Friday, May 11, 2007

Lần “Chuỗi Thương Xót”...

Thị Nghè, 08.05.2007
Các bạn thân mến,
Trước hết, Yến xin gửi đến các bạn lời chúc sức khỏe và bình an trong Đức Giêsu Kitô. Nguyện xin cho Thánh Thần luôn là ánh sáng và là nguồn cảm hứng cho các bạn trong từng giây phút cuộc sống. Yến tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Yến món quà rất quý giá là chính các bạn. Tạ ơn Thiên Chúa vì sự hiện diện của từng bạn. Yến vẫn luôn nhớ đến các bạn trong lời cầu nguyện.
Yến được biết rằng các bạn đã nghe cha Đaminh Nguyễn Đức Thông chia sẻ về chị Têrêsa Phạm Thị Phượng (giáo phận Xuân Lộc). Nhưng Yến cũng xin chia sẻ một chút để có thể có bạn nào đó chưa được biết, hoặc chưa rõ lắm. Cách đây 4 năm, chị Phượng bị một nhóm người Công Giáo thuê một thầy bùa để “thư” (bỏ ngải) chị, vì chị đã phát hiện ra những việc làm sai trái của họ (có thể nói là tội lỗi). Từ đó cho đến giờ, suốt 4 năm nay, chị vẫn phải chịu những cơn đau đớn, hành hạ thân xác đến rợn người. Đinh, lưỡi lam, kéo, móc câu, cóc nhái, gà, vịt cứ từ trong người chị chui ra. Có khi chị đang tham dự Thánh lễ, máu trong người chị chảy ra ồ ạt khiến chị phải bỏ Thánh lễ mà về. Chị không thể ăn uống gì được vì cứ cho bất cứ thứ gì vào đều bị nôn ra, ngoại trừ uống nước phép. Chỉ cần chị đến xin lỗi nhóm người kia, đồng ý theo họ, hoặc đi tìm một thầy bùa “cao tay hơn” thì chị sẽ hết. Tạ ơn Thiên Chúa chị đã không làm như vậy. Mặc dù đau đớn về thể xác, chị vẫn luôn tin tưởng vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa trên chị.
Khi Yến đang viết lá thư này, thì cha Thông đem đến chiếu lên màn hình cho cộng đoàn Yến xem những hình ảnh và đoạn phim cha đã quay tại chỗ, ngay lúc đinh, lưỡi lam đang rớt ra từ trong người chị. Nhìn chị đau đớn, vật vã mà Yến đau xót quá, khủng khiếp quá! Yến cảm thấy thật bức xúc, thật cấp bách. Các bạn có thể nói gì, làm gì qua biến cố này? Hình ảnh tháp Babel ngày xưa (tháp của sự kiêu ngạo) đang được tái hiện lại. Tội tổ tông xưa được lập lại. Con người chối bỏ Thiên Chúa, khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Vì muốn có quyền năng ngang bằng Thiên Chúa, muốn điều khiển cả vũ trụ này theo ý mình, nên con người đã bắt tay và làm nô lệ cho Satan, cho sự dữ. Chuyện này kéo dài suốt 4 năm nay, ắt hẳn không phải là Thiên Chúa bất lực nhưng là Người đang muốn gì qua biến cố này? Phải chăng Người muốn thức tỉnh những con người đang sống trong tội lỗi? Phải chăng con người đang dần xa lìa Thiên Chúa mà tiến về phía sự dữ?
Phải sám hối, ăn chay và cầu nguyện, các bạn ạ, vì “giống quỷ ấy chỉ trừ được bằng việc ăn chay và lời cầu nguyện thôi” (Mc 9, 29). Lời Chúa đang thúc bách, mời gọi mỗi người chúng ta:
“Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng” (1 Pr 2, 4-5a).
