Monday, February 05, 2007

Ngày hôm nay

Nghệ thuật sống...
Bên ngoài cửa sổ là một ngày mới bắt đầu và chỉ mình tôi có thể quyết định đó sẽ là một ngày như thế nào.
Nó có thể là một ngày bận rộn, tràn ngập ánh nắng; vui vẻ và sảng khoái nhưng cũng có thể đơn điệu, lạnh lẽo; buồn bã và ủ dột.
Tâm tính tôi là chìa khóa quyết định tất cả, vì vậy chỉ tôi mới chọn được mình sẽ là người như thế nào.
Tôi có thể là người luôn quan tâm, giúp đỡ mọi người bằng tất cả khả năng mình có được nhưng cũng có thể là kẻ ích kỷ, chỉ biết mình.
Tôi có thể thưởng thức những gì mình làm ra và thi vị hóa nó (nếu xảy ra không như ý muốn) nhưng cũng có thể kêu ca, phàn nàn và gây khó chịu cho người khác.
Tôi có thể kiên nhẫn giúp ai đó hiểu được điều họ chưa thông hoặc xem nhẹ và làm tổn thương họ nhiều như tôi cũng có thể.
Nhưng sau hết tôi có niềm tin vào chính bản thân, vào những gì tôi nói và cá nhân tôi luôn mong làm được những điều tốt nhất mỗi ngày.
BÙI NGUYỄN QUÝ ANH (Theo godslittleacre.net & TUỔITRẺ Online)

VỀ CUỐN PHIM DA VINCI CODE (Mật mã của Họa sĩ De Vinci)

Em thân mến,
Sau một năm, em lại viết thư cho tôi, thêm một lần thứ hai, hỏi ý kiến về cuốn phim đã và đang được được trình chiếu, gần như trên khắp thế giới, trong các đô thị ở Tây cũng như bên Đông, ở miền Bắc cũng như phía Nam của Địa cầu.
Về cuốn tiểu thuyết của Dan BROWN (*), tôi hy vọng em còn ghi nhận một vài điểm chia sẻ then chốt của tôi…Tuy nhiên, để hai anh em chúng ta có thể tiến xa hơn một bước, trên con đường Đức Tin diệu vợi, và nhất là trong lãnh vực có liên hệ đến tác vụ làm chứng về Đức Kitô, trong những tình huống “thuận lợi, cũng như bất lợi”, tôi xin nhắc lại một vài trọng điểm như sau:
1.- Da Vinci Code là một bộ phim đã tìm cách tạo hình và đưa lên màn bạc, cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, một cách khá trung thực. Không bóp méo và xuyên tạc. Cũng như không tìm cách hoành tráng hóa một vài tiết tấu, theo lối nhìn hòan toàn chủ quan và có chủ định lồng thêm vào một quan điểm mới, không có mặt trong cuốn tiểu thuyết.
2.- Khi đọc cuốn sách, cũng như sau khi xem xong cuốn phim, tôi vẫn khẳng định Đức Tin của tôi một cách quyết liệt, cơ hồ Thánh Phêrô:
- “Thầy là Đấng Thiên Sai”, nghĩa là xuất phát từ cung lòng của Thiên Chúa Ngôi Cha, và luôn luôn có mặt với Ngài, trong mỗi chương trình cứu độ nhân trần”.
- “Bỏ Thầy, con sẽ biết theo ai? Vì chỉ có một mình Thầy là Đường Đi, là Sự Thật và là Sự Sống cho con và cuộc đời”.
Trước Thánh Thể, tôi vẫn còn nghe Lời dạy bảo của Thiên Chúa Ngôi Cha, hoàn toàn giống như Gioan Tiền Hô, sau khi làm phép rửa cho Đức Kitô, trong dòng sông Gióc đanh:
- “Đây là Con Ta yêu dấu và đẹp lòng Ta, trong mọi lãnh vực. Hãy lắng nghe Người”.
3.- Mỗi lần đọc và suy niệm đọan Phúc Âm, nói về người đàn bà ngọai tình, Lời Đức Kitô vẫn luôn luôn còn hiện thực, một cách rạng ngời, cho tôi và đối với cuộc đời tràn đầy tội lỗi của tôi:
- “Thầy không kết án chị”.
Trên Thánh Giá, trước lúc tắt thở, Đức Kitô cũng đã “tràn đầy và thấm nhuần” tâm tình và lối nhìn Thứ Tha như vậy.
Thứ Tha cũng là một bài học, mà Phêrô đã ghi lòng tạc dạ, trong đáy sâu của cuộc đời, sau khi nêu lên câu hỏi cho Thầy mình:
- “Thưa Thầy, con phải thứ tha đền 7 lần không?”
Trong tinh thần Thứ Tha vô điều kiện ấy, Đức Kitô đã từ chối “xin lữa từ trời xuống thiêu hủy một thành phố của xứ Samary”, khi dân thành nầy đóng chặt cửa, không cho phép Ngài bước vào, dừng lại, nghỉ ngơi và qua đêm.
Cũng với một tâm hồn Thứ Tha như vậy, Đức Kitô đã không mở lời cầu xin Thiên Chúa sai phái các đạo binh Thiên Quốc, để bênh vực Ngài. Trái lại, Ngài đã an bình đưa ra hai tay cho địch thù trói lại, dẫn độ lên ngọn đồi Gôngôtha, đóng đinh vào Thánh Giá. Cuối cùng, Ngài đã chết hẫm hiu và tủi nhục, như một tội nhân gian ác…
Không đi theo con đường Thứ Tha, làm sao Sống Lại với Ngài, như Ngài và nhờ Ngài? Sống Lại là trở nên bao la và trọng đại, giống như Thiên Chúa Ngôi Cha, đúng như Lời của Đức Kitô: “Cái gì của Cha là của Con”.
