Saturday, February 03, 2007

Tại sao có ngày Valentine

Một ngày tràn đầy sự ngọt ngào của Socola sắp đến. Bạn đã chuẩn bị món quà gì cho nửa kia của mình chưa? Có rất nhiều, rất nhiều những bạn trẻ đang háo hức chờ đợi ngày ngọt ngào này nhưng cũng không biết có bao nhiêu bạn trẻ biết nguồn gốc của ngày Lễ tình yêu?
Ngày Valentine được bắt đầu từ thời kì đế chế La Mã. Dưới thời La Mã cổ đại, ngày 14 tháng 2 là ngày tưởng nhớ Juno. Juno là nữ hoàng của các nam thần và nữ thần La Mã. Người La Mã cũng coi bà là nữ thần cai quản phụ nữ và hôn nhân. Ngày tiếp theo của ngày 14 tháng 2, ngày 15 tháng 2 là ngày đầu tiên của lễ hội Lupercalia. Cuộc sống của các chàng trai và cô gái trẻ bị ngăn cấm vô cùng hà khắc. Tuy vậy, họ vẫn có thể đến với nhau thông qua phong tục rút thăm tên nhau.
Vào đêm hôm trước ngày hội Lupercalia, tên của những cô gái La Mã được viết lên một mảnh giấy nhỏ và được cho vào trong các bình đựng. Mỗi một chàng trai trẻ sẽ rút thăm một cái tên bất kì và sau đó chàng trở thành bạn của cô gái mà anh ta chọn trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Ðôi khi, việc kết đôi của đôi bạn trẻ kéo dài suốt cả một năm ròng và thông thường họ yêu nhau và sau đó thì cưới nhau.
Dưới sự trị vì của Hoàng đế Claudius đệ nhị, đế chế La Mã tham gia nhiều cuộc chinh phạt đẫm máu và không được người dân ủng hộ. Claudius bạo chúa gặp phải khó khăn khi động viên các chàng trai trẻ gia nhập vào đội chiến binh của ông ta. Claudius bạo chúa cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của mình. Bởi vậy, Claudius ra lệnh cấm tất cả các đám cưới hoặc lễ đính hôn ở thành La Mã. Thánh Valentine tốt bụng là một linh mục ở thành La Mã dưới thời Claudius đệ nhị.
Ông cùng thánh Marius đã giúp đỡ những người Cơ Ðốc giáo phải chịu cảnh đọa đầy và cho những cặp vợ chồng bí mật cưới nhau. Vì hành động nhân ái này mà Thánh đã bị bắt giam và bị kéo lê trước mặt tên thái thú thành La Mã. Hắn đã xử Thánh Valentine phải bị đánh bằng gậy đến chết và sau đó phải bị chặt đầu. Valentine phải chịu cuộc hành hình vào đúng ngày 14 tháng 2 vào khoảng năm 270 TCN. Vào thời gian này đang diễn ra một phong tục truyền thống của người dân thành La Mã, thực ra đó là một lễ hội rất cổ xưa được tổ chức vào tháng 2, lễ hội Lupercalia, lễ hội để nhớ đến một vị thần của người La Mã.
Vào dịp này, trong số rất nhiều các nghi lễ thì có một lễ rút thăm một cách ngẫu nhiên tên của các cô gái trẻ trong những chiếc bình như là một trò chơi may rủi của tình yêu. Các mục sư từ những nhà thờ Cơ Ðốc giáo ở La Mã đã cố gắng loại bỏ yếu tố ngoại đạo bằng cách thay thế bằng tên của các vị thánh cho những ngày hội của các thiếu nữ này. Bởi lễ hội Lupercalia bắt đầu vào giữa tháng 2, có vẻ như các mục sư đã chọn ngày Thánh Valentine làm ngày kỉ niệm cho lễ hội mới này. Như vậy, dường như phong tục các chàng trai trẻ chọn các thiếu nữ làm người yêu của mình (trong dịp Valentine) hay chọn cho mình các vị thánh bảo hộ cho năm tới cũng phát sinh từ đây.
... Và những quan niệm lạ
Cũng từ đó mọi người ở khắp các quốc gia trên thế giới có những quan niệm khác nhau trong ngày lễ thánh này. Vào ngày Valentine, nhiều trẻ em nước Anh đã mặc nhưng bộ quần áo giống như người lớn, chúng đi từ nhà này sang nhà khác và hát vang bài ca chào đón ngày Valentine. Ở xứ Wales, những chiếc muỗng bằng gỗ được khắc chạm là những món quà được ưa thích tặng cho nhau trong ngày 14/2. Trái tim, chìa khoá và những lỗ khoá là những hình được ưa thích để trang trí trên chiếc muỗng. Sự trang trí này có ý nghĩa "bạn khoá chặt trái tim tôi".
Còn ở một số nước như Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha... những người trẻ tuổi vẽ tên vào những cái bát để nhìn xem ai sẽ là người yêu của họ. Họ sẽ mang những cái tên này trên tay áo khoảng một tuần. Còn bây giờ nếu bạn mang hình trái tim trên tay áo điều có có nghĩa là thật dễ dàng cho những người khác biết được tâm tư của bạn.
Ở một số nước khác lại quan niệm rằng, một cô gái nhận được món quà là quần áo từ một chàng trai, nếu cô gái giữ lại món quà đó có nghĩa rằng cô sẽ cưới anh ta làm chồng.
Một số người đã từng tin tưởng rằng, nếu một cô gái nào nhìn thấy một con chim chào mào cổ đỏ bay ngang trên đầu vào ngày Valentine, điều đó có nghĩa là sau này cô gái ấy sẽ lấy một người chồng làm thuỷ thủ. Nếu nhìn thấy một con chim sẻ, cô gái ấy sẽ lấy một người chồng nghèo nhưng sống rất hạnh phúc. Còn nếu nhìn thấy một con chim sẻ cánh vàng, cô gái sẽ là vợ của một triệu phú. Khi một cô gái được đề nghị kết hôn, nếu cô ta là một người hiếu kỳ và can đảm thì cô ấy sẽ hoá trang và đi đến nghĩa địa vào lúc nửa đêm trong ngày Valentine và chạy xung quanh nhà thờ 12 lần.
Nếu bạn bổ đôi một quả táo và đếm xem có bao nhiêu hạt bên trong thì bạn sẽ biết được rằng sau này mình sẽ có bao nhiêu đứa con...

