forgiven.
(vv. 44-47) you did not give me: the phrase is repeated for each of the way Simon has failed in hospitality: water for cleansing, a kiss of greeting, oil for anointing. The woman's action shows her state of forgiveness; Simon's refusal indicates a lack of forgiveness.
(vv. 47-48) sins have been forgiven: Luke uses a passive voice here to declare what has been done for her by God.
(v. 50) faith has saved you: Here faith is linked with salvation, and implicitly with forgiveness.
One Main Point: Jesus is portrayed as friends of sinners, a constant theme in Luke. Accepting Jesus means the openness to accept God's plan of forgiveness.
Reflections
How would you express your love for Jesus? For other people?

Saturday, June 16, 2007

Những bài học của yêu thương

Sáng nay, trong những lá thư gửi tới qua đường bưu điện, tôi nhìn thấy một phong thư với địa chỉ nơi gửi là tên trường học của con mình. Thoáng giật mình.
Mới đưa con đi học sáng nay, sao họ không trao trực tiếp mà lại gửi về nhà? Có điều gì tế nhị cần nói qua thư chăng? Vội mở thư ra xem. Một tờ giấy vẽ nguệch ngoạc, liếc qua, tôi nhận ra chữ con mình. Vẫn đang hoang mang không biết chuyện gì, tôi vội đọc, rồi thở phào nhẹ nhõm, bật cười...
Số là, nhiều trường ở Úc từ năm học lớp 3 đã tổ chức những cuộc cắm trại xa nhà cho học sinh. Quan điểm giáo dục ở đây là khuyến khích con trẻ tập tính tự lập ngay từ nhỏ. Con tôi năm nay học lớp 3, được đi cắm trại ba ngày ở một vùng biển xa trường. Quí tử đi được hai ngày, chiều nay sẽ là ngày đến trường đón về. Lá thư sáng nay có lẽ được gửi vào ngày hôm qua.
Trong lá thư gửi cho cả nhà, nhóc kể về hành trình của ngày đầu tiên, được đi dạo bờ biển và xem sóng vỗ. Nhóc kể về món ăn và những trò chơi. Kèm theo là bức tranh nhóc vẽ để miêu tả căn phòng mà nhóc và các bạn nghỉ ngơi trong kỳ trại.
Nhận thư, tôi cảm thấy thú vị, như đang được đồng hành cùng con trong cuộc hành trình. Đón con về, hỏi thăm thì được biết cô giáo đã dạy các em như thế. Tôi không ngạc nhiên lắm vì từ lúc các quí tử đi học, thỉnh thoảng tôi lại được con đem về khi thì bức tranh, khi thì tấm thiệp làm tặng mẹ. Nhớ ngày tôi còn nhỏ, yêu mẹ kính cha thật nhiều nhưng chưa bao giờ biết cách bày tỏ bằng lời nói, bằng thư từ, bằng tặng phẩm, bằng tranh vẽ... như các con tôi bây giờ. Như một thói quen đã định hình, “yêu thương không cần phải nói ra bằng lời” nên cứ cảm thấy ngại ngùng khi phải thổ lộ.
Nhưng không cần phải chờ đến ngày của mẹ hay ngày của cha, mà cứ lâu lâu đám con tôi lại lui cui cắt cắt dán dán một vật gì đó và trịnh trọng đem tới bảo là quà cho mẹ. “Món quà” có thể chỉ là những hộp và mảnh giấy lắp ghép. Đơn sơ nhưng sao đáng yêu quá đỗi!
Thỉnh thoảng, nhóc lại “nịnh” những câu làm tôi mát ruột mát gan: “Dạ thưa má, sao ai cũng nói là con giống má hết. Con “lucky” (may mắn) là con giống má. Vì như vậy người ta cũng nghĩ là con tốt giống má!”. Khi tôi hoàn tất cho mấy cu cậu một công việc khó khăn, mấy nhóc la toáng: “Má là “special mum” (người mẹ đặc biệt). Má hay quá, cái gì má cũng biết làm hết!”.
Ngày tôi chuẩn bị cho nhóc đi trại, nhóc thấy tôi lui cui soạn đồ thì đến thủ thỉ rằng: “Dạ thưa má, con xin lỗi má, con biết là má phải tốn rất nhiều tiền cho con đi. Con cũng tiếc lắm, nhưng mà con thích đi quá. Con cám ơn má lắm vì má cho con đi!”.
Chao ôi, những lời nói của con đã làm tôi ấm lòng và quên đi bao nhiêu mệt nhọc. Cuộc sống đã có quá nhiều lo toan, cho dẫu có phải “nịnh” nhau một chút để... cho vừa lòng nhau thì tại sao không thể? Tôi yêu thương cha mẹ nhưng có bao giờ biết nói một câu: “Cám ơn ba má đã nuôi con khôn lớn!”.
Từ con, tôi học được một điều: yêu thương cũng cần phải được nói ra thành lời!
CHÂN TÂM (Úc Châu - Theo TUỔITRẺ Online)