4.- Hẳn rằng, lối nhìn Đức Tin của tôi về Đức Kitô không bao giờ bị nao núng, xói mòn, tàn lụi hay là thoái hóa. Nhưng như em đã nhấn mạnh lui tới một cách cố tình và cố ý, tôi nghĩ thế nào về “cuộc tình duyên vợ chồng” giữa Đức Kitô và Chị Mađalêna, theo lối nhìn của Dan BROWN?
Nhằm trả lời, một cách trung thực, không lượn lẹo, tôi cần nói trước rằng:
- Nếu tôi nói quá ít, những lời chia sẻ của tôi sẽ khó hiểu, mập mờ,
- Nếu quá chi ly cặn kẽ, tôi có thể bị hiểu lầm là người biện minh, biện hộ cho một cuốn sách hay một cuốn phim đã “bị tẩy chay và khai trừ, vì ý đồ bôi nhọ và phá họai, một cách quá rõ ràng”.
Trong thực tế, tôi không phải là người đã cổ động và khuyến khích em ĐỌC sách và ĐI XEM phim. Tuy nhiên, vì em hỏi, tôi lấy tư cách một người anh, có đôi chút hiểu biết về cuộc đời, tôi dùng sứ điệp ngôi thứ nhất “TÔI”, để trả lời với tất cả tấm lòng chia sẻ và ý thức rằng “Hữu XẠ tự nhiên Hương”.
Chuyên môn của tôi là đi dạy các trẻ em Tự Kỷ. Cho nên, tôi dùng những tin tức, kiến thức và kinh nghiệm thuộc lãnh vực này, để nói chuyện với em.
Hẳn thực, vào giai đọan giữa 3 và 4 tuổi, một em bé bình thường, khỏe mạnh… đã bắt đầu biết chơi những trò chơi “GIẢ BỘ”. Em có thể cầm một khúc gỗ, vừa đẩy lui đẩy tới, vừa phát âm “tò tò…đương khi đó, em hình dung mình đang lái xe lửa vào một đường hầm, bên cạnh sườn núi.
Cùng lúc ấy, đàng sau nhà, ba em bé gái đang dùng lá làm bát đĩa, dùng đất cát và các lọai hoa làm cơm và thức ăn. Ba em mời nhau ăn và đưa lên cằm, giả bộ ăn, nhưng biết rõ đó không phải là của ăn, cho nên không đút vào miệng.
Cũng vào giai đọan phát triển nầy, trẻ em có khả năng nhìn vào mắt mẹ và biết mẹ buồn hay mẹ vui, mẹ cho phép hay là mẹ không đồng ý.
Trái lại, với một trẻ em mang hội chứng Tự Kỷ, có nghĩa là đóng kín mình lại - không tiếp xúc với những người đang có mặt chung quanh, thậm chí với bà mẹ sinh ra mình - trò chơi giả bộ không xuất hiện, cho dù em nầy đã lên 9-10 tuổi. Cũng vì vậy, trẻ em Tự Kỷ không có khả năng ĐỒNG CẢM, nhìn bộ mặt bên ngoài, để có thể đọc được những tâm tình ở bên trong.
Nói khác đi, với trẻ em Tự Kỷ, khúc gỗ chỉ là khúc gỗ. Ngọn lá chỉ là ngọn lá. Khúc gỗ không thể và không bao giờ hướng Tầm Nhìn đến những hiện thực lung linh và diệu vợi khác. Cũng vậy, ngọn lá, cát sạn không thể nào gợi lại một bữa cơm đang gọi trở về những người thân thương và yêu quí. Đang làm sống lại những giờ phút đoàn tụ, hạnh phúc và sung mãn.
Nhờ khả năng HÌNH TƯỢNG còn được gọi là BIỂU TƯỢNG, chúng ta đồng cảm với các bậc tổ tiên, đã từng có mặt chính nơi chúng ta hiện thời đang có mặt.
Nhờ khả năng Đồng Cảm, chúng ta đọc được bao nhiêu khổ đau, ưu tư và hy vọng của anh chị em đồng bào, nhất là của những ai đang đói rách, cùng khổ, mỗi ngày chưa kiếm được một loong gạo để nuôi sống 3 miệng cơm trong gia đình…
Nhờ đồng cảm, tôi sẵn sàng Tha Thứ, giống như Đức Kitô, cho những ai đang mạ lị, xuyên tạc, bôi nhọ… từng lời nói và việc làm của tôi. Sở dĩ họ đã có những hành vi, với bộ mặt bên ngoài hoàn tòan lệch lạc và gây ra cho tôi nhũng vết thương lòng rướm máu… không phải vì họ xấu trong căn cơ, gốc ngọn của mình. Nhưng vì họ đang khổ đau, trong lóng cuộc đời. Cho nên mắt họ thiển cận. Tay họ quờ quạng. Tai họ lùng bùng. Họ chỉ là con múa rối của Vô Thức hay là Vô Minh đang lèo lái họ, trên những nẻo đường xuôi ngược của cuộc sống mà thôi.