Xác tín vào sức mạnh của sự cầu nguyện hiệp thông, Yến mời gọi các bạn và xin được gợi ý những việc ăn chay, cầu nguyện sau, để cầu nguyện cho chị Maria Phượng và gia đình chị, cho các cha đang trực tiếp giúp chị Phượng, cho giới tu sĩ nam nữ, cho mỗi người chúng ta, cho những người đang hại chị biết hoán cải quay trở về với Chúa :
- Cầu nguyện theo chương trình 18 tuần
- Làm việc hy sinh, hãm mình (bao nhiêu có thể)
- Dâng những lời nguyện tắt
- Lần “Chuỗi Thương Xót” vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày
- Trong nhóm, các bạn liên kết với nhau lần “Chuỗi Mân Côi sống”
- Ăn chay Thứ Sáu hàng tuần (cách thức tùy mỗi người)
- Chầu Thánh Thể bất cứ lúc nào có thể được
Các bạn có thể chọn những gợi ý trên để thực hiện (càng nhiều càng tốt). Nếu các bạn có thể thực hiện hết tất cả những điều đó thì thật tốt và ý nghĩa biết chừng nào! Các bạn cần kiên trì, trung thành và xin ơn Chúa thật nhiều. Vì các bạn ơi, chị Phượng đang gánh chịu những đau đớn thay cho mỗi người chúng ta đấy. Chị rất cần lời cầu nguyện và những việc làm có ý nghĩa của các bạn, của tất cả mọi người. Chị nói: “Con chịu đau đớn gấp đôi thế này cũng được, chỉ xin cho họ biết thức tỉnh, hoán cải mà quay trở về với Chúa”.
Thứ Bảy, ngày 12.05.2007, chúng ta bắt đầu nhé! Xin Thiên Chúa chúc lành cho những cố gắng thiện chí và từng việc các bạn làm. Xin Thánh Thần liên kết chúng ta trong tình yêu của Người. Xin Mẹ Maria, thánh Cả Giuse và các thánh nam nữ trên trời đồng hành với chúng ta.
Thân mến,
MARIA PHAN YẾN, Rndm
--------------------------------------------
P/S:
Mình là JB Ngô Hoàng… nhận được thông tin trên cũng là một điều bất ngờ… hơi sock… Nhìn lại bản thân thấy mình cũng có phần khô khan lâu nay… cho nên nhân dịp Tháng Hoa Đức Mẹ, Hoàng cũng hiệp ý và mời gọi các bạn cùng nhau cầ nguyện cho những ý nguyện của tác giả bức thư, cũng như qua đây là cơ hội để chúng ta hâm nóng tâm hồn băng giá về đạo của chúng ta lâu nay…
Vậy mạo muội để nghị xin các bạn chúng ta có thể hiệp ý như sau, cho phù hơp với “hoàn cảnh của những người trẻ khô khan”:
- Mỗi sáng thức dậy, hãy tập lại thói quen nhớ đến Chúa như thờ thơ ấu, đơn giản nhất có thể là 3 Kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh…
- Cố gắng thu xếp tham dự Thánh Lễ hàng ngày trong tuần, càng nhiều càng tốt, thay vì lâu nay chỉ là Chúa Nhật…
- Buổi tối trước khi ngủ chúng ta cũng cố gắng dâng lên Đức Mẹ ít nhất là 10 Kinh Kính Mừng…
Ước mong sao các bạn trẻ biết tận dụng cơ hội này để chúng ta biết yêu mến Thiên Chúa và Mẹ Maria hơn, cũng như bác ái hơn trong cuộc sống. Amen.
Thân ái trong Giêsu.
JB Hoàng Ngô
Mọi liên lạc chia sẻ vui lòng gửi qua email: minhoago@yahoo.com