Wednesday, June 13, 2007

Đừng coi trẻ khuyết tật là “món nợ đời”

Ông T.H là viên chức cao cấp của một công ty lớn, ông đi xe xịn, có nhà ở thành phố, vợ đẹp và hai đứa con xinh xắn. Ai nhìn vào cũng nghĩ gia đình ông thật hạnh phúc. Nhưng ông có một nỗi lo. Ông lo có người biết được ông còn có… cô con gái thứ ba, cô con gái bị bệnh bại não.
Cô bé do bại não nên bị liệt nhẹ một bên người. Cô bị nhốt mãi trên lầu hai, không bao giờ được xuống phòng khách. Ông cũng cấm cả nhà không ai được nói với người khác về cô con gái này. Vậy là, dù cô được cho ăn uống đầy đủ, được chăm sóc chu đáo, nhưng cô cứ như một bóng ma trong nhà. Đối với mọi người, cô không hề tồn tại. Còn đối với gia đình, cô là một món nợ.
“Chắc kiếp trước tôi làm tội tình gì nên kiếp này bị quả báo”, đó là suy nghĩ của rất nhiều bậc làm cha mẹ khi có con bị khuyết tật. Với tư tưởng đó, họ xem đứa trẻ như “món nợ đời”. Và việc đối xử thiếu công bằng với trẻ là hệ quả tất yếu.
Lo cho con quá có tốt không?
Cũng có bậc phụ huynh khi sinh ra đứa con khuyết tật, họ chỉ có thể buông tiếng thở dài: “Phận mình, mình chịu”. Họ nghĩ số phận đã an bài: “Con mình sẽ không làm được gì”. Và họ cố gắng lo cho con được đến đâu hay đến đấy. Họ làm tất cả vì con, chăm sóc con từng li từng tí để bù đắp cho sự khiếm khuyết của nó. Nhưng họ không hề biết rằng: đó là một cách giết chết sự độc lập và phát triển của con họ sau này.
D tâm sự: “Từ nhỏ mình đã rất sướng, ba má lo cho mình tất cả, từ ăn uống tắm giặt cho đến đi lại. Có khi mình muốn giúp má lặt cọng rau, bắc nồi cơm… là má la liền. Má bảo để đó cho má làm”. Dù thật ra, D chỉ bị liệt từ hông trở xuống, đôi tay của cô vẫn có thể làm được nhiều việc.
Điều đó dẫn đến hệ quả: mỗi khi gặp việc khó khăn, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu cô là “tôi không làm được”, và cô nhìn mọi người xung quanh với ánh mắt cầu xin sự giúp đỡ. Cô tự nhận là: “Mình không thể tự làm được việc gì cả!”.
Tương tự như D, chị T.A cũng bị liệt hai chân và cũng được cha mẹ bảo bọc hết mực. Chị cho biết: “Năm nay tôi đã 38 tuổi, nhưng hầu như tôi không đi ra ngoài từ nhiều năm nay. Tôi đã quen cách sống lẩn quẩn trong nhà, bên cha mẹ và được cha mẹ chăm lo”.
Vậy làm sao họ có thể tự lực mưu sinh? Cha mẹ dù thương con nhưng có ở đời bên con được không? Khi cha mẹ qua đời, họ sẽ sống ra sao? Giúp trẻ có thể tự lực khi trưởng thành, đó mới là cách giáo dục tốt nhất.
Một cách đối xử công bằng
Chị Võ Thị Hoàng Yến là một người khuyết tật, nhưng hiện tại chị là Thạc sĩ Phát triển Cộng đồng, Giám đốc Chương trình Khuyết tật và Phát triển, giảng viên trường Đại học Mở TPHCM.
Chị cho rằng: “Có được ngày hôm nay tôi phải cảm ơn mẹ tôi. Bà đã đối xử với tôi rất công bằng. Không hề vì cái tật của tôi mà mẹ tôi không bắt tôi làm việc. Bà vẫn phân cho tôi làm công việc nhà như các anh chị em khác. Chỉ có điều, bà chú ý những công việc gì tôi có thể làm được, không bị hạn chế bởi cái tật của mình thì phân cho tôi. Nhờ đó, tôi có được ý chí tự lập từ nhỏ. Tôi nghĩ, không có gì mình không thể làm được. Người ta lành lặn thì người ta làm bằng cách này, mình không lành lặn thì mình làm bằng cách khác”.
Còn Huỳnh Thị Nương thì cho biết: “Mẹ em rất thương em, mẹ có thể cõng em 30 cây số đến bệnh viện khám hàng tuần, mỗi đêm mẹ có thể thức trắng để xoa bóp đôi chân co rút của em. Nhưng mẹ không hề chiều em bất cứ điều gì. Cuộc sống và công việc của em thì em phải tự lo lấy, mẹ chỉ đứng từ xa theo dõi và hỗ trợ khi em thực sự cần người giúp đỡ, khi em đã cố gắng hết sức”. Nương cũng bị liệt hai chân từ nhỏ. Nhưng hiện tại, Nương là 1 trong 3 sinh viên được làm luận văn tốt nghiệp của lớp Dân số - Xã hội, khoa Địa lý, trường ĐH KHXH&NV TPHCM.
Những điển hình trên chứng tỏ rằng: trẻ khuyết tật không hoàn toàn vô dụng; với cách xử sự đúng đắn, cách chăm sóc và dạy dỗ hợp lý, trẻ khuyết tật hoàn toàn có thể sống tốt và dễ dàng hòa nhập với cộng đồng.
Tùng Nguyên (Theo DÂNTRÍ Online)