Tôi đã phân tích, mỗ xẻ trước mặt em, một số sinh họat của con người, của em cũng như của tôi… để em có thể nhận thức một cách sáng suốt và bình tĩnh về cách hành văn và xây dựng tác phẩm tiểu thuyết hư cấu của tác giả Dan BROWN:
Hẳn thực, Da Vinci Code dẫn đưa chúng ta đi vào thế giới HÌNH TƯỢNG lung linh và diệu vợi. Đằng sau những lối nói như “ tình duyên vợ chồng”, “sinh con”... tác giả muốn nói đến những ước vọng hiệp thông, đồng nhất, kết hợp giữa Trời và Đất, giữa Thiên Chúa và con người có bản chất ban đầu là bùn đất, sa đọa…
Trong lăng kính ấy, chị Mađalêna trong tác phẩm và cuốn phim, chỉ là HÌNH TƯỢNG đang muốn nhắn nhủ hay là gây ý thức cho em, cũng như cho tôi, một đàng về nguồn gốc và khởi điểm tro bụi của mình. Đàng khác, em và tôi cũng cần học NHÌN LÊN, NHÌN XA, NHÌN RỘNG, để thấy cho kỳ được chúng ta đang mang DÒNG MÁU của Trời, trong tận đáy sâu của tâm hồn. Chúng ta có trách nhiệm sinh ra cho đời những đứa con “Tràn đầy và thấm nhuần chất Trời”, trong từng lời ăn và tiếng nói, trong từng cử chỉ và điệu bộ, trong mỗi hơi thở làm người.
Nếu biết lắng nghe ngôn ngữ HÌNH TƯỢNG của Dan BROWN, em sẽ là người Kitô hữu ngày ngày cố quyết “làm nên Trời Mới Đất Mới”, trên mỗi bước đuờng làm người của em.
5. Em ơi, tôi xin dừng lại ở đây.
Tôi không nuôi ẵm tham vọng “tát cạn” mọi vấn đề, vì tôi biết chắc rằng: em là người “nghe một, biết mười”. Chính nhờ vậy, em sáng tạo cuộc đời cho mình và cho kẻ khác, vì em là con của Đấng Sáng Tạo.
Còn hơn thế nửa, thay vì tố cáo, kết tội, tẩy chay và lọai trừ… em hãy can trường đảm nhiệm tác vụ “LÀM CHỨNG NHÂN cho Đức Kitô”, trên mỗi chặng đường làm người của mình. Hãy mở mắt Đức Tin, để nhìn thấy cho kỳ được Con Đường Sống Lại, đã bắt đầu ló dạng, trong những nơi chốn lầm than, lầy lội và đau khổ. Hãy khám phá những điểm tích cực và năng động… trong mọi biến cố, cũng như nơi mỗi người anh chị em, cho dù họ là “Do Thái hay Hy Lạp”… Hãy lắng nghe và tìm hiểu, thay vì “vạch lá tìm sâu”, thấy và phóng đại sai lầm, để tố cáo và kết án, chụp nón cối và gắn nhãn hiệu.
“Em là Nước tưới ngày mai tuổi trẻ,
Trồng Rừng Xanh, phủ hết đất tang thương,
Cưu mang Trời, chiếu rạng vùng tăm tối,
Hạt TIN MỪNG gieo vải khắp mười phương.”
Lausanne - Thụy Sĩ - Những ngày đón Xuân 2007
Nguyễn Văn Thành (Vietcatholic News)
(*) Xem lại bài « Cuốn Tiểu Thuyết Da Vinci Code » của Dan BROWN.

SỐNG VỚI CON TIM RỘNG MỞ

Một ngày đẹp trời năm 1996, bà Marie-Cécile (42 tuổi) - tín hữu Công Giáo Pháp - tự nhủ:
- Làm sao tìm được phòng ốc để có thể tụ họp một số tín hữu và cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng?
Bà Marie-Cécile mong ước như thế, bởi vì, trước đó không lâu, nhân chuyến hành hương về đền thánh Đức Mẹ Thánh Tâm ở Issoudun (Nam Pháp) bà khám phá ra linh đạo Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU.
Từ ngày đó, bà ấp ủ dự tính tìm cho ra một linh đạo vững chắc giúp mình tiến bước trên đường thiêng liêng. Nhưng bà Marie-Cécile không muốn đơn độc. Bà quy tụ một nhóm bạn hữu. Và khi tìm được người cùng chí hướng, bà nghĩ đến việc xin các Nữ Tu dòng Đức Bà Thánh Tâm trợ giúp về nơi chốn và linh hoạt các buổi họp.
Khi bà đến gõ cửa cộng đoàn Nữ Tu Đức Bà Thánh Tâm ở Auxerre (Nam Pháp) thì Chị Bề Trên Raymonde (42 tuổi) vui vẻ nhận lời ngay. Các nữ tu bằng lòng cho mượn phòng ốc. Chị Bề Trên cũng sẵn sàng tham dự các buổi họp nhóm để chia sẻ kinh nghiệm sống.
Huynh Đoàn "Sống Với Con Tim Rộng Mở" ra đời từ đó.
Dần dần có thêm người gia nhập Huynh Đoàn. Họ làm đủ thứ nghề nghiệp và thuộc các thành phần nam nữ khác nhau. Mỗi tháng họp nhau một lần.
Trước tiên đọc một đoạn Kinh Thánh. Sau đó chia sẻ suy tư về bài Sách Thánh, lồng khung trong kinh nghiệm sống thường ngày. Bà Claude, y tá về hưu nói:
- Những cuộc chia sẻ này mang đến cho tôi nhiều lợi ích thiêng liêng. Bởi vì, tất cả sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ. Không ai có chủ ý dạy luân lý người khác. Chỉ phát biểu thật đơn sơ, nói lên ý nghĩ riêng tư.
Ông Jacques - giáo viên và cựu thành viên "Con Đường Mới" - đề cao khía cạnh thực tiễn các buổi họp nhóm:
- Các trao đổi ý kiến không nằm trên phương diện lý thuyết. Mỗi người nói lên chứng tá riêng. Chính các chứng tá riêng kích động và giúp chúng tôi can đảm tiến bước trong đời sống thiêng liêng.