Friday, February 02, 2007

Sự tích ý nghĩa ngày 02.02.

A. Lịch sử
Ngày này trong Hội thánh công giáo là ngày lễ mừng, vẫn quen gọi là lễ Nến hay lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thờ. Tại sao lại có lễ này và gọi như vậy?
Theo luật Maisen trong kinh thánh cựu ước ( Xh 13,11-16; Lv 12,1-8; Is 88,14f;42,6) ghi chép:
1. Trẻ em sơ sinh trong thời han luật định phải mang đến đền thờ dâng hiến cho Thiên Chúa.
2. Một người phụ nữ sau khi sinh con được 40 ngày phải mang vào đền thờ Thiên Chúa lễ vật, để được thanh tẩy. Vì thời đó người ta hiểu là sau khi sinh con, người phụ nữ không còn được thanh sạch. Thanh sạch về thể xác hay tâm hồn? Trong sách luật không nói rõ.
3. Người con đầu lòng là tài sản của Thiên Chúa. Vì thế có tục lệ dâng con và lễ vật cho Thiên Chúa để chuộc. Sau khi hạ sinh Chúa Giêsu được 40 ngày Đức Mẹ và Thánh Giuse cũng làm theo luật đã ghi chép trong đạo thời đó. Nhưng lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thánh theo luật định lại trở nên cuộc gặp gỡ : Hai người đạo đức Ong gìa Simeon và Bà Hanna được hạnh phúc bồng bế haì nhi Giêsu trên tay mình. Qua cuộc gặp gỡ này họ đã nhận ra hài nhi Giêsu là “ ánh sáng cho mọi dân tộc“ ( Lc 2,22-40).
Bên Hội thánh Đông phương lễ này gọi là Lễ gặp Đấng Cứu Thế: Chúa Giêsu, vị Cứu thế vào đền thờ và gặp hai vị đại diện cho thời đạo cũ: Simeon và Hanna. Tục lệ này trở thành lễ mừng kính trong hội thánh bên Giêrusalem từ đầu thế kỷ thứ tư : 40 ngày sau khi Đức Mẹ hạ sinh Chúa Giêsu.
Bên Hội thánh tây phương lễ này là lễ kính Đức Mẹ: Đức Mẹ Maria cũng như bao người phụ nữ khác, sau khi sinh hạ con, mang lễ vật vào đền thờ, để được thanh tẩy như luật định. Bên Roma mừng kính ngày lễ này cũng vào thế kỷ thứ tư trong các thánh đường. Sau này, vào ngày lễ này nến được làm phép và mọi người rước nến cháy sáng trong nhà thờ . Vì thế lễ có tên là Lễ Nến.
Từ năm 1969 lễ ngày mùng Hai tháng Hai không còn thuần ý nghĩa lễ dành kính Đức Mẹ Maria, nhưng được đổi thành lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thờ, 40 ngày sau khi Chúa mở mắt chào đời trong hang đá Belem.
Nếu lễ Chúa giáng sinh được mừng kính ngày 25. 12., ngày lễ dâng Chúa vào đền thờ, sẽ là ngày 02 tháng hai. Nếu lễ giáng sinh được mừng kính vào ngày 06.01., ngày lễ dâng Chúa vào đền thờ sẽ vào ngày 14. tháng Hai.
B. Ý nghĩa ngày lễ mừng.
Tục lệ đạo đức lễ Nến ăn sâu trong cuộc sống người tín hữu. Ỡ nhiều nơi, giáo dân tín hữu mang nến đến nhà thờ để được làm phép trong ngày này. Họ mang nến đã làm phép về thắp lên mỗi khi đọc kinh gia đình, khấn nguyện khi có người ốm đau hoặc trẩy đi xa, trong những dịp vui mừng cưới hỏi hay tang chế.
Lễ mừng này nói lên ý nghĩa cuộc gặp gỡ:
Chúa Giêsu con Thiên Chúa được đưa vào đền thờ, một biểu hiêu trong công trình thiên nhiên. Ngài đi vào thiên nhiên gặp gỡ đời sống con người: tôn giáo và đời sông gặp gỡ nhau.
Vì thế, sau này trong bước đường rao giảng nước Thiên Chúa, Ngài hay dùng những thí dụ cụ thể trong đời sống để cắt nghĩa về nước đó: ơn kêu gọi là con Thiên Chúa và nước Thiên Chúa là quê hưong của mọi người.
Hai thế hệ con người gặp gỡ nhau. Gìa trẻ gặp gỡ nhau. Hai vị trưởng lão Simeon và Hanna gặp gỡ trẻ Giêsu. Cuộc gặp gỡ tình người này là cuộc trao đổi. Thế hệ lớn tuổi trao lại cho thế hệ trẻ kinh nghiệm sống đã thu lượm được, những gía trị đời sống, niềm hy vọng cùng lời chúc lành mong chờ trông đợi của mình. Thế hệ trẻ đón nhận những trối trăn của lớp trưởng thượng trao lại.
Thế hệ lớn tuổi qua lời ông Simeon: Giờ đây lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an. Vì mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu chuộc cho muôn dân“, biểu lộ lối sống biết nhận lãnh và cũng sẵn sàng cho đi trối lại.
Cung cách chuyển giao này gây niềm phấn khởi cho thế trẻ đang lên sẵn sàng nhận lãnh lời trối trăn như bảo vật làm nền tảng cho tương lai đời sống cùng niềm tin đạo giáo.
Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng từ trời cao, được đưa vào đền thờ như lời mời gọi mọi người cùng đến gặp gỡ nhau trong tình khoan dung tha thứ cho nhau và mang đến cho nhau niềm hy vọng.
Lễ dâng Chúa vào đền thờ ngày mùng hai tháng hai hằng năm như lời mời gọi mỗi người đón nhận Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng cho tâm hồn mình. Anh sáng Chúa Giêsu chiếu soi vào đền thờ tâm hồn con người và mang đến niềm vui cùng sự an ủi trong những giờ phút đen tối của cuộc đời.
Lm. Nguyễn ngọc Long (SỐNGĐỨCTIN De)

ĐƯỜNG NÀO TA ĐANG ĐI?