LIFE IS SHORT. PRAY HARD!


The LORD is my shepherd...


The LORD is my shepherd, I shall not be in want.
He makes me lie down in green pastures,
he leads me beside quiet waters, he restores my soul.
He guides me in paths of righteousness for his name's sake.
Even though I walk through the valley of the shadow of death,
I will fear no evil, for you are with me;
your rod and your staff, they comfort me.
You prepare a table before me in the presence of my enemies.
You anoint my head with oil; my cup overflows.
Surely goodness and love will follow me all the days of my life,
and I will dwell in the house of the LORD forever.

Sunday, May 06, 2007

Chúa Nhật 5 Phục Sinh - 5th Sunday of Easter (John 13:31-35)

Bài Đọc I: Acts 14:21-27 II: Rev 21:1-5
Phúc Âm Gioan 13:31-35
(31) Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người, (32) Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. (33) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Dothái: 'Nơi tôi đi, các người không thể đến được', bấy giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. (34) Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (35) Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau".
Chi Tiết Hay
+ Đoạn văn hôm nay là một phần của lời giã biệt Đức Giêsu nói với các môn đệ trong bữa tiệc ly. Giuđa đã ra đi vào màn đêm đen tối (13:30), còn Đức Giêsu thì bắt đầu cuộc hành trình vinh quang về với Cha của Người.
+ (c.31) "Giờ đây" - Đức Giêsu thấy đây là giờ Người được tôn vinh, bắt đầu ngay từ lúc Giuđa ra đi để phản bội Người.
+ (c.33) "những người con bé nhỏ" - Đây là lời của Cha nói với các con. Và đúng như vậy, khi Đức Giêsu nói thì chính là Chúa Cha nói qua miệng của Người, vì Người và Cha là một (10:30).
+ (c.34) "điều răn mới" - Yêu thương cũng là một giới luật trong sách Cựu Ước, tuy nhiên chỉ bắt buộc yêu thương những người cùng tín ngưỡng với mình mà thôi. Yêu thương theo điều răn mới của Đức Giêsu thì không trừ một ai. Tình yêu tha nhân phải tức thời, không tính toán, không kỳ thị những người tội lỗi và bất xứng.
Một Điểm Chính: Chúng ta phải yêu thương vì Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.
Suy Niệm
1. Các môn đệ của Đức Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của họ cho những người ngoại giáo bằng cách chấp nhận các cực hình và ngay cả hiến mạng sống của mình để rao giảng Tin Mừng. Còn tôi, tình yêu của tôi đã được thử thách chưa?
2. Đức Giêsu muốn tôi phải yêu thương ai? và yêu thương như thế nào?
3. Cộng đoàn (hay Nhóm) của bạn có rõ ràng là một cộng đoàn tình thương trong Đức Giêsu chăng?
------------------------------------------------------------
5th Sunday of Easter
Reading I: Acts 14:21-27 II: Rev 21:1-5
Gospel John 13:31-35
(31) When Judas had gone out, Jesus said, "Now is the Son of man glorified, and in him God is glorified; (32) if God is glorified in him, God will also glorify him in himself, and glorify him at once. (33) Little children, yet a little while I am with you. You will seek me; and as I said to the Jews so now I say to you, 'Where I am going you cannot come.' (34) A new commandment I give to you, that you love one another; even as I have loved you, that you also love one another. (35) By this all men will know that you are my disciples, if you have love for one another."
Interesting Details
+ These verses are part of Jesus' last discourse to His disciples at the Last Supper. Judas has departed into the darkness (13:30) and Jesus begins His journey into the light of the Father's glory.
+ (v.31) "now" - Jesus sees His "glorification" as already present. It has actually begun with the betrayal of Judas. + (v.33) "children" - It is a phrase that the Father could use. On the lips of Jesus, it is precisely that, a phrase the Father speaks through the Son, for the Father and the Son are one (10:30).
+ (v.34) "a new commandment" - Love was also commanded in the Old Testament, but it was restricted to other members of the inner circle, the fellow-Jews. The new love commanded by Jesus has to extend to all mankind. It must be spontaneous, unmotivated, directed to sinners and others unworthy of love as well.
One Main Point: We are to love because Christ has loved us and as Christ loved us.
Reflections
1. Jesus' disciples have proven their love for their non-Christian fellows by enduring the hardships and even death while bringing the Gospel to Jews and Gentiles. Has my love for others been tested?
2. Who does Jesus command me to love, and how?
3. Is your community of faith (or group) clearly a community of love in Christ?

Tuesday, May 01, 2007

NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (1)