Thành viên Huynh Đoàn ”Sống Với Con Tim Rộng Mở” thường phát biểu hết sức đơn sơ và hoàn toàn tự do. Tuy nhiên, tất cả phải tôn trọng một số qui luật nòng cốt:
- phát biểu với tư cách cá nhân- không được cãi vặt
- tiếp nhận người khác
- không bao giờ cảm thấy bị bắt buộc phải nói lên ý nghĩ riêng tư.
Đó là vài nguyên tắc của việc chia sẻ, giúp giữ vững tinh thần đối thoại và lắng nghe. Nữ tu Raymonde giữ nhiệm vụ điều động nói:
- Lúc đầu, tôi thường xuyên nhắc nhở về các nguyên tắc này. Bây giờ, thỉnh thoảng có người nhắc thay tôi. Chúng tôi hiểu rằng, đây là các nguyên tắc sơ - khởi nhưng trở thành qui luật của Huynh đoàn!
Các thành viên dấn thân trong nhiều hoạt động tông đồ và công tác bác ái khác nhau như: giáo lý viên, hội viên phụ huynh học sinh, thiện nguyện viên các quán ăn bình dân miễn phí v.v. Các sinh hoạt này giúp cho việc chia sẻ sống động và phong phú. Với giọng vui tươi và tri ân, bà Marie-Cécile phát biểu:
- Trong huynh đoàn, vào ngày hội họp, không ai tìm kiếm việc áp đặt tư tưởng mình trên người khác. Trái lại, chúng tôi lắng nghe người khác. Linh đạo này giúp tôi thoát ra chính mình, chấp nhận và mở rộng con tim yêu thương người khác.
Chính nhờ giây phút sống chung và chia sẻ tư tưởng cùng kinh nghiệm sống mà các thành viên Huynh Đoàn ”Sống Với Con Tim Rộng Mở” can đảm công khai làm chứng cho Đức Tin vào Đức Chúa GIÊSU KITÔ nơi môi trường nghề nghiệp và xã hội. Làm chứng bằng trọn cuộc sống ngay chính, vui tươi và bác ái.
(”Annales d'Issoudun”, Mai/1998, trang 12-13).
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Ðời sống là một quà tặng…

Có một người con gái hận mình vì mình mù lòa. Nàng ghét tất cả mọi người, ngoại trừ anh bạn thân, vì lúc nào anh ta cũng ở bên cạnh để lo lắng cho nàng.
Nàng nói nếu một ngày nào nàng có thể nhìn thấy được thì nàng sẽ lấy anh ta làm chồng.
Thế rồi, một ngày nọ, có người tặng cho nàng một đôi mắt và nàng có thể nhìn thấy mọi sự, kể cả người tình yêu quý của nàng.
Anh ta hỏi, “Bây giờ em đã thấy được mọi sự trên thế gian này, em có muốn lấy anh không?”
Cô gái sững sờ khi thấy người tình của mình cũng mù lòa và từ chối không lấy anh ta.Anh ta buồn rầu, khóc lóc, bỏ đi, và sau đó anh viết cho nàng một lá thư. Lá thư ấy nói như sau, “Em yêu dấu! Xin em hãy gìn giữ đôi mắt của anh.”
………………..
Rất ít người nhớ được quá khứ về đời sống trước đây, và ai là những người luôn luôn ở bên cạnh mình, ngay cả những khi mình gặp khó khăn đau buồn nhất.
Ðời sống là một quà tặng...
Ngày hôm nay, trước khi bạn nói một lời không đẹp về ai - xin hãy nghĩ đến một người câm không biết nói.
Trước khi bạn than phiền về món ăn không ngon miệng - xin hãy nghĩ đến một người không có gì để ăn.
Trước khi bạn than phiền về người chồng hay vợ của mình - xin hãy nghĩ đến một người đang than khóc với Chúa là họ không có được một người bạn đường.
Ngày hôm nay, trước khi bạn than phiền về đời sống của mình - xin hãy nghĩ đến một người đã phải chết đi khi còn quá trẻ.
Trước khi bạn than phiền về con cái - xin hãy nghĩ đến một người muốn có con nhưng lại hiếm muộn.
Trước khi bạn than phiền về căn nhà của mình - xin hãy nghĩ đến những kẻ đang sống vô gia cư ngoài đường phố.
Và khi bạn mệt mỏi và chán chường về công ăn việc làm của mình - xin hãy nghĩ đến những người thất nghiệp, những người tàn phế và những người đang ao ước có việc làm.
Và khi bạn có những ý tưởng đen tối ám ảnh mình - xin hãy nở một nụ cười trên môi và tạ ơn Thiên Chúa vì mình hãy còn sống và còn sinh hoạt bình thường.
Ðời sống là một quà tặng… Xin hãy sống vui, hãy sống trong hoan lạc, hãy chúc tụng đời sống, hãy làm cho đời sống có đầy đủ ý nghĩa!