Sunday, June 10, 2007

Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa - Corpus Christi Sunday (Luke 9:11-17)

Bài Đọc I: Genesis 14:18-20 II: 1Cor+11:23-26
Phúc Âm Luca 9:11-17
11 Đám đông dân chúng biết thế, liền đi theo Người. Người tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa.12 Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giêsu thưa Người rằng: "Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đấy, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng".13 Đức Giêsu bảo: "Chính anh em hãy cho họ ăn". Các ông đáp: "Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này".14 Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Đức Giêsu nói với các môn đệ: "Anh em hãy cho họ ngả lưng thành từng nhóm khoảng năm mươi người một".15 Các môn đệ làm y như vậy, và cho mọi người ngả lưng xuống.16 Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc túng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.17 Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng.
Chi Tiết Hay
Phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều là phép lạ duy nhất được thuật lại trong cả bốn Phúc Âm (Gn 6:1-15; Mt 14:13-21; Mc 6:32-44; Lc 9:11-17). Phép lạ này sẽ dẫn đến phép Thánh Thể sau này. Câu chuyện bắt đầu khi các tông đồ vừa đi rao giảng về, Chúa Giêsu muốn dành chút giờ riêng với họ. Nhưng đám đông đã làm gián đoạn những giây phút này. Chúa Giêsu đã phản ứng như thế nào?
(c.11) Chúa đã đón tiếp họ, giảng dạy cho họ về Nước Trời, và chữa lành kẻ đau ốm. Tình yêu của Chúa Giêsu được thể hiện thật rõ ràng.
(c.13) "Anh em hãy cho họ ăn". Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ chung phần chăm sóc và nuôi ăn dân chúng. Ở đây, các môn đệ phân phát bánh và cá. Ở những lúc khác, dân chúng có thể cần những thức ăn nuôi tâm hồn như tình huynh đệ, tình thương, sự kính trọng, sự tha thứ, v.v... Tuy thế, các môn đệ không có khả năng lo cho dân chúng. Họ phải cần đến Chúa Giêsu.
(c.16) Những cử chỉ Chúa Giêsu làm trong phép lạ này--cầm bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao đi-- cũng là những cử chỉ Chúa Giêsu sẽ làm trong bữa Tiệc Ly, và trong bí tích Thánh Thể. Vào thời kỳ Giáo Hội sơ khai, bí tích Thánh Thể được cử hành gồm các kinh nguyện của lễ Vượt Qua kết hợp với một bữa ăn cộng đoàn. Tuy nhiên, như thư thánh Phaolô gửi dân thành Corinthô (1Cor 11:17-34) đã đề cập tới, có khi lại có chia rẽ thay vì hiệp nhất trong bữa ăn, vì người giàu không chia sẻ phần ăn của mình với những khách nghèo trong bàn.
Lễ hôm nay trùng với lễ kỵ niệm Bữa Tiệc Ly của Chúa mừng vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, nhưng không có các phần tưởng niệm về sự khổ nạn. Lễ này được mừng lần đầu tiên năm 1247 tại Liege, Bỉ. Năm 1264 Đức Giáo Hoàng Urban IV đã áp dụng cho toàn thể Giáo Hội. Nhưng phải đợi đến năm 1317 mới trở thành chính thức. Các kinh nguyện phụng vụ và Thánh Lễ được kể lại là do Thánh Tôma Aquina viết soạn, tuy không được chính thức công nhận. Nghi thức rước kiệu xuất hiện lần đầu tại Cologne năm 1279, nhưng phải cả trăm năm sau mới trở nên phổ thông tại toàn thể Âu Châu.
Một Điểm Chính: Trở nên một trong Chúa Kitô. Dự phần vào bí tích Thánh Thể là trở nên một với Chúa Kitô, và cũng là trở nên một với những người đồng bàn với ta, có thể là các tín hữu trong một nhà thờ, anh em trong nhà, hay là các bạn đồng hành trong Chúa.
Suy Niệm
1. Tôi có đang khao khát điều gì chăng? Điều gì sẽ có thể làm cho tôi hết khát?
2. Điều gì ngăn cách tôi với Chúa Giêsu? Điều gì ngăn cách tôi với anh chị em?