“Tôi không biết”(Lc 1, 34)
Giá trị của sự bất tri
Bản tính của con người luôn ham biết, ham tìm tòi. Tâm trí con người có khuynh hướng vươn lên không ngừng về mọi lãnh vực. Nhưng trong Đạo đức kinh, ở chương 20 Lão tử lại chủ trương “Tuyệt học vô ưu”: ‘dứt hẳn cái học thì khỏi phải lo lắng’. Hơn nữa, ở chương 38 lại có câu:“Tiền thức giả, Đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy”: ‘tri thức chỉ là đồ trang điểm của Đạo, là khởi thủy của sai lầm’. Ông còn nói tiếp: “Tri giả bất bác, bác giả bất tri”: ‘người biết không phải là thông, người thông thường lại không biết’. Cho nên cái biết của thánh nhân nhiều khi khác cái biết của thường nhân: “Biết được cái không biết là cao. Không biết cái biết là bệnh. Biết đó là bệnh thì không bệnh nữa”. Cái biết không ưa tranh luận ồn ào, vì người biết không nói, mà người nói thì không biết: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.
Nói thế, Lão tử cố ý đưa ta vào con đường nội tâm sâu thẳm. Những cái học biết bên ngoài thêm vào cho trí óc không thể là bản thể của tri thức được. Còn cái hiểu biết đích thực là cái nảy nở do chính tâm hồn. Vì thế, cần giữ tâm hồn vô tư, vô sự để có thể thấu đạt được mọi lý lẽ, căn cơ của cuộc đời. Bởi thế, có những người biết rất nhiều, hiểu rất rộng, uyên bác mọi sách vở nhưng tâm hồn vẫn trống rỗng, trí óc vẫn mông lung, cuộc sống vẫn gian tà. Điều cần là giữ tâm hồn thanh tịnh, không nên biết những gì không cần biết, để cho những cảm nghĩ của tâm hồn được tự do triển nở như những cánh hoa rạng rỡ dưới ánh bình minh.
Hướng nhìn về Đức Maria
Dựa trên nền tâm học của Lão tử, ta mới khám phá ra tâm hồn kỳ diệu của Đức Maria. Khi nghe con mình từ trên thập giá thốt lên hai tiếng “không biết” ["Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." ](Lc 23, 34), thì không biết Đức Mẹ có nhớ mình cũng đã thốt ra hai tiếng “không biết” trong lời nói đầu tiên khi Thiên thần truyền tin không ? ["Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến đàn ông" ](Lc 1, 31-34). Lạ thay, hai tiếng “không biết” gặp nhau giữa Mẹ và Con trong giây phút linh thiêng nhất. Dưới chân thánh giá Đức Giêsu, Đức mẹ đứng vào hàng ngũ những tội nhân mặc dù Mẹ vô tội, như đang cầu bầu cho kẻ có tội. Vì Đức Mẹ vô tội nên “không biết”, vì họ “không biết” nên vô tội. Cho dù sự tương-biệt này rất khác nhau, một cái ở đầu nguồn ân sủng, một cái ở cuối đoạn thứ tha, nhưng lại gặp nhau ở một chữ “vô” hay một chữ “không”. Những lời này của Đức Giêsu và Đức Mẹ có vẻ gợi ý rằng: bất tri đôi khi lại là khôn ngoan.
Ở đây bất tri không phải là không biết, mà là biết điều mình không biết được coi như là một ân phúc. Điều này có vẻ va chạm tự ái con người thời nay, nhất là những người suy tôn trí thức, nhưng lại không nhận định rằng khôn ngoan có thứ thật, thứ giả. Khôn ngoan không phải là biết hết mọi thứ, nhưng có những thứ không cần biết và không nên biết. Có những cái biết khiến người ta mất không ngoan. Có những cái khôn mà khôn = dại; có những cái dại mà dại = khôn. Thánh Phaolô gọi sự không ngoan thế tục là sự ngu dại. Đức Giêsu cũng tạ ơn Cha vì đã không mạc khải sự khôn ngoan trên trời cho những bậc hiền triết thế gian (x. Lc 10, 21).
Bất tri ở đây không phải là bất tri chân lý, mà là bất tri tội phạm. Đó là sự bất tri của những kẻ hành hình Đức Giêsu. Họ có thể được tha thứ, vì họ không hiểu rõ tội ác ghê ghớm của họ. Chính sự bất tri đã cứu vãn được họ. Cũng như Thánh Phêrô đã nói trong ngày Hiện xuống: “Tôi đã biết rõ các người đã hành động ngu xuẩn như bọn tài phán của các người” (CV3, 17). Cũng vậy, chúng ta được ơn tha thứ là vì không thấy rõ hết hậu quả của nó. Còn các thiên thần đã bị kết án thì thấu suốt nguyên ủy sự việc, không còn cách nào sửa lại được. Họ bị tuyên phạt đời đời là vì vậy. Như thế, chúng ta mới biết trách nhiệm về tri thức đáng sợ chừng nào. Người biết chân lý, bao giờ cũng bị xử đoán nghiêm ngặt hơn người không biết : “Giả như Thầy không đến và không nói với họ, họ đã chẳng có tội” (Ga 15, 22).