Bùi Hữu Thư (Vietcatholic News)

Sunday, February 04, 2007

THIÊN CHÚA QUẤY RẦY CUỘC SỐNG CHÚNG TA

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN C (Lc 5, 1 – 11)
Thưa quý vị,
Để cảm nghiệm được ý nghĩa lời chúa hôm nay đòi hỏi người ta phải có kinh nghiệm bản thân- như tuần trước. Mường tượng chung chung chẳng đủ. Vì thế những ai quen sống lầu hồng gác tía sẽ thất bại. Chỉ những người dám dấn thân dính líu vào các rắc rối “sự đời” mới có khả năng cảm nhận Chúa muốn nói gì với chúng ta. Hay dùng kiểu diễn tả thường tình: Tại sao tôi lại vướng mắc vào chuyện này? Tại sao tôi lại nhúng tay vào chân? Chẳng là vì cuộc sống hàng ngày gây cho người ta nhiều phiền toái. Thí dụ con cái hư hỏng, nợ nần ngập cổ, cãi cọ gia đình. Mới lập gia đình, đượclàm cha làm mẹ là một hạnh phúc tuyệt vời, nhưng qua nhiều năm tháng sống, chuyện gia đình trở nên khó khăn nhiều gánh nặng, đỏi hỏi kiên nhẫn, yêu thương và cố gắng hy vọng liên tục. Liệu những bậc làm cha mẹ nào mà không cảm thấy như vậy? Tu sĩ, linh mục sống một mình nhiều lần cũng phải phàn nàn như vậy. Tôi quen biết một ông bạn, ông ta nhắc đi nhắc lại lời tôi vừa kể: “Tại sao tôi lại gặp rắc rối ngoài ý muốn?” Con cái ông ta đã lớn, cần thêm phòng ngủ. Ông nới rộng nhà và làm một mình, giữa chừng công việc nhiều quá. Ông vất luôn búa xuống sàn, dơ tay lên trời kêu than! Thế đấy, các học sinh, sinh viên trước bài vở ngập đầu cuối năm để thi tốt nghiệp, chuyển lớp, chuyển cấp đều gặp khó khăn tương tự!
Đây là tâm lý thánh Phêrô và các bạn gặp phải khi đi trên con đường làm tôi Chúa. Nhất là sau khi nghe Chúa giảng và mục kích những việc Ngài làm, những khó khăn, chống đối, nhất là khi Ngài nhắc tới Giêrusalem như điểm tới của cuộc đời mình: “Tại sao chúng ta phải vướng mắc vào? Họ hỏi và không có câu trả lời. Rồi họ còn được Chúa yêu cầu từ bỏ bản thân, gia đình, nghề nghiệp, địa vị để theo Ngài? Tại sao chúng ta lại vướng mắc vào chuyện của ông ta? Nhưng xin khoan đề cập đến kết thúc, chúng ta đang ở giai đoạn đầu. Chúa Giêsu đang kêu gọi và thu thập các môn đệ. Công việc xem ra đơn giản, nhưng sự thực Tin Mừng hôm nay gợi ý Phêrô và các bạn đang chìm sâu vào “sự kiện” làm tôi Chúa. Họ được Chúa đòi hỏi phải dấn thân hơn nữa trong quan hệ với Ngài. Tất cả câu chuyện khởi sự khi Chúa bước xuống thuyền và yêu cầu ông ra khơi thả lưới bắt cá: “Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống và từ trên thuyền người giảng dạy đám đông. Giảng xong Người bảo ông Simon: chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Quý vị hẳn đã đoán ra ý nghĩa của đoạn Tin Mừng? Lời giảng dạy liên quan đến chiếc thuyền và bản thân ông Phêrô. Chúng ta có thể mường tượng mình được nghe Lời Chúa từ thuyền ông, chứ không phải từ bất cứ thuyền hay địa điểm nào khác. Ý nghĩa hết sức quan trọng và rồi Phêrô sẵn sàng nghe theo lời bác thợ mộc khuyên bảo “chèo ra chỗ nước sâu thả lưới bắt cá”. Điều mà nghề nghiệp của ông đã luống công, chẳng bắt được gì. “Thưa thầy chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả.” Rõ ràng ông và các bạn đã thất bại, mặc dù bắt cá là nghề nghiệp của họ.
Từng bước một chứ không phải ngay lập tức Phêrô và các bạn trở nên môn đệ chính quy của Chúa Giêsu! Đầu tiên là “xa bờ một chút”. Rồi Phêrô và các bạn phải tiến sâu hơn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”, tức chỗ mà Phêrô và các bạn không còn khả năng. Các ông đã thất bại, suốt cả đêm chẳng bắt được con cá nào! Nhưng việc nghe lời Chúa và theo ý Chúa đã khiến mọi sự ra khác, hoàn toàn khác. Đây là bài học sâu sắc cho chúng ta, bởi thường kiêu ngạo, cậy dựa vào tài sức mình hoặc huênh hoang vì những thành công to lớn, không thèm nghe và làm theo tiếng Chúa. Tệ hơn nữa bắt Chúa phải theo ý mình mới thành công, không thì chắc chắn thất bại. Thái độ của đa phần các nhà giảng thuyết bây giờ là như vậy. Xin lưu ý, thánh Luca lúc này gọi Phêrô bằng tên kép: Simon-Phêrô, trước kia ông chỉ viết Simon mà thôi. Luca đã ghi nhận một bước tiến nhỏ của Phêrô trong ơn gọi làm môn đệ Chúa, sau mẻ cá khổng lồ! Chúng ta cũng vậy, từng bước từng bước thay đổi lòng dạ để theo Chúa, chứ không phải tức thời nhảy vọt.