Những ngày cuối năm, người ta thường sửa sang, dọn dẹp con đường trước nhà mình, sao cho sạch đẹp. Đó là con đường địa lý, con đường vật chất, con đường hữu hình.
Còn có một con đường khác thuộc về tâm hồn, ẩn khuất trong cõi vô hình. Nó càng cần được ta xem lại, sửa sang lại. Bởi vì chính con đường đó sẽ đón ơn Chúa ngày đầu Xuân.
Có nhiều cách dọn dẹp con đường thiêng liêng đó. Như cầu nguyện, tĩnh tâm, sám hối, làm việc từ thiện, thực thi các việc hiếu thảo, tình nghĩa trong các tương quan mà mình có bổn phận.
Ở đây, tôi xin nhắc đến một việc thiết tưởng rất nên làm. Đó là nhân dịp cuối năm, ta hãy nhìn kỹ xem: Đời ta đang đi trên con đường nào?
Trên thực tế, có nhiều con đường đang thu hút các cuộc đời. Còn chúng ta, những người sống Lời Chúa phải đi con đường nào?
Thưa: Con đường Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu là đường
Chúa Giêsu khẳng định: "Chính Thầy là con đường, là sự thực và là sự sống" (Ga 14,6).
Đặc tính của con đường Chúa Giêsu là:
- Vâng phục thực thi thánh ý Chúa Cha một cách khiêm nhường.
- Yêu thương phục vụ nhân loại một cách khiêm nhường.
Khiêm nhường nói đây là chấp nhận nhiều thứ khổ đau suốt đời, để minh chứng cho tình yêu cứu độ dẫn tới phục sinh.
Chúa Giêsu đã báo trước về chính Người: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Lc 9,22).
Lời Chúa Giêsu nói trên đây về chính mình chỉ là một chi tiết về cuộc đời của Người. Còn toàn thể cuộc đời ấy là một chuỗi dài những hy sinh cao cả.
Hãy liếc qua chuỗi dài yêu thương phục vụ trọn đời Người. Từ hang đá Belem nghèo khổ, cuộc đi trốn âm thầm sang Ai Cập, 30 năm lam lũ ở Nagiarét, 3 năm đi rao giảng với bao cực nhọc, sau cùng đến Núi Sọ, để bị treo lên thập giá một cách nhục nhã. Tất cả đều vì vâng phục ý Chúa Cha. Tất cả đều để minh chứng Thiên Chúa là Tình Yêu. Tất cả đều để cứu rỗi nhân loại.
Cuộc đời đó của Chúa Cứu thế chính là con đường, mà Người dạy các môn đệ Người hãy bước vào, hãy cùng đi.Chúa Giêsu phán: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy."
Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy."
Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì" (Lc 9,23-25).
Các tông đồ đi theo con đường Chúa Giêsu
Những đòi hỏi trên đây rất rõ ràng. Các môn đệ Chúa đã đi vào con đường đó không? Thưa các ngài đã đi đến tận cùng. Chúng ta có thể nhìn thấy cuộc hành trình yêu thương phục vụ của các ngài qua bài ca bác ái dưới đây của thánh Phaolô tông đồ:
"Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
...Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." (1Cr 13,4-13)
Các tông đồ của Chúa Giêsu xưa đã đi trên con đường yêu thương phục vụ của Chúa Giêsu như thế đó.
Hội Thánh mọi thời đi theo con đường Chúa Giêsu
Còn sau thời các tông đồ thì sao?
Thưa, tuy nhiều nơi lòng đạo ngả mạnh về phía đền thờ hơn về phía con người. Nhưng nói chung, các tín hữu vẫn cố gắng sống tinh thần yêu thương phục vụ một cách tin tưởng, theo kinh Tám mối phúc Chúa đã dạy:
"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3-10)
Trên đây là những nét lớn của con đường Chúa Giêsu, mà ngày đầu Xuân hay nhắc tới.
Hiện nay, nhiều người vẫn trung thành với nội dung của con đường đó. Đang khi nhiều người chỉ theo con đường đó một cách hình thức.
Tại Việt Nam hôm nay, còn người công giáo tại Việt Nam hôm nay thì sao?
Mong mỗi người hãy tự xét mình xem: Lúc này mình đang thực sự đi trên con đường nào?
Tôi thấy các phong trào văn minh đủ thứ đang phân hoá đồng bào. Bên cạnh một số người còn giữ được tâm lý quân bình, tôi thấy đang xuất hiện ba loại người sau đây:
Loại người rất gắn bó với quá khứ, nghi ngờ hiện tại và tương lai.
Loại người sống hết mình với hiện tại, dứt lìa quá khứ, bất cần tương lai.
Loại người sống như ảo tưởng với tương lai đầy hứa hẹn, quên hẳn quá khứ, hững hờ với hiện tại.
Nếu trong Hội Thánh cũng như thế, thì quả là đáng buồn. Bởi vì Con Đường Chúa Giêsu phải được liên tục từ quá khứ, với hiện tại và hướng về tương lai. Tất cả đều mang dấu ấn yêu thương phục vụ một cách khiêm nhường.
Mong dấu ấn ấy được toả sáng từ chính bản thân người môn đệ Chúa.
Mẩu tin vắn sau đây là một chứng từ thuyết phục:
Sau sự kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Toà ThánhVatican, tôi được may mắn gặp Thủ Tướng qua điện đàm trực tiếp. Trong cuộc điện đàm, tôi được biết: Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã để lại nơi Thủ Tướng một cảm tình thiêng liêng tốt đẹp, do con người của Đức Giáo Hoàng toát ra một vẻ đẹp đạo đức, nhã nhặn, hiền từ, chân tu, cao thượng.
Tôi coi đây là một chứng từ rất đáng suy nghĩ về con đường Chúa Giêsu. Đức Giáo Hoàng đã giới thiệu con đường đó bằng thái độ, cách sống của Ngài hơn là bằng lý thuyết.Còn chúng ta thì sao?
+GM JB Bùi Tuần (Vietcatholic News)