Chữ “không biết” của Đức Maria có giá trị vượt bực vì Mẹ đã khấn hiến trinh tiết của mình cho Chúa. Trong khi người phụ nữ nào cũng mơ ước đặc ân là Mẹ Chúa Cứu Thế thì Đức Mẹ lại từ bỏ kỳ vọng đó. Thế nhưng đặc ân lại được ban cho Đức Mẹ. Nếu phải từ bỏ lời khấn hứa để làm thân mẫu của Thiên Chúa, chắc chắn Đức Mẹ không thể chấp nhận sự từ bỏ đó. Đã khấn hứa rồi, Đức Mẹ coi việc biết đến đàn ông là điều tội lỗi, mặc dù trong những trường hợp khác chẳng tội lệ gì.
“Không biết đàn ông” là một hình thức bất tri, nhưng ở đây bất tri trở thành một ân phúc vĩ đại, đến độ trong khoảnh khắc Chúa Thánh Thần ban xuống cho Đức Mẹ tràn đầy ơn thánh hiến, trở thành “hòm bia Thiên Chúa ngự”, bình đựng Thánh Thể.
Hiểu biết và khôn ngoan của thế gian
Những người được coi là hạng Minh triết vẫn thường cho rằng, chưa biết đời thì kể như chưa biết sống, và phải nhờ kinh nghiệm sống mới có tri thức: kinh nghiệm cái tốt và cả cái xấu. Chính với luận điệu dối trá đó mà Satan đã cám dỗ Ađam-Eva. Từ ngày xảy ra sự lường gạt lớn lao ở vườn địa đàng, chưa hề có ai đã thành công trong việc nhờ thử nghiệm điều xấu mà có được tri thức tốt bao giờ. Biết bao người dở sống dở chết chỉ vì đôi phút tò mò muốn biết, muốn nếm thử, muốn có kinh nghiệm. Làm sao có thể học được sự sạch sẽ khi sống trong cống rãnh, và học biết văn hóa trong lối sống thô bỉ.
“Lỗi lầm lớn nhất của nền giáo dục hiện đại là tin tưởng rằng sự ngu dốt là căn cớ phát sinh sự xấu xa trên thế giới, cho nên cứ phải dồn thật nhiều sự hiểu biết vào đầu óc thanh thiếu niên. Nếu đúng như vậy thì phải công nhận rằng dân tộc nào càng học biết nhiều, càng đạo đức hơn. Thực tế khác hẳn, chưa bao giờ nền giáo dục được đẩy mạnh như ngày nay, nhưng chưa bao giờ người ta ít biết đến chân lý như ngày nay” (Fulton J. Sheen).
Ai cũng muốn cho mình là người hiểu biết, và luôn muốn tỏ ra sự hiểu biết của mình. Sự hiểu biết thì vô cùng vô tận, cho dù chúng ta có những hiểu biết chuyên biệt về một điều gì thôi, thì cũng giống như kênh rạch so với biển cả mênh mông trong chính điều đó. Bởi vậy nhà Hiền triết Socrates đã nói : “Đối với tôi, những điều tôi biết là những điều tôi không biết gì cả”. Chiều sâu của cuộc sống không phải là hơn thua nhau về số lượng hay chất lượng của những gì mình biết. Nhiều cái biết bên ngoài chỉ làm cho cuộc sống thêm tản mạn, và năng lực bị tản mát. Có những cái biết cần phải xóa mờ đi để những điều không biết được sáng tỏ. Hơn thế nữa, trong đời sống đức tin, người ta cũng chỉ chọn biết một điều ưu tiên giữa muôn điều không biết. Thánh Phaolô đã xác quyết “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”(1Cr 2,2).
Phải chứng thực rằng, sự ngu dốt có giá trị hơn sự sai lầm, vì lẫn lộn tri thức với trí tri (Scientia et sapeientia). Tri thức không làm cho người ta khôn ngoan nhưng chính sự khôn ngoan mới cho người ta biết tri thức. Hậu quả của nền giáo dục chỉ biết nhồi nhét sự hiểu biết làm cho giới trẻ càng nghi ngờ về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Nền giáo dục chân chính thì trái lại, giúp họ nhận ra sự hiện diện quyền năng và tình yêu của Người.
Cũng vậy, giáo dục sinh lý làm cho người ta lầm tưởng rằng, nếu con trẻ biết được hậu quả tác hại thì chúng sẽ tránh xa những hành động đó. Nhưng thực ra, sự hiểu biết đó không làm cho người ta khá hơn, mà còn có nguy cơ làm cho người ta ao ước điều xấu, nhất là khi biết được rằng, những hậu quả tác hại có thể tránh được. Điều này cho thấy không thể lẫn lộn giữa sinh lý và luân lý. Sự xấu không phát xuất do việc hiểu biết thiếu xót, nhưng do sự bất chính về hành động của con người. Cũng vậy, tính hạnh phát lộ không phải qua sự hiểu biết mà là qua sự lựa chọn. Điều quan trọng để trở thành đạo đức không phải là biết nhiều hơn nhưng là làm tốt hơn.
Mọi hiểu biết phải được thanh lọc để giúp cho cuộc sống bớt đi những cản trở và phân tán. Tri thức theo chiều rộng của lý trí phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung vào chiều sâu của tâm hồn, để tâm hồn trở nên tinh ròng hơn, có khả năng nếm hưởng những niềm vui thanh cao hơn. Không có niềm vui nào sánh kịp với niềm vui vô tội. Chính niềm vui này mới tạo nên sức mạnh làm cho cuộc sống vươn cao và tỏa sáng.