Thực tế đúng như vậy. Nhiều linh hồn khiêm nhường đã chỉ dám thực hiện những “việc bé nhỏ” để phục vụ Chúa giúp đỡ tha nhân. Nhưng dần dần họ lớn lên trong tinh thần bác ái, và thực hiện những kỳ công dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Linh. Liệt kê hết thì vô kể, chẳng hạn như Charles de Foucauld, Têrêsa thành Calcutta, cha Pierre (qua đời 01/2007). Họ làm việc cực nhọc, đôi khi cảm thấy kiệt sức, thất vọng nhưng vẫn yêu mến công viêc. Thí dụ, người tín hữu nào đó quyết định làm giáo lý viên dạy các lớp giáo lý cho trẻ em, sau đó theo dõi các em và đưa các em tham dự các tuần tĩnh tâm, học giáo lý thêm sức, bao đồng, hôn phối… Còn những trường hợp khác, tụ họp thành các nhóm xây dựng, hoặc sửa chữa nhà cửa cho những cư dân nghèo ở nông thôn, vùng sâu vùng xa hay khu ổ chuột thành phố… Ngoài ra họ cũng có thể đi quyên góp quần áo cũ, đồ dùng dư thừa ở các khu phố khá giả sau đó phân phát cho người nghèo thiếu thốn. Hàng trăm công việc từ thiện như vậy thuộc sứ vụ vươn tới xã hội. Một người đàn ông mua một bữa cơm trưa cho trẻ em lang thang trong khu phố, gần chỗ ông làm việc, thấy công việc hữu ích, ông khuyến khích gia đình hàng xóm, láng giềng, bạn bè thân thích góp tay làm 50 đến 100 ổ bánh mì kẹp thịt phát không cho những gia đình nghèo dọc theo con đường ông đi làm việc. Đó là cách thức chúng ta dần dần trở nên môn đệ Chúa, mở rộng bàn tay nhân ái đến các thân phận nghèo trong xã hội.
Ở mỗi buổi phụng vụ, chúng ta luôn được nghe Chúa thúc giục qua các bài đọc Kinh Thánh, chúng ta đừng để tiếng gọi đó tắt ngúm khi ra khỏi cửa nhà thờ. Nhưng hãy đem ra thực hành. Trước hết, “xa bờ một chút”, rồi dần dần ra “chỗ nước sâu”. Chúng ta hãy lắng nghe và đáp trả như Phêrô và các bạn ông khi xưa. Chúng ta trở nên “đồng chí” với Phêrô và rồi chia sẻ thay đổi căn tính như ông, từ bác thuyền chài chuyên nghiệp đến kẻ chuyên “bắt cá” linh hồn người ta. Đó là điều Thiên Chúa muốn. Khi đã chín muồi, thay đổi từ chiều rộng đến chiều sâu, Chúa Giêsu sẽ cải tên cho chúng ta giống như Ngài đã cải tên cho Phêrô, gọi ông là đá tảng đức tin mà Luca thuật lại ở cuối bài đọc 3 hôm nay: “Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.” Theo Chúa Giêsu đòi hỏi phải từ bỏ hết mọi sự, nhận lấy căn tính mới và đi thu hút linh hồn tha nhân. Liệu chúng ta có làm đúng tiến trình đó? Hay bỏ qua một khâu nào đó? Từng bước, từng bước một chúng ta là những kẻ lắng nghe, thấm thía Lời Chúa và đáp trả thành thật.
Cũng trong bài Phúc Âm này, lần đầu tiên sử gia Luca dùng cụm từ “Lời Chúa”. Cụm từ mà ngày nay phổ thông trong thế giới công giáo, nhưng cũng là cụm từ bị hiểu sai nhiều nhất. Thánh nhân viết: “Dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa”. Ước chi các nhà rao giảng thời nay cũng có được quang cảnh này. Nhưng để được như vậy, họ không còn cách nào khác ngoài noi gương cách sống của Chúa Giêsu. Chính Người là lời Thiên Chúa. Và đây cũng là lần đầu tiên các môn đệ gọi Chúa Giêsu bằng “thày”: “Thưa thày, chúng tôi đã vất vả suốt đêm…” Phêrô có sáng kiến khởi sự gọi Chúa như vậy. Trong suốt Phúc Âm Luca, chỉ có các môn đệ gọi Ngài bằng danh xưng ấy mà thôi. Chúng ta hãy suy nghĩ xem tại sao? Tiếng thày có ý nghĩa chi với họ (với chúng ta)? Sau này trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu xác nhận tước hiệu đó: “Anh em gọi ta là Chúa và là thày thì chí phải…” (Ga 13, 13). Rồi Ngài giải nghĩa “vậy nếu thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em phải rửa chân cho nhau”. Thật quá thấm thía, nếu so với thái độ cha chú của chúng ta ngày nay. Lạy Chúa, xin cho chúng con đủ khiêm tốn phục vụ Chúa mà không cần phải là ông kia bà nọ. Nhưng biết lắng nghe tiếng Chúa chỉ bảo và quyết tâm làm theo những gì Chúa đòi hỏi, vì Chúa là thầy dạy của linh hồn chúng con. Và “quyền năng” chủ yếu của chúng con hệ tại việc nghe và đáp trả “lời Thiên Chúa” chứ không phải hò hét, dương oai.
Bất cứ ai trong chúng ta đáp lời Chúa kêu gọi “chèo ra chỗ nước sâu” đều cảm nhận được công việc là gì và cần bao nhiêu sức lực để trung thành với Ngài, nhất là khi kết quả chẳng thể trông thấy ngay. Chúng ta đâu có xem thấy lập tức mẻ lưới nặng trĩu những cá như Phêrô và các bạn? Hơn nữa đôi lúc cũng giống như Phêrô, chúng ta cảm thấy mình yếu đuối và tội lỗi. Chúng ta thường kêu lên như ông: Lạy Chúa xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi. Hay như Isaia trong bài đọc một: “Khốn thân tôi, tôi chết mất vì tôi là một người môi miệng ô uế!”. Tác giả Luca nhấn mạnh lời Thiên Chúa như nguồn mạch quyền năng và thực phẩm nuôi dưỡng chúng ta trong vai trò làm môn đệ Chúa. Chúng ta đang trên đường đi với Ngài, cố gắng sống lời Ngài và đáp lại tiếng Ngài mời gọi, đặc biệt khi Ngài dẫn đưa chúng ta ra “chỗ nước sâu”, và chúng ta lại phải tự hỏi: “Tại sao tôi vướng mắc vào hoàn cảnh như thế này?”