--------------------------------------------------
Corpus Christi Sunday
Reading I: Genesis 14:18-20 II: 1Cor 11:23-26
Gospel Luke 9:11-17
11 When the crowds learned it, they followed him; and he welcomed them and spoke to them of the kingdom of God, and cured those who had need of healing.12 Now the day began to wear away; and the twelve came and said to him, "Send the crowd away, to go into the villages and country round about, to lodge and get provisions; for we are here in a lonely place."13 But he said to them, "You give them something to eat." They said, "We have no more than five loaves and two fish--unless we are to go and buy food for all these people."14 For there were about five thousand men. And he said to his disciples, "Make them sit down in companies, about fifty each."15 And they did so, and made them all sit down.16 And taking the five loaves and the two fish he looked up to heaven, and blessed and broke them, and gave them to the disciples to set before the crowd.17 And all ate and were satisfied. And they took up what was left over, twelve baskets of broken pieces.
Interesting Details
The feeding of five thousand is the only miracle recorded by all four gospels (Jn 6:1-15; Mt 14:13-21; Mk 6:32-44; Lk 9:11-17). This signifies the importance of this miracle, which foreshadows the Eucharist. The story begins with the return of the Twelve after their mission (9:10-11). Jesus wants to spend some private time with his disciples. But this is interrupted by the crowd. How does Jesus respond to this interruption?
(v.11) He welcomes them, speaks to them about God's kingdom, and heals them. This is a concrete sign of his love.
(v.13) "Why do you not give them something to eat yourselves? "The disciples are asked to participate in the caring and "feeding" of his people. It is fish and bread here. It may also be companionship, love, respect, forgiveness, etc. Yet the disciples cannot take care of the crowd alone. Jesus' presence is vital.
(v.16) The wording here--took, blessed, broke, gave--draws our attention to the Last Supper and the Eucharist. The early Church celebrated the Eucharist by fusing the Passover liturgical prayers with a communal meal, the "agape" or love feast. However, in Corinth, it had gotten out of hand and the rich brought their own food and did not share it with those who had less. The meal, which should result in a closeness of Christians, became a means of division (1Cor 11:17-34).
This feast is a duplication of the feast of the Eucharist celebrated on Holy Thursday, but without the sorrowful associations. In 1247 it was celebrated for the first time in Liege, Belgium, but was only extended to the whole Church in 1264 by Pope Urban IV. It took until 1317 to become genuinely popular. The Office and Mass for the feast are believed to have been composed by St. Thomas Aquinas, but his authorship has never been fully proved. The Corpus Christi procession seems to have appeared in Cologne in 1279, but only became popular in the whole of Europe a hundred years later.
One Main Point: Becoming one in Christ. Our participation in the Eucharistic Banquet signifies not only our oneness with Jesus Christ, but also our oneness with the guests at that banquet, our fellow parishioners, brothers and sisters, spiritual families.
Reflections
1. Do I thirst for anything? What is it? What will satisfy my thirst?
2. What divides me from Christ, from others?