Chúng ta không hoàn toàn nằm trong tình trạng tội lỗi, nhưng chúng ta luôn dễ bị kềm chế bởi ảnh hưởng của tội lỗi: bởi những hiểu biết lệch lạc; bởi những nghe biết không chính xác; bởi chất chứa những thành kiến và ác cảm; bởi tình trạng tâm lý bị thất đoạt; bởi lối sống tầm thường; bởi một não trạng khô cứng; bởi những tư tưởng đã bị nhồi sọ; bởi những hành động bức xúc theo cảm tính; bởi đã có quá nhiều lạm dụng về sự hiểu biết...Tất cả những điều đó làm mất đi sự thanh tịnh và niềm vui của tâm hồn, làm bế tắc sự khôn ngoan chân chính.
Đại học “không biết” của Đức Maria
“Không biết” không phải là không biết, mà là phải biết như thế nào? Chính cái biết đó mới làm cho chúng ta hiểu được cái “không biết”. Hãy nhập vào trường Đại học của Đức Maria, một Đại học chuyên khoa về sự “không biết”, đặc biệt là sự không biết đến tội lỗi. Chính sự không biết này mới là đầu mối của mọi sự khôn ngoan. Điều làm cho tâm hồn được phong phú và cao đẹp không phải là học cao, biết nhiều, hiểu rộng, mà là biết khôn ngoan, không phải thứ khôn ngoan xác thịt, nhưng là một sự khôn ngoan đạo đức. Đó là biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình mọi nơi mọi lúc, cũng như đầy lòng kính sợ, yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự. Thiếu sự khôn ngoan này, mọi sự hiểu biết khác đều vô nghĩa, và mọi nhân đức khác đều khô cằn héo úa, không thể triển nở. Sự khôn ngoan đó làm cho mọi hiểu biết có một giá trị sâu xa. Sự khôn ngoan đó như ánh nắng, sương sa và mưa móc làm đâm chồi nẩy lộc mọi cây nhân đức khác, làm nên sự thánh thiện rạng ngời, là vẻ đẹp muôn thuở của Thiên Chúa thông ban cho Đức Mẹ. Bởi vậy, qua thánh Giêrônimô, chúng ta mới tuyên xưng “Mẹ là Tòa Khôn Ngoan”. Mặc dù Mẹ là người đàn bà quê mùa, không biết đến những văn minh tiến bộ của nhân loại, nhưng trong Mẹ có sự hiểu biết về sáng tạo, về vũ trụ và lịch sử. Sự hiểu biết đó thì tuyệt hảo hơn các triết gia cao cả nhất, hơn những lý luận của những thần học gia lớn lao nhất, và sự biệt phân tiên tri hơn mọi tiên tri. Sự khôn ngoan của Đức Mẹ phát xuất từ một tâm hồn vô tội, nên sáng suốt trong mọi lựa chọn và quyết định, luôn phù hợp với đường lối của Thiên Chúa.
Nếu tất cả nền Đạo học của Lão Tử đều xây dựng trên chữ VÔ, nhất là VÔ VI: nghĩa là Sống và làm việc theo đường lối tự nhiên của đạo, là trở về với tính đơn sơ hồn nhiên, sống thành thực với lòng mình theo cách thể hiện của trời đất, thì ta mới thấy sự khôn ngoan tuyệt hảo nơi Đức Mẹ, khi Mẹ đặt tất cả vào Thánh ý Chúa. Vô Vi như thế lại mở ra con đường muôn ngả: vô dục, vô tư, vô tranh, vô danh, vô kỷ, vô cầu. Tất vả chữ VÔ của Lão tử như là diễn tả sự lành thánh và khôn ngoan của Mẹ, để từ đó Mẹ sinh ra Đấng Thánh Thiện và Khôn Ngoan.
Như vậy Đại học “không biết” của Đức Maria cũng là Đại học “khôn ngoan” chưa từng có trên thế gian, vì đó là là sự khôn ngoan của chính Thiên Chúa, là đặc ân quí giá nhất của Thánh Thần, và là dung mạo về Đức Kitô từ trong Cựu Ước, phản ảnh ánh sáng vĩnh cửu (x. St 7, 26), Lời tạo thành của Thiên Chúa (Logos) (x. Tv 33, 9; Ga 1, 1).
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã lựa chọn sự “không biết” để sống cuộc đời mình cho Chúa. Sự “không biết” đó là không biết tìm kiếm mình; không biết thỏa mãn ý riêng mình; không biết đến sự khôn ngoan phàm tục; không biết đến danh vọng; không biết đến tranh giành ảnh hưởng, lợi lộc; không biết quy mọi cái về mình; không biết sống trỗi vượt; không biết cầu mong cho mình; không biết chỉ sống cho riêng mình; không biết hưởng lạc thú; không biết chiếm hữu; không biết mơ ước cao sang; không biết hãnh diện mình là trinh nữ vẹn toàn; không biết tỏ ra sự cao cả của mình được chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế... Có quá nhiều điều Mẹ không biết và không muốn biết trong cuộc sống nhân loại. Nhưng rồi từ đó, Chúa lại làm cho sự “không biết” của Mẹ trở thành sự khôn ngoan và thánh thiện của Người. Mẹ chọn lựa sự “không biết” để rồi được biết mọi sự, được “biết” chính Chúa, là vinh quang muôn đời của Mẹ.
Xin cho con học nơi Mẹ, biết yêu quí và thưởng thức những điều “không biết” của Mẹ để tận hiến cuộc đời mình cho Chúa. Xin cho con học biết và cố gắng nhìn xem con người, những sự vật và các biến cố như Chúa nhìn trong một tinh thần khôn ngoan đích thật. Amen.