Tuần vừa qua, Luca đã thuật lại sứ mệnh của Chúa Giêsu trong hội đường Dothái, nó giống của Giêrêmia, được thi hành với nhiều cay đắng và khổ nhục, thậm chí cái chết. Hôm nay Isaia cũng thấy mình đứng trước nhan Thiên Chúa và cũng cảm thấy bất xứng, nhưng ông đã được thanh tẩy và sẵn sàng làm theo thánh ý. Tương tự, Phêrô cảm nhận mình ngập chìm trong uy quyền của Đức Kitô, và cũng phải hô lên: Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu đã gọi và chọn ông để làm công việc của Ngài bất chấp yếu đuối và bất xứng. Vấn đề là, không phải chúng ta có xứng đáng hay không, nhưng là Thiên Chúa gọi và chọn. Ngài đủ quyền tha thứ và ban ơn. Chúng ta có thể nhiều lần cảm thấy mình bất xứng. Tuy nhiên Chúa Giêsu không bảo Phêrô làm một cử chỉ chứng tỏ đức tin rồi đi về nhà ăn chay cầu nguyện. Đúng là tin vào Ngài phải như vậy và còn nhiều hơn nữa. Nhưng Ngài bảo ông cùng các bạn ra xa thả lưới bắt cá, tức hãy đi vào thế gian thu thập môn đệ cho Ngài. Chúng ta, những môn đệ Chúa cũng vậy, phải dùng lời nói và hành động hàng ngày chia sẻ đức tin cho tha nhân, để họ trở nên môn đệ Chúa.
Simon Phêrô nhận được ơn gọi khi đang hành nghề kiếm sống. Ông đáp trả thuận lợi bằng cách thay đổi cuộc sống, nếp suy nghĩ. Chúng ta thì sao? Là Kitô hữu, chúng ta cũng phải bày tỏ tiếng xin vâng của mình bằng cách lớn lên trong ơn nghĩa Chúa, từ bỏ tội lỗi, chấm dứt kiêu ngạo, ăn ở khiêm tốn. Chẳng có gì là hèn hạ trước mặt Chúa, ngoại trừ phản bội. Chẳng có chi là “cao sang, thứ nhất” trước mặt Chúa ngoại trừ lòng khiêm nhường. Cho nên những công việc hàng ngày chúng ta thực hiện với lòng khiêm cung chân thật đều mang giá trị trước mặt Thiên Chúa. Khi vâng theo thánh ý, có thể Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta đến nơi, đến việc chúng ta chẳng thể ngờ trước. Chúng ta sẽ ngạc nhiên nói rằng: “Tôi chẳng biết tại sao lại vướng mắc vào chuyện này… nhưng thế nào đi nữa vẫn hữu ích cho tôi.” Vì luôn có Chúa ở cùng tôi, tôi đang phục vụ Ngài. Và Ngài sẽ nói với tôi: “đừng sợ.” Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP (Vietcatholic News)

Điểm tựa

Nghệ thuật sống...
Ngày hôm đó, trong mấy đoàn người lên núi, chỉ mình anh là chống nạng và tất nhiên chỉ mình anh là người đi chậm nhất. Tôi chú ý đến anh không phải vì chiếc nạng hay vì một bên chân cụt đến quá nửa đùi, mà vì anh tỏ ra bình thản với chuyện “một mình giữa đám đông”.
Con đường đi lên núi khá dài và khá dốc nên có nhiều trạm nghỉ chân dành cho du khách vừa nghỉ ngơi vừa ngắm cảnh. Ở trạm dừng chân thứ ba, những giọt mồ hôi tuôn ra ướt đẫm lưng áo và tóc anh. Anh ngồi tựa vào chiếc ghế đá dưới gốc cây sứ trắng, thở dốc và ngắm biển. Cậu bé đi cùng anh nãy giờ đã bắt đầu thấy chán, đôi chân cứ hết duỗi ra lại gập vào, mắt thì ngóng theo bước nhảy tung tăng của lũ trẻ vô tư đang cố phóng hai bậc một để lên núi cho nhanh. Hiểu được điều này, anh đưa tay chạm khẽ vào vai cậu bé, cất giọng từ tốn:
- Em cứ lên núi trước đi, đừng đợi anh làm gì. Anh đi một mình được mà.
Cậu bé thật ra chỉ chờ có vậy, liền nhoẻn miệng cười sung sướng rồi nhanh chóng quay lưng nhảy luôn hai bậc một, quên cả câu chào. Mất người bạn đồng hành nhỏ tuổi, anh càng nổi bật nét “một mình” giữa đám đông thiên hạ. Nhiều ánh mắt nhìn anh ra vẻ thương hại. Quả thật với 800 bậc thang thấp kề nhau, người bình thường như tôi đi còn khá đuối, nói gì anh. Nhưng anh lại không ngại trước những khó khăn.
Thật là tuyệt khi người ta biết cách sống như vậy. Giữ vững sự bình thản bằng một phong thái đĩnh đạc, ngay cả lúc phải “đứng một mình”.
Trong cuộc sống, rõ ràng ai cũng có lúc phải “đứng một mình” với một núi ước mơ và công việc, nhưng để đứng cho thật vững vàng không phải là dễ. Đôi khi con người ta cứ thấy chông chênh vì trạng thái “một mình” ngơ ngác, rồi quay quắt kiếm tìm điểm tựa tận đâu đâu, quên mất điều quan trọng này: “Điểm tựa thật sự tồn tại ngay chính trong mỗi con người”.