Thursday, February 01, 2007

Đi tìm hạnh phúc

Có ai đó từng nói rằng bí mật của hạnh phúc là có một ai đó để yêu, một việc gì đó để làm và có một điều gì đó để mong chờ. Điều này có đúng không khi bạn không có một người bạn đời/một người tình chung thủy, chẳng phải là một công việc có thu nhập cao hay những chuyến du ngoạn tận hưởng cuộc sống thú vị…?
Vẫn rất đúng đấy bạn ạ bởi một ai đó để yêu có thể là một người bạn, một người thân, một vật nuôi dễ thương; một việc gì đó để làm và điều gì đó để mong chờ có thể chỉ là một công việc hay một điều bất kỳ mà bạn thấy thú vị.
Tuy nhiên, ngay cả khi có nắm trong tay 3 ước ao đó thì đôi lúc bạn vẫn thấy mình kém hạnh phúc bởi xúc cảm của chúng ta luôn bị chi phối bởi yếu tố di truyền, những chuyện vụn vặt xảy ra trong sinh hoạt, lao động hằng ngày và trên tất cả là sự trải nghiệm.
Dưới con mắt nhà khoa học, người có tính cách vui vẻ đơn giản là vì họ có hàm lượng hợp chất endorphin (một loại hormon) và neurotransmitters dopamine và serotonin cao hơn những người khác. Não bộ thường chỉ tiết ra các chất này khi chúng ta cảm thấy tự tin, yêu chính mình hoặc gặp một chuyện vui vẻ nào đó.
Không ai dám chắc rằng mình không bao giờ suy nghĩ tiêu cực nhưng hãy luôn nhớ rằng khi bạn phải “lựa chọn” hoặc “cho phép” bản thân suy nghĩ tiêu cực hơn là tích cực, hãy giữ lại cho mình niềm tin yêu cuộc sống.
Nghĩ tới những yếu tố tích cực
- Thư giãn
- Biết bộc lộ cảm xúc
- Biết lượng sức và đề ra những mục tiêu có thể đạt được
- Dành thời gian cho những sở thích
- Một chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh
- Chơi thể thao hay luyện tập một môn nào đó
- Làm những việc phù hợp với năng lực và ý thích
- Cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi
- Dành thời gian cho bản thân, làm những việc mà bạn quan tâm
- Dành thời gian cho bạn bè và gia đình
Nên tránh
- Thường xuyên stress
- Cảm giác bực tức hay thất vọng
- Đòi hỏi bản thân quá nhiều
- Những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực
Đây không phải là công thức tạo nên hạnh phúc nhưng chắc chắn đó là những thành phần cơ bản làm nên hạnh phúc.
Quý trọng bản thân
Một trong những yếu tố quan trọng để làm nên hạnh phúc là yêu chính mình. Có rất nhiều quan điểm khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất rằng yêu quý chính mình tức là luôn đánh giá đúng bản thân và xác định được sở trường của mình. Ngoài ra là thái độ tích cực, tự tin vào khả năng của bản thân và thấy mình có ích cũng như làm chủ được cuộc sống.
Hạnh phúc và tình yêu đối với bản thân luôn tỉ lệ thuận với nhau. Khi không thiết tha, chăm chút chính mình cũng có nghĩa rằng bạn đang chán nản, thấy mình bất lực và lòng tràn ngập nỗi thất vọng.
Tình yêu đối với bản thân không phải tự dưng mà có, đó là cả một quá trình từ khi thơ ấu cho tới lúc trưởng thành và nó tác động tới mọi quyết định của chúng ta.
Nỗi cô đơn, sự thất vọng và những thất bại luôn là một phần của cuộc sống và không phải bao giờ mọi nỗ lực của chúng ta cũng mang lại thành công nhưng khi luôn tin vào chính mình, chẳng có khó khăn, trở ngại nào là không thể vượt qua.
Nhân Hà, (Theo BBC - DÂNTRÍ)

LỜI SỐNG Tháng Hai 2007

Chúa phán như sau:
Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời,
lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa,
và lòng dạ xa rời Chúa!
Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa
chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ,
hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra,
nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy,
trong vùng đất mặn không một bóng người.
Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa,
và có chúa làm chỗ nương thân.
Người ấy như cây trồng bên dòng nước,
đâm rễ sâu vào mạch suối trong,
mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì,
lá trên cành vẫn cứ xanh tươi,
gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại gì,
và không ngừng trổ sinh hoa trái. (Geremia 17:5-8)

“Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Thiên Chúa” (Geremia 17:7)
Đây là cách thế thông minh nhất để sống: đó là đặt cuộc sống mình trong tay Đấng đã ban cho ta. Bất luận điều gì xẩy ra, chúng ta đều có thể nhắm mắt phó thác nơi Người: vì Người là Tình thương và muốn điều tốt cho ta.
Khi công bố “phúc lành” này ngôn sứ Geremia gợi lại một hình ảnh được quý chuộng trong truyền thống Kinh thánh: đó là một cây trồng bên bờ suối đầy nước. Nó không sợ mùa nóng: rễ cây được nuôi dưỡng tốt, lá lúc nào cũng xanh tươi và cây mang nhiều trái.
Trái lại, người đặt niềm hi vọng của mình ngoài Thiên Chúa – có thể là nơi quyền bính, giầu sang, nơi bạn hữu quyền thế - được sánh với bụi cây trên đất khô cằn, nước mặn, nó khó lớn và không có trái.

“Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Thiên Chúa”
Người ta đến với Thiên Chúa khi ở trong tình trạng cùng cực, thất vọng: một căn bệnh không chữa được, một món nợ không trả nổi, một nguy hiểm gần kề cho cuộc sống... Nhất định là như vậy. Chúng ta biết rằng điều con người bó tay thì Thiên Chúa có thể làm được. Nhưng nếu Người làm được mọi sự (Xem Mt 19:26), thì sao không chạy đến Người mọi lúc trong cuộc sống?
Lời sống mời gọi ta đi đến một mối thông hiệp liên tục với Thiên Chúa, ngoài những điều ta phải xin, bởi vì ta luôn cần đến sự trợ giúp của Người. Ai có được với Thiên Chúa một mối liên hệ tin tưởng và phó thác nẩy sinh từ niềm tin vào tình thương của Người, thì người ấy được “chúc phúc” hay đã tìm được niềm vui cùng sự sống tràn đầy.
Người là Thiên Chúa gần gũi, Đấng thân thiết với ta hơn chính ta, Đấng cùng đi với ta và biết mọi tiếng đập của con tim ta. Với Người chúng ta có thể chia sẻ niềm vui, nỗi đau đớn, những bận tâm, những dự định... Chúng ta không một mình, cả trong những giây phút đen tối cùng khó khăn nhất. Nơi Người chúng ta có thể phó thác trọn vẹn. Người sẽ không bao giờ lừa gạt ta.

“Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Thiên Chúa”
Một cách thế đặc biệt để nói lên niềm phó thác này có thể là “làm việc tay đôi”.
Nhiều khi có những ý nghĩ nặng nề tấn công, vì những cảnh huống hoặc những người ta không thể trực tiếp săn sóc, đến độ ta khó mà chu toàn điều ý Chúa muốn nơi ta trong giây phút đó. Chúng ta muốn ở gần người thân yêu đang đau khổ, đang trong cơn thử thách, đang bị bệnh. Chúng ta muốn có thể giải quyết được tình trạng rối rắm đó, đến giúp những dân đang sống trong chiến tranh, những người tị nạn, những người đói khổ...
Chúng ta cảm thấy mình bất lực! Đó chính là giây phút phó thác nơi Thiên Chúa, giây phút có thể đạt đến chỗ anh hùng: “Con không thể làm gì được cho người đó, trong trường hợp đó... Tuy nhiên con sẽ làm điều Chúa muốn nơi con trong giây phút này: học hành tốt, làm việc tốt, cầu nguyện tốt, săn sóc tốt cho con cái... chắc chắn rằng Chúa sẽ lo gỡ rối, an ủi người đang đau khổ, giải quyết vấn đề”.
Đó là một việc làm tay đôi trong mối hiệp thông trọn vẹn, nó đòi nơi chúng ta niềm tin lớn lao vào tình thương của Thiên Chúa đối với con cái Người, và qua lối hành sử của ta, nó đặt chính Thiên Chúa vào chỗ có thể tin tưởng nơi chúng ta
Thái độ tin tưởng lẫn nhau này làm được những phép lạ.
Ta sẽ thấy rằng ở đâu chúng ta không tới được, thì thực sự một Đấng khác đã đến, Người làm tốt đẹp hơn chúng ta vô vàn.
“Hành động phó thác anh hùng sẽ được Chúa thưởng; cuộc sống của ta, bị giới hạn vào một lãnh vực duy nhất, sẽ có được một chiều kích mới; chúng ta sẽ cảm thấy mình liên lạc được với Đấng vô cùng. ...Cũng bởi vì đã nghiệm được, nên thực tại chúng ta thực sự là con cái của Thiên Chúa là Cha, Đấng làm được mọi sự, sẽ nên hiển nhiên hơn.” (Chiara Lubich, Scritti spirituali/2, Roma 1997, p.194-195)

“Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Thiên Chúa”
“Điện thoại reo - chị Rina kể rằng tuổi cao đã bó buộc chị sống cấm cung trong nhà. Đó là một bà cụ già như tôi, từ lâu tôi thường gởi Lời sống cho bà. Người em của bà đang hấp hối và bà không biết phải làm gì. Lúc đó đang trong mùa hè và khó mà tìm được người có thể theo dõi ông, hơn nữa trong những năm gần đây ông đã nên người vô gia cư... Tôi nhận lấy cho mình nỗi đau đớn của bà bạn tôi và cùng với bà tôi cảm thấy bất lực như bà. Tôi có thể làm gì, đang khi sống xa xôi, bất động trong chiếc ghế này? Tôi muốn nói với bà ít là những lời an ủi, nhưng chúng không đến, cả việc đó tôi cũng không làm được. Tôi chỉ còn cách là đảm bảo sẽ nhớ đến bà. Nhưng còn lời cầu nguyện nữa.
Ban tối, khi những người bạn của tôi đi làm về, chúng tôi cùng nhau phó thác cho Chúa tình cảnh này và đặt nơi Người những sợ hãi cùng bất an.
Ban đêm tôi thức dậy và lại nhìn thấy con người vô gia cư ấy một mình, đang hấp hối. Tôi ngủ lại và lại thức dậy. Bây giờ mỗi lần tôi đều chạy đến với Chúa Cha: ‘Ông ta là con Chúa, Chúa không thể bỏ rơi ông. Xin Chúa lo cho ông’.
Mấy ngày sau, một cú điện thoại của bà bạn cho biết rằng, sau khi nói chuyện với tôi hôm đó, bà đã cảm thấy niềm an bình lớn lao. ‘Chị có biết chúng tôi đã đưa được em tôi vào nhà thương không? Họ đã giúp đỡ em tôi, làm cho bớt đau. Em tôi đã được đau khổ thanh luyện, đã sẵn sàng. Em tôi chết bình thản, sau khi đã nhận mình thánh Chúa’.
Trong tâm hồn tôi một niềm cảm tạ và phó thác hơn nơi Chúa.”
Lm Fabio Ciardi và Gabriella Fallacara.