Lm. Thái Nguyên (By Simon Hòa Dalat page)

Tháng hoa thắp cây nến kính mừng Đức Mẹ Chúa trời

1. Chúng con thắp cây nến lòng nhân ái nhớ đến Đức Mẹ xưa đã mở cánh cửa cung lòng cho Chúa Giêsu xuống thế làm người, khi Mẹ chấp nhận vâng theo thánh ý Chúa. Chúa Giêsu là hoa quả phúc lộc cho Mẹ, và cho hết mọi người chúng con.
Thắp cây nến này lên, chúng con muốn nói lên lời chân thành cám ơn cha mẹ chúng con, những người đã sinh thành, trao tặng lòng nhân ái thương yêu dậy dỗ chúng con nên người, như Đức Mẹ xưa đã làm cho Chúa Giêsu.
2. Chúng con cây thắp cây nến lòng lễ nghĩa trước tượng Đức Mẹ, muốn nói lên cung cách Đức Mẹ xưa kia đã sống niềm tin đạo giáo giữ lễ nghĩa, kính thờ yêu mến Thiên Chúa.
Cuộc sống kính trọng gìn giữ lễ nghĩa của Đức Mẹ là gương mẫu cho chúng con sống với Chúa, với ông bà cha mẹ anh chị em, vợ chồng v?i nhau trong gia đình. Đời sống có lễ nghĩa là cuộc sống tràn đầy đạo đức tình người với nhau.
3. Tháng hoa chúng con mừng kính Đức Mẹ qua lời ca tiếng hát trầm bổng phát xuất từ tận đáy tâm hồn. Đó cũng là tâm tình vui mừng với Thiên Chúa là Cha đời mình, mà Đức Mẹ đã bày tỏ qua lời ca ngợi: Linh hồn tung hô Chúa. Thần trí tôi mừng vui trong Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc tôi!
Chúng con thắp cây nến lòng hiếu thảo mừng kính Mẹ Chúa Trời.
Ước gì ánh sáng cây nến lòng hiếu thảo của Đức Mẹ chiếu lan tỏa tới tâm hồn chúng con, biết sống lòng kính trọng với Thiên Chúa và lòng biết ơn người sinh thành, cũng như người làm ơn cho chúng con!
4. Tháng hoa chúng con chào kính Mẹ Chúa vinh quang qua ánh sáng cây nến chiếu tỏa sức sống sáng tạo của trí khôn mà Thiên Chúa đã phú ban cho Mẹ. Phát xuất từ trí óc sáng tạo Mẹ đã tiên liệu việc Chúa làm: Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1,50).
Ôi, lời chan hòa tình tự sự hiểu biết và trí khôn ngoan đặt nơi cội nguồn đời sống! Cùng với Mẹ trên trời, chúng con chúc tụng và cám ơn Thiên Chúa, Đấng đã phú ban cho con người kho tàng tài sản châu báu là trí khôn!
5. Tháng hoa chúng con ca ngợi Me bằng ánh sáng cây nến lòng trung thành. Xưa kia Mẹ âm thầm ghi nhớ mọi biến cố kỷ niệm xảy ra trong tâm hồn. Mẹ theo dõi cuộc tử nạn Chúa Giêsu trong mọi bước đường. Dưới chân thánh giá Mẹ đứng đó chứng kiến giờ phút sau cùng của Chúa Giêsu.
Lòng trung thành là nhân đức quí báu và cần thiết cho đời sống làm người với Chúa, giữa vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em, bạn bè với nhau trong gia đình và trong cộng đoàn xã hội.
6. Cùng với đóa hoa hồng tươi thắm, chúng con thắp cây nến lòng thành tín mừng kính Mẹ Chúa trời hiển vinh. Mẹ đã sống tình nghĩa con người đến thăm người bà con chị họ E-li-sa-bét. Mẹ đã bầu cử, cứu giúp đôi bạn trẻ ngày thành hôn, khi họ lâm cảnh khó khăn. Vì giữa tiệc cạn hết rượu. Mẹ quan tâm tới đời sống gia đình trước hết.
Cung cách sống thành tín mang đến cho nhau trong cuộc sống niềm vui và sự an toàn, nhất là trong bước đường gặp nghi nan lo âu. Xin Đức Mẹ cầu bầu cho các gia đình. Giúp họ củng cố lòng tín nghĩa với nhau, những khi “rượu tình yêu“ trong đời sống hầu sắp cạn!
7. Cùng với cành bông hoa Hướng dương, chúng con thắp cây nến lòng dũng cảm chào kính Mẹ Chúa thiên đàng.
Mẹ đã can đảm chấp nhận cưu mang Chúa Giêsu như Thiên Chúa đã hoạch định và hạ sinh trẻ Giêsu giữa cánh đồng trong chuồng xúc vật. Mẹ cùng với Thánh Giuse chấp nhận cuộc sống tỵ nạn bên Ai-Cập và âm thầm sống tại làng quê Na-da-rét. Mẹ luôn ở bên cạnh các Tông đồ trong những giờ phút nguy hiểm u buồn lúc Chúa Giêsu chết trên thánh giá. Và cùng với họ can đảm chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lòng dũng cảm là nhân đức cao thượng trong cuộc sống.
Lòng dũng cảm hun đúc đào tạo nên những con người thánh, những con người anh hùng có đời sống đạo đức tình người.
Xin Đức Mẹ bầu cử cho con em bạn trẻ biết quí mến nếp sống hy sinh, và lòng chân thành hướng về ngày mai! Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ!
Lm Nguyen ngoc Long (By SONGDUCTIN)

Monday, April 30, 2007

Chúa Nhật 4 Phục Sinh - 4th Sunday of Easter (John 10:27-30)