CHUNG THANH HUY (Từ Internet & TUỔITRẺ Online)

Chúa Nhật 5 Thường Niên - 5th Sunday in Ordinary Time (Luke 5:1-11)

Bài Đọc I: Isaiah 6:1-8 II: 1Cor 15:1-11
Phúc Âm Luca 5:1-11
(1) Một hôm, đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe lời Thiên Chúa, mà Người thì đang đứng bên bờ hồ Ghennêxarét. (2) Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. (3) Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. (4) Giảng xong, Người bảo ông Simon: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá". (5) Ông Simon đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới". (6) Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. (7) Họ Làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. (8) Thấy vậy, ông Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!" (9) Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. (10) Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá. (11) Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.
Chi Tiết Hay
* Sử dụng từ "lời Thiên Chúa" ở đầu đoạn Tin Mừng cho thấy là việc Đức Giêsu gọi những người đánh cá và việc họ đáp lại lời gọi đều là những cơ hội để việc rao giảng Tin Mừng được hữu hiệu.
* Giữa hai chiếc thuyền đánh cá, Đức Giê-su chọn chiếc thuyền của ông Phê-rô. Việc đó ám chỉ ông sẽ lãnh đạo Hội Thánh sau này. Tuy nhiên các bạn của ông sẽ luôn luôn ở đằng sau ông để sẵn sàng hỗ trợ ông.
* Chiếc thuyền của ông Phêrô được coi như biểu tượng của Giáo Hội. Đức Giêsu xuống thuyền để giảng dạy dân chúng và từ chiếc thuyền của Phêrô, tức là Giáo Hội, Ngài vẫn còn đang tiếp tục giảng dạy cho toàn thể nhân loại.
* Trả lời Đức Giê-su, ông Si-mon đã chí lý nói lên những khó khăn khi không bắt được con cá nào. Đúng vậy, ban đêm là thơì gian tốt nhất để thả lưới mà còn chẳng bắt được con cá nào, thì ban ngày dù có tiếp tục cũng vô ích mà thôi.
* Mẻ cá lớn bắt được là hình ảnh rất nhiều dân tộc được nghe rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.
* Đổi cách xưng hô từ "Thưa Thầy" thành ra "Lạy Chúa" ông Phêrô đã nhận ra Đức Giêsu không phải chỉ là một rabbi thông thường.
* "Từ nay" là một thành ngữ thánh Lu-ca sử dụng để nói về sự khởi đầu của thời đại cứu rỗi.
Một Điểm Chính: Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta hãy cùng với Người đem sứ điệp cứu rỗi đến cho toàn thể nhân loại. Hành trang duy nhất chúng ta cần có khi đáp lại lời gọi của Người, đó là hãy đặt niềm tin vào Người.
Suy Niệm
1. Chúng ta sẽ đáp lại thế nào khi Chúa Giê-su đến chiếc thuyền của chúng ta và bảo chúng ta hãy thả lưới bắt cá?
2. Chúng ta có sẵn sàng bỏ lại mọi sự như các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an để thi hành những gì Chúa mời gọi chúng ta không?
3. Chúa Giê-su muốn hiểu như thế nào khi Người nói với ông Phê-rô "Đừng sợ"? Tại sao Người nói như thế? Chúng ta sợ điều gì?
--------------------------------------------------
5th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Is 6:1-8 II: 1Cor 15:1-11
Gospel Luke 5:1-11
(1) While the people pressed upon him to hear the word of God, he was standing by the lake of Gennes'aret. (2) And he saw two boats by the lake; but the fishermen had gone out of them and were washing their nets. (3) Getting into one of the boats, which was Simon's, he asked him to put out a little from the land. And he sat down and taught the people from the boat. (4) And when he had ceased speaking, he said to Simon, "Put out into the deep and let down your nets for a catch." (5) And Simon answered, "Master, we toiled all night and took nothing! But at your word I will let down the nets." (6) And when they had done this, they enclosed a great shoal of fish; and as their nets were breaking, (7) they beckoned to their partners in the other boat to come and help them. And they came and filled both the boats, so that they began to sink. (8) But when Simon Peter saw it, he fell down at Jesus' knees, saying, "Depart from me, for I am a sinful man, O Lord." (9) For he was astonished, and all that were with him, at the catch of fish which they had taken; (10) and so also were James and John, sons of Zeb'edee, who were partners with Simon. And Jesus said to Simon, "Do not be afraid; henceforth you will be catching men." (11) And when they had brought their boats to land, they left everything and followed him.
Interesting Details
* The "word of God", the introduction of this term at the beginning of the episode signals that the calling of the fishermen and their response is an occasion of the effective proclamation of the Good News.
* Of the two boats, Jesus selected Simon's, here the spotlight is on Simon Peter who would later lead the early Church, but his companions are always in the shadows, ready to help.
* Simon's boat is seen as a symbol of the pilgrim Church on earth. Jesus gets into the boat in order to teach the crowds and from the bark of Peter, the Church, He continues to teach the whole world.
* Simon's reply to Jesus, stating the difficulties of not catching anything, is a reasonable enough answer. For fishing was best at night, and if nothing had been caught by then, daytime fishing was useless.
* The vastness of the catch is a symbol of the nations to whom the gospel will be preached.
* Shifting from "Master" to "Lord", Peter realized that Jesus is more than a rabbi.
* "Henceforth" or "from now on" is a Lucan phrase denoting the beginning of a new period of salvation.
One Main Point: God's invitation to each of us to participate with him in bringing his message of salvation to all mankind. The only baggage needed in following his calling is to put our trust in him.
Reflections
1. How would we respond when Jesus chose to come on board our boat and instructed us to cast out our nets for a catch?
2. Would we be ready to give up everything like Peter, James and John to do what God's calling involved?
3. What did Jesus perceive when he said to Simon "do not be afraid," why did he say that? What could we be afraid of?