Wednesday, January 31, 2007

Tôn Giáo Thời WTO

Sau hơn nửa thế kỷ không có bang giao và 30 năm tương quan hết sức dè dặt, nhân vật số 3 của CS Hà Nội Hà nội, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, nhơn chuyến đi họp về kinh tế ở Genève, đến Vatican chánh thức viếng Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo La Mã. Tòa Thánh Vatican trên phương diện ngoại giao là một quốc gia với lãnh thổ nhỏ bé. VN trên phương diện tôn giáo là một nước có giáo dân Công giáo đông đảo ở Á châu. Chế độ CS Hà nội mới vừa " bung ra" được vào WTO, Tổ chức Tự do Thương mại thế giới, thành viên thứ 150.
Cũng như tin Thủ Tướng Việt Công Phan văn Khải, một đảng viên CS cao cấp nhứt, một nhân vật cầm quyền cao cấp nhứt đến thăm TT Bush của Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới để vận động WTO. Tin Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn tấn Dũng lần đầu tiên đến thăm vị lãnh đạo tinh thần của Giáo Hội Công Giáo La Mã có tính hoàn vũ trở thành tin rất nóng.
Phải chăng đó là triệu chứng Vatican và Hà nội sẽ bang giao và Hà nội nới rộng tự do tôn giáo cho Công Giáo La Mã có tính toàn cầu ở VN trong thời đại WTO kinh tế toàn cầu?
Thực ra việc Vatican và Hà nội thiết lập bang giao cũng không có gì mới lạ. Hai bên đã làm trước khi CS Hà nội " bung ra" vào WTO. Từ rất lâu Vatican muốn bang giao với hai chế độ CS ở Á châu, Bắc Kinh và Hà nội. Vatican và Hà nội đã "đi lại" với nhau qua nhiều đường lối, nhiều chức sắc, nhiều viếng thăm của các giới chức; hai bên gần như đã phá được tảng băng ngăn trở bang giao giữa hai chế độ hữu thần và vô thần rồi. Nhà cầm quyền CS Hà nội đã nới tay, "ưu đải" (chữ dùng của đài Á Châu Tư do của Mỹ) Công Giáo La Mã ở VN khá nhiều rồi so với các tôn giáo khác ở VN. Truyền thông đại chúng quốc tế độc lập hơn một lần đã nhận định và không ngần ngại nói trắng ra như thế.
Tuy nhiên tiến trình bang giao mà Vatican thực hiện đối với Hà nội coi vậy chớ còn chậm hơn với Cuba CS, Đức Giáo Hoàng còn đến thủ đô của Ong Trùm CS tây bán cầu nữa kia. Nên trong tương lai gần không có gì phải ngạc nhiên khi thấy một ngày nào đó, Đức Giáo Hoàng đến thăm Hà nội dù bây giờ trả lời phỏng vấn của Đài Á châu Tư do, "bà phụ tá phát ngôn Tòa thánh Christina Vendera nói rằng bà rất tiếc vì bà không được biết gì về chuyện này", chuyện liệu Thủ Tướng VC có mởi Giáo Hoàng viếng VNCS hay không.
Phản ứng của người Việt theo đạo Công Giáo La Mã, chức sắc lẫn giáo dân trong cũng như ngoài nước, nói chung là mừng. Kể cả những những chức sắc Công giáo và giáo dân Công Giáo VN từng thiết tha đòi hỏi tư do tôn giáo cũng chỉ gởi thỉnh nguyện Đức Giáo Hoàng xin "Tòa Thánh chỉ bang giao cùng Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam với một trong các mục đích chính yếu là tạo áp lực để đảng Cộng sản phải từ bỏ độc tài toàn trị và trả lại mọi Nhân quyền và Dân quyền cơ bản cho các Giáo hội và các Công dân". Và mong ước Đức Giáo Hoàng nói với Thủ Tướng VC "về nhu cầu cấp thiết của toàn thể dân tộc Việt Nam là được sống đúng phẩm giá con người trong lúc Việt Nam hội nhập cùng thế giới nhân loại văn minh."
Tiêu biểu có Đức Giám Mục Mai Thanh Lương ở Mỹ phát biểu trên RFA, cũng thấy "đây là cơ hội tốt, là dịp để Việt Nam đối thoại với toà Thánh, và cuộc gặp gỡ này có khả năng mở đường cho các đối thoại tương tự trong tương lai". Theo Vị Giám Mục gốc Việt ở Mỹ này, "chính quyền Hà Nội cần có rất nhiều cải tổ, một trong những điều căn bản nhất trả lại các cơ sở tôn giáo mà nhà nước đã tịch thu, để những nơi này lại được dùng để phục vụ cho nhu cầu phụng vụ giáo dân". Đức Hồng Công Giáo La Mã ở trong nước là Ngài Phạm minh Mẩn cũng tỏ ra vui mừng như nhiều giáo dân trong ngoài nước đã phát biểu với đài RFA.
Đặc biệt cho đến bây giờ chưa có ai ngoài Công Giáo La mã lên tiếng về vụ này. Sư im lặng này có thể hàm những ý sau. Một, các tôn giáo khác dù không được nhà cầm quyền CS Hà nội " ưu đãi" như Công Giáo La mã, nhưng vẫn mừng thầm cho tôn giáo bạn. Được một đạo, mừng cho một đạo, tốt thôi. Hai, các tôn giáo ngoài Công Giáo ở VN đã nhiều kinh nghiệm CS, không để lọt kế CS muốn chia để trị. Không phải lần đầu CS Hà nội dùng hình thức phân biệt đối xử đối với tôn giáo để khích động tị hềm, suy bì, hiềm khích, cống đối nhau. Rất nhiều linh mục, chức sắc Công Giáo đi Mỹ, mà có bao bao nhiêu hòa thượng Phật Giáo thuần túy được đâu. Ba, tuy Phật Giáo là tôn giáo nhiều người Việt theo nhiều lần hon đối với Công Giáo La Mã, nhưng Phật Giáo vốn vô vi, không lập cơ cấu tổ chức như một quốc gia với lãnh thổ riêng, guồng máy cai trị đủ ban bộ nha, cục vụ viện như chánh phủ một nước, không có hệ thống giáo quyền, trung ương tập quyền về Tòa Thánh La Mã với đẳng cấp, chức phận cứng rắng như hệ thông văn giai và quân giai. Nên Phật Giáo không xây dựng ảnh hưởng tinh thần đối với các quốc gia như Ky tô giáo đối với các nước Tây Phương đa số là siêu cường thế giới. Đạo Tin Lành ở VN tuy gần gũi với Mỹ, nhưng tín hữu không nhiều. Tin Lành ở Mỹ lại nhiều chi nhánh, không tập quyền, không có tư cách quốc gia riêng, không có thế ngoại giao chính thức như Công Giáo La Mã. Còn Cao Đài, Hòa Hảo là đạo dân tộc Việt lại càng ít thế quốc tế hơn. Nên cả bốn đạo này ở VN dù bị CS bách hại rất nặng, tiếng kêu cũng không đánh động mạnh chánh quyền các nước như Công Giáo La Mã. Năm, CS Hà nội vốn coi dân Việt, đạo Việt không ra gì, mà chỉ sợ Mỹ, sợ Liên Au trong thời đại WTO, tư do kinh tế. Nên CS Hà nội phải nới tay với Công Giáo La mã có tính toàn cầu trong thời kinh tế toàn cầu.
Sau cùng, nhưng CS Hà nội sẽ bị phản tác dụng. Những ưu đãi của CS Hà nội đối với Công Giáo La mã sẽ tạo thêm điều kiện và chánh nghĩa cho phong trào đấu tranh cho tự do, tôn giáo, và tự do dân chủ nhân quyền. Nhơn danh bình đăng tôn giáo, các tôn giáo khác và những nhà đấu tranh dân sự trong nước có thể dùng những ưu đãi đó để đòi hỏi CS Hà nội phải được đối xử đồng đều. Nếu CS Hà nội trả lại tài sản của Công Giáo thì phải trả lại tài sản của Tin Lành, Phật Giáo, Cao Đài, và Hòa Hảo. Nếu CS cho Công Giáo đào tạo và bổ nhiệm chức sắc, thì CS Hà nội cũng phải để các tôn giáo khác làm như thế. Nếu không CS Hà nội sẽ bị lên án là phân biệt đối xử, kỳ thị tôn giáo. Nếu thế CS Hà nội đã tạo thêm sức mạnh đấu tranh cho tư do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền VN.
(Việt Báo Thứ Bảy, 1/27/2007)
Vi Anh (Vietcatholic News)