Friday, June 08, 2007

VUI TRONG TRÁI TIM CHÚA GIÊSU

Tháng 6 hằng năm được phụng vụ dành riêng cho việc kính thờ trái tim Chúa Giêsu.
Tháng này, một bầu khí thiêng liêng khác thường bao phủ các cộng đoàn công giáo.
Trong Hội Thánh Việt Nam, bầu khí đạo đức này được diễn tả như một cuộc trao đổi giữa trái tim tín hữu với trái tim Chúa, và giữa các trái tim tín hữu với cuộc đời.
Những trao đổi thân thương ấy có sức cải hoá nhiều tâm hồn.
Tôi đã được tham dự bầu khí đạo đức đó. Rất nhiều cảm nghiệm. Ở đây tôi chỉ xin chia sẻ đôi chút trong lãnh vực niềm vui thiêng liêng.
1/ Vui vì mình được Chúa nhận làm con
Xưa Chúa Giêsu đã mời gọi: "Ai khát, hãy đến với Ta. Ai tin vào Ta, hãy đến mà uống. Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống" (Ga 7,37-38).
Lời mời gọi tha thiết ấy gây âm vang trong linh hồn tôi. Tôi đang khát hạnh phúc. Tin vào lời Chúa, tôi đến với trái tim Người. Tại đây, tôi nhận được dòng chảy yêu thương lạ lùng. Càng đón nhận, với lòng khiêm tốn, tôi càng cảm thấy mình thuộc về Chúa. Đến một lúc không ngờ, tôi cảm nhận được rõ ràng chắc chắn mình được Chúa nhận làm con.
Tất cả đều xảy ra đúng như lời thánh Phaolô dạy: "Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ hãi như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: 'Apba! Cha ơi'" (Rm 8,14-15).
Biết mình được là con Chúa, đó đã là một hạnh phúc lớn. Nhưng cảm nghiệm được thế nào là người con Chúa mới lại là một hạnh phúc khó tả. Trong cảm nghiệm đó có sự nhận biết Chúa là Cha vô cùng thương xót. Đây là một ơn Chúa ban cho nhưng không.
Ơn xót thương của tình Cha luôn chảy vào hồn tôi, để hồn tôi được hiệp thông với sự sống Chúa. Nhờ đó, tôi đón nhận được phần nào ơn biết mình bé nhỏ, khó nghèo, yếu đuối.
Bên cạnh niềm vui được làm con Chúa, tôi còn tìm được một niềm vui khác, khi ở lại trong trái tim Chúa. Niềm vui đó là được góp phần vào lễ tế của Chúa Giêsu.
2/ Vui vì được góp phần vào lễ tế của Chúa Giêsu
Nhiều khi, chúng ta thường nghĩ rằng: Lễ vật làm vui lòng Chúa là những đắc thắng hoặc hy sinh theo ý của ta, hoặc theo dư luận quần chúng. Nhưng không phải thế. Đoạn văn sau đây của tác giả thư gởi Do Thái nói rõ thế này:
"Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: 'Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thiết lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài như Kinh Thánh đã chép về con'" (Dt 10,5-6).
Như vậy, lễ tế mà Chúa muốn chính là con người của ta khi thực thi thánh ý Chúa.
Con người của tôi, khi thực thi thánh ý Chúa, sẽ ẩn mình vào trái tim Chúa Giêsu. Một đàng phấn đấu thắng vượt những ý hướng chiều theo xác thịt, thế gian, ma quỷ, một đàng sống theo những chọn lựa hợp thánh ý Chúa.