Bài Đọc I: Acts 5:27-32,40-41 II: Rev 5:11-14
Phúc Âm Gioan 10:27-30
27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.30 Tôi và Chúa Cha là một".
Chi Tiết Hay
+ Bấy giờ là mùa đông, Đức Giêsu ở trong đền thờ vào dịp kỵ niệm lễ Cung Hiến Đền Thờ. Lễ này bắt nguồn từ cuộc nổi dậy chiến thắng của dân Do thái chống lại sự đô hộ của người Syria xảy ra hồi năm 164 trước Tây Lịch. Trong câu 24 của chương này, người Do Thái hỏi Đức Giêsu phải chăng Ngài là Đấng Mêsia, nghiã là Ngài có phải là người sẽ giải thoát họ khỏi ách nô lệ hay chăng. Lời giải đáp của Đức Giêsu ở đây không làm cho họ thoả mãn nên họ định ném đá Ngài (c.31).
+ Người chăn chiên là một danh hiệu thường được dùng cho vua hoặc lãnh tụ của dân vùng Mesopotamia xưa kia và cả Do Thái nữa. Thiên Chúa cũng được gọi là Chủ chiên của dân Do Thái (Sáng Thế 48:15, TV 28:9, vv.)
+ "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi" (c.27). Ít người chăn chiên có một chuồng chiên riêng của mình, họ thường chung nhau nhốt chiên vào một chỗ vào buổi tối. Sáng hôm sau, mỗi người đến gọi riêng những con chiên của mình ra.
+ "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời" (c.28). Đức Giêsu là một người chăn chiên đặc biệt. Không những nuôi nấng và biết con chiên của mình, Ngài còn cho chúng sự sống đời đời; không phải chỉ một cuộc sống, nhưng là "cuộc sống dồi dào" (10:10).
+ "Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha" (c.29). Sức mạnh tuyệt đối này trong Kinh Thánh Cựu Ước dành riêng cho Thượng Đế, như trong câu mọi linh hồn đều ở trong bàn tay Chúa (Khôn Ngoan 3:1) và không ai cướp được chúng khỏi bàn tay Chúa (Isaia 43:13). Vậy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Hơn nữa, Ngài cũng là Thiên Chúa, và cũng có sức mạnh như thế để bảo vệ mọi linh hồn.
+ "Tôi và Chúa Cha là một" (c.30). Câu văn ngắn này nói một cách rõ ràng sự hiệp nhất trong quyền năng và hành động, và từ đó Giáo Hội đã ban bố tín điều Chúa Ba Ngôi.
Sự hiệp nhất, trong câu 30, cũng nối kết mọi ngưòi lại với nhau: "để họ nên một như chúng ta" (17:11).
Một Điểm Chính: Chúa Ba Ngôi nối kết chúng ta lại trong tình thương và cho chúng ta sự sống dồi dào và vĩnh cửu.
Suy Niệm
1. Tôi có lắng nghe lời mời gọi của Chúa để có thể theo Ngài và nhờ đó được Ngài nuôi sống?
2. Nhìn lại cuộc sống của tôi, tôi có nhận ra Chúa đang nuô nấng và dẫn dắt tôi chăng?
3. Tôi có hiệp nhất được với mọi người, giàu cũng như nghèo, không phân biệt quốc gia? Lý do tại sao?
--------------------------------------------
4th Sunday of Easter
Reading I: Acts 13:14,43-52 II: Rev 7:9,14-17
Gospel John 10:27-30
27 My sheep hear my voice, and I know them, and they follow me;28 and I give them eternal life, and they shall never perish, and no one shall snatch them out of my hand.29 My Father, who has given them to me, is greater than all, and no one is able to snatch them out of the Father's hand.30 I and the Father are one."
Interesting Details
+ The context. Jesus was at the temple in the winter, at the feast of Hanukkah, which celebrated the reconsecration of the temple in 164 BC after a Jewish revolt against the Syrian domination. In v. 24 of this chapter, the Jews asked whether Jesus was the Messiah, meaning whether he would deliver them from foreign dominion again. What Jesus said here did not satisfy them, so they wanted to stone him (v. 31).
+ Shepherd was a title commonly used for the king or ruler of the people in ancient Mesopotamia and also in Israel. God Himself is called the Shepherd of Israel (Gen. 48:15, Ps. 28:9, etc.)
+ "My sheep hear my voice" (v. 27). Few people had their own sheep-pen, so different shepherds put their sheep together in the same pen each evening. Next morning, each shepherd would call his own sheep.
+ "I give them eternal life" (v. 28). Jesus is a special shepherd. Not only he knows and feeds his sheep, but he also gives them eternal life; not only a life, but "have [life] to the full" (Jn 10:10).
+ "From my Father's hand no one can snatch away" (v. 29). This supreme power shows that the Father is God, because the souls are in God's hand (Wisdom 3:1) and no one can snatch them from God's hand (Isaiah 43:13). So Jesus is the Son of God. Furthermore, he is also God, and has the same power to protect souls.
+ "The Father and I are one" (v. 30). This short verse expresses clearly he unity of power and operation, and led to the 4th-century Church doctrine of one divine nature in the Trinity.
+ The unity in verse 30 also binds all people together: "that they may be one, even as we (Jn 17:11).
One Main Point: The Trinity binds us together in love and gives us a full, eternal life.
Reflections
1. Do I listen to the Lord's call so that I can follow Him and he can feed me?
2. Looking at my life, do I see how the Lord has fed and led me?
3. Am I united with all people, rich and poor, in all nations? Why, or why not?