Tuesday, January 30, 2007

Tìm Chúa trong đời thường

Lc 4:21-30 / CN 4TN-C
Anton-Phaolo, SJ
Ca dao tục ngữ có câu: “Một người làm quan, cả họ được nhờ!” hoặc “Một giọt máu đào hơn ao nước lã!” để nói lên cách cư xử ưu đãi trong mối liên hệ thâm tình. Thế nhưng bài tin mừng hôm nay lại cho chúng ta một câu chuyện bất ngờ.
Câu chuyện năm xưa bắt đầu thế này.
Một buổi sáng ngày Sa-bát, cả làng Na-za-rét xôn xao. Có một thầy giảng nổi tiếng được mời đến nói chuyện trong hội đường của làng. Người ta đồn rằng ông thầy này đã đi nhiều nơi, làm nhiều phép lạ trong khắp vùng Ga-li-lê. Hôm nay ông dừng chân ở Na-za-rét , không chừng dân làng cũng được nhờ vả gì chăng? Mọi người háo hức lục tục kéo đến hội đường để xem mặt vị khách đó.
Sau phần đọc Sách Thánh, người đàn ông trên bục giảng dõng dạc lên tiếng. “Hôm nay mọi điều anh em nghe được ứng nghiệm.” Ông bắt đầu giảng giải về những điều ngôn sứ I-sai-ya vừa nói. Cả hội đường im phăng phắc say sưa nghe vị khách chia sẻ lời Chúa. Ông nói chậm rãi, rõ ràng và có hồn, chứ không lải nhải như nhiều người thuyết giảng khác.
Dân làng kháo nhau: “Đây không phải là con ông Giu-se sao?” “Ôi chao, mới đi có mấy tháng mà nhận không ra nữa!” “Làng ta có một vị ngôn sứ, thật hãnh diện ghê!” Có những tiếng gọi í ới: “Này, một người làm quan, cả họ được nhờ… Nghe nói ở Ca-pha-na-hum, ông chữa lành người bại liệt, … trừ được cả quỷ nữa… Những gì ông đã làm ở chỗ khác, hãy làm ở đây xem. Thử chữa vài người cho chúng tôi xem nào!” Nếu người dưng nước lã mà được nhờ, thì chắc dân làng còn phải được hưởng gấp bội… Một giọt máu đào, hơn ao nước lã kia mà!
Đức Giê-su nhìn quanh và thở dài. Những khuôn mặt quen thuộc của bà con lối xóm. Nhưng hình như họ không còn nhận ra người nữa. Những lời ngài giảng dạy về Nước Thiên Chúa, họ bỏ ngoài tai. Họ chỉ say sưa đi tìm dấu lạ. Đức Giê-su biết rõ họ. Những người này chẳng quan tâm đến những điều ngài nói, họ chỉ cần biết xem ngài có đem lại những điều phi thường cho Na-za-rét hay không. Họ chưa tin ngài là ngôn sứ của Thiên Chúa. Họ muốn ngài chứng minh thân phận của mình. Họ muốn thấy tận mắt chứ không chỉ nghe nói thôi. Tiếc thay, ngài không thể làm phép lạ để thoả mãn sự tò mò. Ngài không làm phép lạ để lôi kéo niềm tin.
Đức Giê-su lắc đầu từ chối: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê hương mình.” Lời ngài nói như gáo nước lạnh tạt vào mặt họ. Họ chưng hửng. Thế này là thế nào? Không phải ông ta vưà tuyên bố những điều ngôn sứ I-sai-ya loan báo sẽ được ứng nghiệm hôm nay sao? Nào là người mù được thấy, người áp bức được giải phóng, nào là công bố năm hồng ân xoá nợ. Càng nghe Đức Giê-su nói, họ càng bực tức. Nhất là khi ngài so sánh việc ngôn sứ Ê-li-ya và Ê-li-sha bỏ Is-ra-en đến với dân ngoại để rao giảng và chữa lành. Tự ái đùng đùng nổi lên. Ông này là ai mà dám sỉ nhục chúng tôi chứ? Không lẽ Na-za-rét không đáng để cho ông ta thực hiện những kỳ tích sao?
Lúc đầu họ háo hức chờ đợi mưa móc ân sủng. Họ mong đợi được chúc phúc vì giữa làng quê nhỏ bé của họ đã xuất hiện một ngôn sứ của Thiên Chúa. Vậy mà bây giờ cái ông Giê-su không biết điều này, chẳng những đã không làm gì cho họ, mà còn đem họ so sánh với đám dân ngoại không giữ Luật Thiên Chúa. Từ ngạc nhiên đến thất vọng. Từ thất vọng đến giận dữ. Từ giận dữ đến quyết tâm thua đủ với ngài. Họ lôi ngài ra khỏi hội đường, tính xô ngài xuống vực thẳm. Nhưng, Thánh Kinh thuật lại, ngài vượt qua họ mà đi.
* * * * * *
Bạn thân mến,
Câu chuyện năm xưa có lẽ vẫn còn tái diễn trong cuộc sống của nhiều người trong chúng ta hôm nay. Tôi giữ đạo đàng hoàng, đi lễ đọc kinh sớm tối, công việc nhà thờ năng nổ. Vậy mà khi có chuyện cần, tôi kêu cầu Chúa chẳng nghe. Gia đình tôi lục đục. Vợ đau con ốm chồng thất nghiệp. Đời sống chỉ thấy thất bại khó khăn. Vui ít buồn nhiều. Chúa ở đâu hả Chúa? Tôi chạy đông chạy tây, hành hương chỗ này chỗ nọ, chỉ xin Chúa ban cho một chút ơn để hâm nóng đức tin. Thế mà xin hoài chẳng thấy, cầu mãi chẳng được. Còn mấy người hàng xóm sống bê bối buông tuồng, cả đời chẳng thèm bước chân đến nhà thờ, vậy mà cứ gặp may mắn hoài. Buôn bán thành đạt, công ăn việc làm ngon lành, cuộc sống cứ phây phây thoải mái. Thử hỏi, Chúa có bất công không?
Ít nhiều gì tôi cũng đã có lần mang tâm trạng như dân làng Na-za-rét. Tôi mong Chúa làm một cái gì đó cho tôi. Tôi tìm Chúa ở trong những phép lạ, những kỳ tích. Tôi theo Chúa bằng một cuộc mặc cả đôi co. Chúa cho con cái này đi, con sẽ làm cái nọ cho Chúa. Tôi trả giá kỳ kèo với Chúa. Con theo Chúa bao nhiêu năm, luật Chúa con chẳng bỏ sót, thế mà con lại gặp những chuyện không vui. Cái tâm trạng bất mãn này cũng gần giống như lời phàn nàn của người con cả trong câu chuyện “Người Cha và Hai Người Con” trong tin mừng Lu-ca. Anh ta càu nhàu: “Này cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, thế mà cha chẳng bao giờ cho con một con dê nhỏ để chung vui với bạn bè. Còn thằng con kia của cha, sau khi đã phung phá hết gia tài với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại giết bê béo ăn mừng!” (Lc 15:29-30).
Nhưng khi tâm hồn lắng đọng lại, tôi sẽ thấy được rằng chẳng qua tôi coi Thiên Chúa như ông chủ và tôi là người làm công. Làm công thì phải hưởng cho đáng công! Tệ hơn nữa, đôi lúc tôi coi Thiên Chúa như cái máy bán nước ngọt tự động. Tôi bỏ vào vài đồng cắc, nhấn nút thì một lon nước phải nhảy ra. Nếu lon nước không ra, tôi sẽ đập cái máy đến điên cuồng, vì máy đã hỏng, không cho tôi được cái tôi muốn.
Bài tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta xét lại mối tương quan của mình với Thiên Chúa. Tôi tin vào Lời của Chúa đến mức nào? Tôi đi tìm Chúa hay chỉ đi tìm những phúc lộc của ngài? Và khi tôi không được điều tôi muốn, liệu tôi có xô đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của tôi như dân làng Na-za-rét thưở xưa đã làm không?