Kinh nghiệm cho thấy: Thắng vượt được những ý hướng xấu là việc không dễ. Ngay việc nhận ra ý hướng nào là xấu về mặt đạo đức cũng đã khó thực hiện. Huống hồ là phấn đấu thắng vượt chúng, khi đã nhận ra chúng rồi.
Hơn nữa, trong đàng thiêng liêng, thắng tội chưa phải là đủ, mà còn phải công chính hoá con người của mình bằng sự dấn thân vào con đường Chúa muốn ta đi. Nhận ra con đường thánh ý Chúa và dấn thân bước mãi không ngừng trên con đường ấy. Đó chính là một lễ tế đẹp lòng Chúa. Lễ đó xảy ra ở thân xác ta và tâm hồn ta. Phải yêu thực nhiều và phải hy sinh rất nhiều. Có đau khổ tâm hồn và có đau đớn phần xác. Mọi sự đều nội-tâm-hoá.
Phải nói là lễ tế như vậy không dễ dàng gì đâu. Nhưng khi ta ở lại trong trái tim Chúa, khiêm tốn để trái tim Người đào tạo, thì bản thân ta và đời ta sẽ trở thành lễ tế. Lễ tế của ta trong trái tim Chúa sẽ là một niềm vui cho ta. Một niềm vui âm thầm, vì ta được tham dự vào lễ tế của Chúa Giêsu.
Khi nói đến niềm vui âm thầm, tôi lại nhớ tới một niềm vui khác, mà tôi được cảm nghiệm, khi ở lại trong trái tim Chúa. Đó là niềm vui được biết yêu thương.
3/ Vui vì mình được Chúa dạy cho biết yêu thương
Thánh Phaolô viết: "Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.
"Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và biết được nhiều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng là gì.
"Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức ái, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
"Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù..."
(1 Cr 13,1-5).
Tất cả những gì thánh Phaolô nói trên đây đều được dạy ở trường trái tim Chúa.
Kinh nghiệm tu đức, mục vụ và truyền giáo cho thấy: Tình yêu nhân bản là một giá trị cao quý, nhưng tình yêu phát xuất từ trái tim Chúa mới là tình yêu cứu độ và thánh hoá.
Nhờ ơn Chúa, trái tim ta được cải đổi, để biết sống bé nhỏ trong lửa tình yêu trái tim Chúa. Lúc đó ta sẽ cảm nghiệm được rằng: Yêu người như Chúa yêu ta là việc phải tập luyện lâu dài, suốt đời.
Không phải cứ học biết lý thuyết và sinh hoạt phong trào là đủ. Nhưng phải gặp gỡ sống động với trái tim Chúa. Gặp gỡ trong bầu khí thinh lặng, hồi tâm, cầu nguyện, với niềm tin: Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa, Người yêu ta trong Thánh Thần, Người đến để dẫn ta về với Chúa Cha.
Với mấy chia sẻ trên đây, tôi tha thiết cầu mong tháng kính Trái Tim Chúa Giêsu năm nay sẽ đem lại cho mỗi người chúng ta nhiều niềm vui thiêng liêng hữu ích cho mình và cho Hội Thánh Việt Nam.
Những niềm vui thiêng liêng ấy sẽ giúp cho chúng ta nhận ra những dấu chỉ của Nước Tình yêu Chúa đang phát triển, đồng thời cũng giúp cho chúng ta phân định được những mưu mô Satan đang toan tính phá hoại Nước Chúa tình yêu.
GM. BÙI TUẦN (Theo SỐNG ĐỨC TIN)