Trong niềm tin Ki-tô hữu, phép lạ của cuộc sống chẳng phải kiếm tìm xa xôi. Chúng ta gặp Thiên Chúa ở giữa giòng đời, trong thành công cũng như thất bại, lúc mạnh khoẻ cũng như lúc yếu đau, trong hoan lạc cũng như đau khổ. Thiên Chúa không tỏ mình cho chúng ta bằng những phép thần thông phi thường, nhưng ngài hiện diện với chúng ta trong những phép lạ bình thường của cuộc sống. Hằng ngày tôi có vô vàn cơ hội để nhận biết, tìm kiếm và tận hưởng những món quà ân sủng trong đời thường. Hôm nay tôi có nhận ra ơn Chúa nơi nụ cười của một đứa bé? Nơi công việc bề bộn của sở làm? Trong cái tất bật của dòng xe cộ lúc đi làm? Hay trong cái ấm cúng của bữa ăn tối gia đình? Tôi có thấy ơn Chúa trong lời than vãn của người đồng nghiệp? Trong niềm vui của một bà mẹ mới sinh con? Và trong bức vẽ nguệch ngọac của đứa con lần đầu tiên đến trường?
Nếu tôi đã bỏ qua những cơ hội nhỏ bé để tìm kiếm Thiên Chúa và thấy được phép lạ của sự tỉnh thức, thì ngày hôm nay tôi có thể bắt đầu lại bằng phút hồi tâm cuối ngày.
Tối nay tôi sẽ dành năm bảy phút lắng đọng để nhìn lại trong ngày. Điều gì làm cho tôi vui và phấn khởi hôm nay? Thiên Chúa hiện diện như thế nào trong những khoảnh khắc hạnh phúc đó? Điều gì làm cho tôi nản lòng, lo âu, và sợ hãi trong ngày hôm nay? Tôi có cảm thấy Thiên Chúa hiện diện nâng đỡ và ủi an tôi trong những lúc sầu khổ đó không? Tôi cần ơn gì nơi Chúa cho ngày mai?
Lạy Chúa Giê-su Na-za-rét, xin thêm đức tin cho chúng con để khiêm tốn thấy ngài tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống. Xin cho con biết nhận ra Chúa hiện diện qua những biến cố lớn nhỏ của đời thường. Xin cho con lòng nhẫn nại và quảng đại đón nhận tất cả như hồng ân Chúa ban. Amen.